Hiển thị các bài đăng có nhãn Chia_se_tin_mung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chia_se_tin_mung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2020

Chay4b - Đức ái là luật cao trọng nhất phải tuân giữ



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ I Mùa Chay

(05-02-2020)

Bài đào sâu

Bị cám dỗ ngoài ý muốn
là hồng ân của Thiên Chúa





  TIN MỪNG: Mt 4,1-11

Đức Giêsu chịu cám dỗ




Câu hỏi gợi ý:
1.   Có cám dỗ nào mà ta có chấp nhận cho xảy ra thì nó mới xảy ra không? Có cám dỗ nào ta không muốn mà nó vẫn đến không? Hai loại cám dỗ ấy, có loại nào có lợi hay có hại cho ta không? 
2.   Ý chí tự do của ta đóng vai trò nào khi bị cám dỗ? Ta có chịu trách nhiệm khi chiều theo cơn cám dỗ không? 
3.   Ma quỷ có lợi dụng những gì có trong ta để cám dỗ ta không? Nếu ta không có những thứ ấy thì ma quỷ có còn cám dỗ được ta nữa không?


Suy tư gợi ý:


Trong đời sống tâm linh và đạo đức, chúng ta thường gặp hai loại cám dỗ mà chúng ta cần phân biệt: những cám dỗ mà ta tự cho phép xảy ra, và những cám dỗ hoàn toàn ngoài ý muốn của ta.



1.   Tự cho phép bị cám dỗ là sự liều mình nguy hiểm

Nhiều khi ta bị cám dỗ là do ta tự nguyện hay liều mình chấp nhận để mình bị cám dỗ. Cám dỗ loại này có ý chí tự do của ta tham dự vào. Vì thế, nếu ta thua cơn cám dỗ thì ta phải chịu trách nhiệm nhiều hơn, nghĩa là tội ta nặng hơn. Do đó, nếu tự lượng sức thấy không nắm chắc phần thắng, thì người khôn ngoan không bao giờ liều chấp nhận để mình bị cám dỗ. Chẳng hạn muốn giữ đức khiết tịnh trong đời sống tu trì cũng như đời sống hôn nhân thì không nên tự cho phép mình giao du quá thân mật và tùy tiện với những người khác phái. Tương tự như muốn kiêng ăn thì đừng để những thức ăn thật ngon trước mặt.

Câu chuyện sau đây minh họa vấn đề này: «Hai vị tăng kia khi trở về chùa phải băng qua một dòng suối rộng đầy nước. Lúc đó, trời sắp tối, có một cô gái cũng muốn băng qua suối nhưng không biết làm cách nào vì không có phương tiện. Thấy thế, vị sư già bèn bồng cô gái qua suối. Khi về tới cổng chùa, vị sư trẻ hỏi vị sư già: “Tại sao thầy lại liều mình đụng chạm tới thân thể phụ nữ như vậy? Giới luật chùa đâu cho phép như vậy” Vị sư già trả lời: “Tôi đã bỏ cô gái đó ở ngay bờ suối, tại sao thầy lại đem cô gái về tới tận đây?”».


Vị sư trẻ không dám giúp đỡ cô gái là rất khôn ngoan, vì thầy thấy đó là một sự liều mình nguy hiểm. Nếu thầy đụng chạm tới thân thể cô gái, có thể thầy sẽ phát sinh những tư tưởng không lành mạnh, chẳng những ngay lúc ấy mà còn lâu dài về sau, ảnh hưởng tai hại cho việc tu tập của thầy. Sự sa ngã trong tư tưởng và kết quả tai hại của nó đối với thầy có thể lớn hơn nhiều so với sự thiệt hại của cô gái nếu cô không được giúp đỡ.


Tuy nhiên vị sư già giúp đỡ cô gái như thế cũng rất đúng, vì ông đã già không còn ham muốn nhiều nữa, thêm vào đó, bản lãnh tu tập cũng đã cao, việc thắng lướt cơn cám dỗ là chuyện dễ dàng đối với ông. Vả lại, lòng từ bi đòi hỏi ông phải ra tay giúp đỡ. Vì thế, sự đụng chạm đến thân thể cô gái chẳng làm ông bị thiệt hại gì. Thật vậy, dù ông đã bồng cô gái qua suối, nhưng tư tưởng của ông «đã bỏ cô gái đó ở ngay bờ suối». Còn vị sư trẻ, tuy không đụng chạm đến cô gái, nhưng bằng tư tưởng, thầy đã đem cô gái về tới tận cổng chùa! May mà thầy từ chối giúp đỡ cô gái! Nếu không thì tư tưởng thầy còn đem cô gái về tới tận đâu nữa!?


Không biết xa tránh những cám dỗ, tự tìm cám dỗ cho mình, hoặc liều mình dấn thân vào những hoàn cảnh khiến mình bị cám dỗ… là những hành động thiếu khôn ngoan và rất nguy hiểm. Và những người tự nguyện để chịu cám dỗ như vậy thường là chẳng chóng thì chầy, cũng bị sa chước cám dỗ. Vì hành động như thế chứng tỏ mình đã có một chiều hướng là sẵn sàng chấp nhận phạm tội rồi!




2.   Bị cám dỗ ngoài ý muốn là hồng ân của Thiên Chúa

Tuy nhiên, những cơn cám dỗ hoàn toàn ngoài ý muốn của ta, không do ta mong muốn, lại là những gì cần thiết và ích lợi để ta trưởng thành hơn về tâm linh. Thật vậy, ta phải cám ơn Thiên Chúa đã để ta bị cám dỗ, vì nhờ đó ta mới biết được mình đã yêu Thiên Chúa và thương tha nhân đến mức độ nào, sự thánh thiện của ta được tới đâu. Những cơn cám dỗ giống như những bài trắc nghiệm để chính ta hoặc người khác biết bản lãnh tâm linh ta tới đâu. 

Thật vậy, mặc dù tổ chức những kỳ thi rất tốn kém, nhưng mọi trường học (từ tiểu học đến đại học), mọi quốc gia, đều phải tổ chức các kỳ thi để xác định được trình độ học vấn và tài năng của các học sinh, sinh viên. Điều đó cho thấy việc trắc nghiệm tài năng – tức các kỳ thi – là một nhu cầu cần thiết và tự nhiên trong đời sống con người.


Trong đời sống tâm linh cũng vậy, ai cũng muốn tiến tới trong đời sống tâm linh, nên cần phải có những cơn cám dỗ, là những dịp trắc nghiệm để ta biết bản lãnh và sự tiến triển tâm linh của ta tới đâu, lòng yêu mến Thiên Chúa và thương yêu tha nhân của ta thế nào để tiếp tục tiến tới. Thiên Chúa trắc nghiệm ta không phải để Ngài biết – vì Ngài không cần trắc nghiệm thì cũng đã biết – mà để chính ta và mọi người biết. Con người thực của ta được bày tỏ rõ rệt hơn khi bị cám dỗ. Cuộc đời ông Gióp là một trường hợp điển hình. Thiên Chúa đã biết rõ lòng trung thành của ông, nhưng Ngài muốn ông Gióp chứng tỏ cho chính ông và mọi người thấy sự trung thành ấy (G 1,11-12; 2,5-6).


Nếu ta thật sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, thì mọi cám dỗ đều trở thành những dịp để ta chứng tỏ tình yêu thương ấy và bản lãnh tâm linh của ta. Chỉ những người không có bản lãnh, không có trình độ mới sợ bị trắc nghiệm, vì qua trắc nghiệm họ mới lòi cái dốt, cái kém của họ ra. Vì thế, cần nhìn một cách tích cực về những cơn cám dỗ, đừng nhìn nó như một cái gì tiêu cực. Nếu cám dỗ là một điều xấu, bất lợi cho tâm linh của ta, chắc hẳn Thiên Chúa đã không để nó xảy ra cho ta. Có nhìn tích cực về nó, hiểu được sự cần thiết và ích lợi của nó, ta mới lợi dụng được nó, nó mới trở nên ích lợi cho ta. Vả lại, còn có ơn Chúa luôn giúp ta thắng cám dỗ nữa.




3.   Cơ cấu tâm lý của cám dỗ

Tất cả mọi người, ai cũng đều thấy trong bản thân mình có hai khuynh hướng nội tại ngược chiều nhau:

– Khuynh hướng tốt lôi ta lên để ta trở thành người vị tha, yêu Thiên Chúa và thương tha nhân, sẵn sàng hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân. Người tốt là người để cho lực này thắng thế và càng ngày càng đi lên. Lực này chính là ân sủng của Thiên Chúa nâng đỡ ta.


– Khuynh hướng xấu kéo ta xuống để ta trở thành người ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình và làm lợi cho mình, sẵn sàng hy sinh vinh quang Thiên Chúa và quyền lợi tha nhân cho lợi ích của mình. Người xấu là người để cho lực này thắng thế và càng ngày càng đi xuống. Khi khuynh hướng xấu này đang cố kéo ta xuống, đó chính là lúc ta bị cám dỗ.


Trong hầu hết mọi trường hợp, hai lực đó ngang bằng với nhau. Và chính ý chí tự do của ta là yếu tố quyết định lực nào thắng: vào chính lúc bị giằng co giữa hai lực ấy, ta thật sự muốn ngả theo lực nào thì lực đó sẽ thắng. Chính vì thế ta chịu trách nhiệm về việc ta thắng hay thua cơn cám dỗ.


Khi bị cám dỗ, nếu không sáng suốt, ta sẽ bị đánh lừa vì sự khéo léo ngụy trang của Satan; hắn là tiêu biểu cho khuynh hướng xấu ở trong ta. 


Đối với những người có tham vọng, hắn dùng chính những tham vọng hết sức hấp dẫn ấy để cám dỗ ta: hắn dụ hễ làm theo ý hắn thì ta sẽ đạt được tất cả những gì ta ham muốn. Chẳng hạn đối với bà Eva, hắn khơi lên trong bà tham vọng muốn được bằng Thiên Chúa, và đề nghị thực hiện tham vọng ấy bằng cách ăn trái cấm. 


Đối với những người tương đối đạo đức, Satan thường dùng những chiêu bài thánh thiện để dụ dỗ: chẳng những có lợi cho mình mà còn đúng ý Chúa nữa. Chẳng hạn, khi cám dỗ Đức Giêsu, Satan luôn dùng những câu có thật trong Kinh Thánh để thuyết phục Đức Giêsu, để Ngài lầm tưởng làm theo ý hắn thì không chỉ lợi cho mình mà còn hợp với ý Thiên Chúa nữa. Được cái này lại được luôn cả cái kia thì còn gì khôn ngoan bằng!? Hắn còn có thể sử dụng ngay những nhu cầu hết sức chính đáng của con người – như cái ăn, cái mặc, tiền bạc, nhà cửa – để cám dỗ con người làm theo ý hắn. Chẳng hạn khi Đức Giêsu đói, hắn dụ Ngài sử dụng quyền năng Thiên Chúa để hóa đá thành bánh mà ăn. Hắn khéo léo lắm! Nên phải cẩn thận!


Do đó, nếu ta từ bỏ mọi tham vọng, diệt trừ tham sân si, đừng ham sướng sợ khổ, sẵn sàng chấp nhận nhu cầu của mình không được thỏa mãn, nhất là quyết tâm «từ bỏ chính mình» – tức coi nhẹ «cái tôi» của mình, đừng coi nó quan trọng quá – để có thể «vác thập giá mình mà theo Chúa» (Mt 16,24) thì Satan sẽ khó tìm ra cách để cám dỗ ta.




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, khi Cha để con bị cám dỗ hầu con trưởng thành hơn trong tình yêu và bản lãnh tâm linh, thì Cha luôn ban cho con không chỉ đủ mà còn dư tràn sức mạnh để con chiến thắng cám dỗ. Thánh Phaolô đã từng kinh nghiệm: «Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội» (Rm 5,20). Điều quan trọng để con nhận được sức mạnh và ân sủng đó là con phải tin tưởng vào quyền năng và sự dư tràn của ân sủng và sức mạnh Cha ban. Xin cho con tin tưởng vững chãi vào ân sủng Cha.

Nguyễn Chính Kết



Share:

Chay4a - Giữa luật lệ và tình yêu, điều nào quan trọng hơn?




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 4 Mùa Chay

(22-3-2019)

Giữa luật lệ và tình yêu,
điều nào quan trọng hơn?



ĐỌC LỜI CHÚA

  1Sm 16,1b.6-7.10-13a: (7) Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng.

  Ep 5,8-14: (8) Anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; (9) mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.

  TIN MỪNG: Ga 9,1.6-9.13-16.34-38

Ðức Giêsu chữa một người mù từ thuở mới sinh

(1) Ði ngang qua, Ðức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. (6) Nói xong, Ðức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, (7) rồi bảo anh ta: «Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa. Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được».

(8) Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: «Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?» (9) Có người nói: «Chính hắn đó!» Kẻ khác lại rằng: «Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!» Còn anh ta thì quả quyết: «Chính tôi đây».

(13) Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pharisêu. (14) Nhưng ngày Ðức Giêsu trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sabát. (15) Vậy, các người Pharisêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: «Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy». (16)Trong nhóm Pharisêu, người thì nói: «Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát»; kẻ thì bảo: «Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?» Thế là họ đâm ra chia rẽ. (33) Anh ta nói: «Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì». (34)Họ đối lại: «Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?» Rồi họ trục xuất anh.

(35) Ðức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: «Anh có tin vào Con Người không?» (36) Anh đáp: «Thưa Ngài, Ðấng ấy là ai để tôi tin?» (37) Ðức Giêsu trả lời: «Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây». (38)Anh nói: «Thưa Ngài, tôi tin». Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Luật Môsê do Thiên Chúa ban hành kết án rất nặng những người lỗi luật sabát. Tại sao Ðức Giêsu lại dám chữa bệnh trong ngày lề luật cấm làm việc? Ngài không tuân hành luật lệ chính Chúa Cha ban hành sao? Ngài làm gương xấu chăng? Ngài hành động theo nguyên tắc nào? 
2. Lề luật có phải là mục đích của con người không? Mục đích của lề luật là gì? Giữa mục đích của lề luật và chính lề luật, cái nào trọng hơn? Con người phải thực hiện cái nào?

Suy tư gợi ý:

1.  Ðức Giêsu xem ra không nghiêm chỉnh giữ luật Môsê

Một trong những lý do khiến cho người ta không nhận ra các vị ngôn sứ trong thời đại của mình là các ngôn sứ ấy có vẻ như không sống đúng theo quan niệm triết học, thần học hay đạo đức của người đương thời. Người ta có lý của người ta. Lý của họ căn cứ trên sách vở đàng hoàng, họ cũng «nói có sách, mách có chứng» chứ không phải vô căn cứ. Thật vậy, một trong những điều khiến các kinh sư Do Thái không nhận ra Ðức Giêsu chính là Ðấng Cứu Thế mà họ đang trông chờ, vì họ lý luận: «Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát» (Ga 9,16).

Luật Môsê chỉ định rõ ràng phải thi hành thật nghiêm chỉnh luật nghỉ ngày sabát. Sách Xuất hành viết: «Ngày thứ bảy là ngày sabát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi» (Xh 20,10). Vi phạm ngày sabát là một trọng tội đáng tử hình: «Các ngươi phải giữ ngày sabát, vì đó là ngày thánh đối với các ngươi. Kẻ nào vi phạm điều ấy, thì sẽ bị xử tử; phải, kẻ nào làm việc trong ngày ấy, sẽ bị khai trừ khỏi dân nó» (Xh 31,14; xem 35,2; Ðnl 5,14). Như vậy, theo quan niệm của các kinh sư Do Thái, một người xuất phát từ Thiên Chúa ắt phải tuân giữ luật sabát thậm chí nghiêm chỉnh hơn họ. Nghĩ như thế xem ra rất hợp lý.

Thế mà Ðức Giêsu lại chữa bệnh trong ngày sabát, là điều không được phép làm trong ngày ấy, mà câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay là một điển hình. Dưới mắt các kinh sư Do Thái, Ngài đã vi phạm luật này không phải chỉ có lần này, mà đã rất nhiều lần (xem Mt 12,1-2; 12,12-13; Lc 13,13; 14,3-4; Ga 5,8-11; 9,14). Nếu chiếu theo luật Môsê, Ngài đáng bị tử hình. Vì thế, rất nhiều lần họ tìm cách hãm hại và giết Ngài là để thi hành luật Môsê (xem Mt 12,14; Mc 3,6; 11,8; 12; v. v.)

Ðể tránh hành động theo kiểu các kinh sư Do Thái, nhất là đối với những ngôn sứ của thời đại, chúng ta cần hiểu rõ hơn về lề luật.



2.  Vai trò và giới hạn của lề luật

Trong xã hội cũng như Giáo Hội, không thể không có lề luật. Lề luật làm cho xã hội có tôn ti trật tự, nhờ đó có an ninh, tính mạng, của cải của mọi người được tôn trọng và bảo đảm. Trong tôn giáo, lề luật giúp mọi người thực hiện được lý tưởng của tôn giáo, là bản đồ chỉ dẫn con người tiến bộ trong lãnh vực tâm linh. Nói chung, trong xã hội con người, dù nhỏ bé như gia đình, hội đoàn, hay lớn lao như quốc gia, thế giới, xã hội nào cũng cần có luật lệ.

Tuy nhiên, luật lệ không phải là một cái gì tuyệt đối mà tất cả mọi người phải tuân theo trong tất cả mọi trường hợp. Có những điều còn cao trọng hơn lề luật: đó là tình yêu được phản ánh nơi lương tâm. Theo luân lý Kitô giáo, người Kitô hữu phải coi mệnh lệnh của lương tâm đã được giáo dục của mình hơn cả luật của chính Giáo Hội, và đương nhiên cả luật đời nữa

Luật tối thượng là luật của Thiên Chúa, mà luật của Thiên Chúa có mục đích là thể hiện Tình Yêu Thương, được biểu hiện nơi lương tâm ngay thẳng của con người. Ðối với cá nhân, lương tâm ngay thẳngtiêu chuẩn cuối cùng mà con người phải theo khi có những xung đột giữa các tiêu chuẩn phải theo, trong đó có lề luật. Sách Giáo lý chung viết: «Con người luôn luôn phải vâng theo phán đoán chắc chắn của lương tâm mình» (số 1800).



3.  Luật lệ vì con người, chứ không phải con người vì lề luật

Trong Kitô giáo, luật lệ không phải là những nguyên lý tuyệt đối phải tuân theo, nó chỉ là một phương tiện bất toàn, vì trong nhiều trường hợp, phương tiện này lại đi ngược lại với mục đích

Xin đan cử một trường hợp mà tôi đã từng gặp: 

Một buổi chiều Chúa nhật nọ, một lương y ở một vùng quê rất hiếm thầy thuốc đang chuẩn bị đi lễ Chúa nhật vì sáng ông chưa đi, thì có một bệnh nhân sốt rét đến năn nỉ hết lời xin ông chữa bệnh, vì bệnh thì nặng mà nhà thì quá xa, vả lại trời sắp tối. Nhưng nghĩ tới luật Giáo Hội buộc nặng phải đi dự lễ, ông ta đã quyết liệt từ chối mặc cho người bệnh ra sao thì ra, sau khi đã giải thích rõ lý do là ông phải giữ luật của Giáo Hội. 

Trường hợp này, ông thầy thuốc tuy giữ đúng luật Giáo Hội, nhưng lại hành động ngược lại với cốt tủy và mục đích của lề luật là tinh thần yêu thương (mến Chúa và yêu người)

Một trường hợp khác: luật Chúa đòi hỏi người Kitô hữu phải luôn luôn nói sự thật, vì sự dối trá thường gây thiệt hại cho tha nhân hoặc cho chính mình. Mục đích của luật này là thực hiện đức ái. Nhưng trong một số trường hợp cá biệt (chẳng hạn bí mật quốc gia, hay khi bị kẻ địch điều tra về đồng bạn cùng chiến đấu cho lý tưởng, hay thầy thuốc với bệnh nhân ung thư), lời nói thật có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội, cho ích lợi chung, hay cho người vô tội, thì trong trường hợp đó, việc nói sự thật đi ngược lại với mục đích của luật buộc nói sự thật. Những trường hợp tương tự như thế, người Kitô hữu không nên câu chấp vào lề luật. Chính Đức Giêsu nói: «Ngày sabát (hay lề luật) được làm ra vì con người, chứ không phải là con người được dựng nên vì ngày sabát (hay lề luật)» (Mc 2,27).

Theo thánh Phaolô thì «Lề Luật là thánh và điều răn cũng là thánh, đều đúng và tốt» (Rm 7,12; 1Tm 1,8) vì nó diễn tả ý muốn của Thiên Chúa. Nhưng cũng theo Phaolô, «lề luật không phải được lập ra cho những người công chính» (1Tm 1,9), mà cho những người còn yếu đuối, non nớt về trí huệ, về tâm linh. Vì thế, không thể căn cứ vào việc giữ lề luật nghiêm chỉnh của một người mà cho rằng người ấy là công chính. Thật vậy, thánh Phaolô viết: «Sự công chính không hệ tại việc giữ luật pháp, vì nếu như vậy thì cái chết của Ðức Kitô trở nên vô ích» (Gl 2,21). Sự công chính đòi hỏi một cái gì cao hơn nữa. Về vấn đề này, thánh Phaolô nói rất rõ và rất nhiều: «Không ai được nên công chính trước mặt Thiên Chúa nhờ Lề Luật, đó là điều hiển nhiên, vì người công chính sống bởi đức tin» (Gl 3,11); «Trước nhan Chúa, không người phàm nào được nhìn nhận là công chính vì đã làm những gì Luật dạy. Luật chẳng qua chỉ làm cho người ta ý thức về tội» (Rm 3,20); «Người ta được nên công chính vì tin chứ không phải vì làm những gì luật dạy» (Rm 3,28), v.v.



4.  Sự lợi hại của lề luật

Lề luật có thể là một con dao hai lưỡi: một đằng rất cần thiết và có lợi cho tâm linh, nhưng đằng khác có những bất lợi. Chẳng hạn khi người ta giữ luật một cách hoàn hảo thì họ lại dễ ỷ vào đó để tự hào, kiêu căng, tự cho mình là công chính, như trường hợp người Pharisiêu vào đền thờ cầu nguyện cùng với người thu thuế (xem Lc 18,9-14). Chính sự tự hào đó đã phá đổ tất cả mọi công trình giữ luật của ông. 

Một nhược điểm khác của lề luật là: tuy soi sáng cho tâm trí, nhưng lại không đem lại sức mạnh nội tâm để sống theo sự soi sáng đó. Người ta có thể biết rất rõ lề luật dạy phải làm thế này thế kia, nhưng không vì biết rõ luật mà người ta có động lực thúc đẩy để làm những điều luật đòi buộc, mà lắm khi lại bị thúc đẩy làm những điều trái với Lề Luật. Thánh Phaolô nói lên kinh nghiệm về tình trạng này: «Ðiều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm» (Rm 7,14). Chính vì thế mà người Do Thái, tuy có Lề Luật của Thiên Chúa - tức Luật Môsê - nhưng họ cũng tội lỗi không kém gì dân ngoại (xem Rm 2,17-18.21-24).

Ðiều quan trọng mà người Kitô hữu phải củng cố chính là có tình yêu trong tâm. Trong Kitô giáo, tình yêu chính là mục đích của lề luật: lề luật giúp người ta thể hiện tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tình yêu làm cho người ta nên giống Thiên Chúa, hay nên công chính. Do đó, lề luật chỉ là phương tiện, còn tình yêu mới chính là mục đích

Ðang khi lề luật không phải là một động lực thúc đẩy người ta làm điều thiện, thì tình yêu chính là một động lực rất mạnh. Nếu theo như Phaolô, «lề luật không phải được lập ra cho những người công chính» (1Tm 1,9), thì điều đó có nghĩa là lề luật không được lập nên cho những người có tình yêu đích thực. Người có tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và mọi người thì chỉ cần hành động theo sự đòi hỏi hay thúc đẩy của tình yêu. Chính Ðức Giêsu hành động theo sự thúc đẩy của tình yêu chứ không theo sự soi sáng của lề luật (xem Mt 12,11-12). Thánh Âu Tinh cũng nói: «Cứ yêu đi đã rồi muốn làm gì thì làm» Ama et fac quod vis»)

Người có tình yêu đích thực tự nhiên sẽ làm đúng với lề luật. Và nếu họ có làm gì khác với lề luật, thì trường hợp đó, họ đã làm đúng hơn và cao hơn mức lề luật đòi hỏi.




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, chúng con đang sống trong một thế giới đầy bất công. Tình yêu thúc đẩy chúng con phải làm một cái gì. Nhưng có biết bao nhiêu nguyên tắc hay thông lệ của luân lý, của xã hội, của Giáo Hội, của truyền thống, của tôn giáo ngăn cản chúng con: nào là không được bạo động, không nên dùng sức mạnh, không nên làm chính trị, v.v. Nhưng người cha hay người mẹ sẽ làm gì khi đứa con nhỏ của mình gặp nguy hiểm, đang bị hãm hiếp? Họ sẽ làm theo tình yêu thúc đẩy, hay sẽ theo luật lệ của xã hội? Lạy Cha, chúng con phải làm theo cái gì, theo sự thúc đẩy của tình yêu, của lương tâm, hay theo những nguyên tắc của con người, của xã hội, thậm chí của Giáo Hội , của nhà nước đặt ra? Xin Cha hãy soi sáng cho chúng con. Ý Cha muốn thế nào?

Nguyễn Chính Kết



Bấm vào đây để trở về bài chia sẻ/để đọc bài đào sâu: . 


Share:

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2020

Chay3b - Thờ phượng Thiên Chúa «trong thần khí và sự thật» là gì?




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 3 Mùa Chay

(15-3-2020)

Bài đào sâu

Thờ phượng Thiên Chúa «trong thần khí và sự thật» là gì?



  TIN MỪNG: Ga 4,5-42

Ðức Giêsu tại Samari





Câu hỏi gợi ý:
1. Có thực tại trần gian nào thỏa mãn được những khát vọng vô hạn của con người không? Những thực tại siêu nhiên thì sao? Thực tại nào có thể thỏa mãn những khát vọng của con người để họ được hạnh phúc?

2. Người ta có luôn luôn thật sự gặp gỡ Thiên Chúa trong kinh nguyện, trong thánh lễ, trong các bí tích không? Muốn thật sự gặp gỡ Thiên Chúa phải có những yếu tố nào?

3. Thế nào là thờ phượng, gặp gỡ Thiên Chúa trong thần khí và sự thật?

Suy tư gợi ý:

1.  Khát vọng của con người không bao giờ được thỏa mãn

Khát nước, đó là tình trạng thiếu thốn mà ai cũng đều kinh nghiệm hằng ngày. Khát nước đòi người ta phải uống nước để thỏa mãn cơn khát. Nếu không thỏa mãn, con người sẽ bị cơn khát dằn vặt rất đau khổ. Uống rồi thì hết khát, nhưng chỉ một thời gian (một tiếng hay hai tiếng sau) cơn khát lại trở lại, và cứ thế mãi. Ðói cũng tương tự như khát. 

Ngoài nước uống và thức ăn, con người còn đói khát nhiều chuyện khác: tình cảm, tình yêu, tình dục, tiếng khen, tiền bạc, địa vị, quyền lực, hiểu biết, trở nên hoàn hảo, v.v... Nhưng tất cả những thứ ấy, dù đạt được như lòng mong ước, thì con người cũng chỉ thỏa mãn một thời gian rất ngắn, để rồi lại tiếp tục cảm thấy thiếu thốn. Nếu không tiếp tục thỏa mãn, con người cảm thấy đau khổ. Khi không có chiếc xe đạp, ta cảm thấy thiếu và mong có được chiếc xe đạp. Khi đã có chiếc xe đạp, ta lại thấy thiếu và mong có chiếc gắn máy. Cứ thế, chẳng bao giờ ta hết thiếu thốn, hết đói khát, hay hết khát vọng cả. Hạnh phúc của con người vì thế chỉ luôn luôn tạm thời: được no đủ trong giây lát để rồi lại đói khát triền miên.

Như vậy, con người cứ phải nô lệ cho những cơn khát đủ loại của mình, cứ phải vất vả để tìm đủ cách thỏa mãn chúng. Trong khi tìm cách thỏa mãn chúng, nhiều khi con người phải hy sinh cả gì mình quí nhất: mạng sống, lương tâm, tình cảm vợ chồng, tình nghĩa anh em, v.v... Vì thế, cơn khát này chưa được thỏa mãn thì mình lại gây nên những cơn khát loại khác. Cứ thế mà con người lâm vào vô số những vòng luẩn quẩn trói chặt con người vào đau khổ.



2.  Làm sao để hết khát vọng? để khỏi đau khổ?

Ðức Giêsu nói: «Ai uống nước này, sẽ lại khát» (Ga 4,13). Thật vậy, những cách thỏa mãn khát vọng của con người đều chỉ là tạm thời. Ðược thỏa mãn rồi lại tiếp tục khát vọng. Khát vọng siêu đẳng nhất của con người là muốn có một giải pháp để thỏa mãn vĩnh viễn mọi khát vọng, và không còn phải khát vọng nữa. 

Làm sao có được giải pháp đó trên đời? Ðức Giêsu đã cho ta biết Ngài có giải pháp đó: «Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14). Ngài cho biết giải pháp của Ngài «sẽ trở thành một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» nơi người dùng giải pháp ấy. Có sẵn trong người một mạch nước thì ta sẽ không bao giờ khát nữa, mà trái lại còn có thể làm thỏa mãn cơn khát của người khác. Mạch nước ấy đem lại sự sống đời đời. 

Mạch nước ấy là gì? Là chính Thiên Chúa, được hiện thân thành Ðức Kitô. Chỉ cần thật sự gặp gỡ Thiên Chúa hay Ðức Kitô, ta sẽ có được mạch nước đem lại sự sống ấy ở trong ta. Lịch sử Giáo Hội cho thấy nhờ thật sự gặp được Thiên Chúa, các vị thánh đã được biến đổi hoàn toàn, các ngài cảm thấy hạnh phúc vô biên bất chấp nghịch cảnh, đã yêu thương và có một sức mạnh tinh thần rất lớn để dấn thân và hy sinh cho Thiên Chúa và đồng loại không mệt mỏi. Vậy vấn đề mấu chốt là có thật sự gặp gỡ Thiên Chúa hay Ðức Kitô hay không.



3.  Làm sao để thật sự gặp gỡ Thiên Chúa?

Nhiều khi ta đến để gặp Chúa trong nhà thờ, bằng đọc kinh cầu nguyện, bằng việc dâng thánh lễ, v.v... nhưng ta lại không thật sự gặp được Chúa. Ta cầu nguyện, đi lễ theo thói quen, theo giờ giấc, theo luật buộc, một cách hoàn toàn hình thức. Ta đối diện với Chúa trước nhà tạm, ta rước Chúa vào tận trong lòng mình, nhưng ta vẫn không thật sự gặp Chúa. Cũng như các kinh sĩ Do Thái xưa, họ nói chuyện với Chúa, ở bên cạnh Chúa, đối diện với Chúa, nhưng không gặp Chúa. Cổ nhân có câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng» (Có duyên với nhau thì dù xa ngàn dặm cũng vẫn gặp được nhau, không có duyên với nhau thì dù có mặt đối mặt cũng không gặp nhau)

Như thế, sự gặp gỡ thật sự đòi hỏi phải có duyên với nhau, có sự đồng cảm, sự giống nhau nào đó. Cổ nhân còn nói: «Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu» (Cùng âm thanh thì phụ họa nhau, cùng tính tình, khuynh hướng, tài năng thì tìm gặp nhau). Bản chất của Thiên Chúa là tình yêu (x. 1Ga 4,8.16), nên chỉ những ai biết yêu thương nghĩa là giống Thiên Chúa mới có thể gặp gỡ Thiên Chúa một cách đích thực: «Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa» (1Ga 4,7a-8). Chữ «biết» ở đây có nghĩa là cảm nghiệm, gặp gỡ Thiên Chúa. Vì thế, kẻ gian ác, kẻ ghen ghét, người không biết yêu thương thì không thể gặp được Thiên Chúa.

Ðức Giêsu nói: «Ðã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem» (Ga 4,21). Như vậy, để gặp gỡ Thiên Chúa, thì không gian tức chỗ này chỗ kia không phải là chuyện quan trọng: «Ðấng Tối Cao không ở trong những ngôi nhà do tay người phàm làm ra» (Cv 7,48; 17,24). Ðức Giêsu cũng nói: «Giờ đã đến và chính là lúc này đây những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật» (Ga 4,23). Như vậy, muốn thật sự gặp gỡ Thiên Chúa, ta cũng phải gặp gỡ Ngài «trong thần khí và sự thật».



4.  Gặp gỡ Thiên Chúa «trong thần khí và sự thật»

Ðể giải thích điều này, Ðức Giêsu nói: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24). Nếu Thiên Chúa là thần khí, thì để gặp Ngài, con người cũng phải dùng thần khí của mình tức tâm hồn mình để gặp Ngài. Vì chỉ có thần khí mới gặp được và hòa nhập được với thần khí. Như vậy nghĩa là phải gặp Ngài trong chính tâm hồn mình. Thật vậy, nơi dễ gặp gỡ Thiên Chúa nhất, chính là cung lòng của mỗi người chúng ta

Không gì linh thánh bằng con người, hay tâm hồn con người, vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa (x. St 1,26-27; 9,6; Kn 2,23). Và cũng không nơi nào linh thiêng bằng cung lòng con người: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Ðền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Ðền Thờ ấy chính là anh em» (1Cr 3,17; x. 6,19)

Có gặp được Thiên Chúa ở ngay cung lòng mình, mình mới có thể gặp gỡ Thiên Chúa ở nơi khác, trong Thánh Thể, trong nhà thờ, trong tha nhân, trong thiên nhiên. Thiên Chúa ở ngay cung lòng mình mà mình không gặp được, thì mong gì gặp được Thiên Chúa ở bên ngoài? Thánh ÂuTinh đã từng than thở: «Con đã tìm Chúa ở ngoài con, nên con đã không gặp được Chúa của lòng con» (Confession, cuốn VI, chương 1).

Muốn thật sự gặp gỡ Thiên Chúa, còn phải gặp Ngài «trong sự thật» (Ga 4,24b). Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của sự thật, vì thế, người gian dối, không thành thật với lòng mình, với mọi người, và với Thiên Chúa, thì không thể gặp được Ngài. Như vậy để thật sự gặp được Thiên Chúa, cần phải có một tâm hồn ngay thẳng, thành thật, chân chất, «có nói có, không nói không» (Mt 5,36), không quanh quéo, uẩn khúc. Không thể gặp được Thiên Chúa những người nghĩ một đằng, nói một ngả, hay nói một đằng, làm một nẻo. 

Trong việc thờ phượng Thiên Chúa, nếu hình thức bên ngoài và nội dung bên trong không phù hợp với nhau, thì đó là giả dối. Nếu những lễ nghi tôn giáo bên ngoài không phản ảnh tâm tình thật sự bên trong, thì đó là thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối. Nếu lời kinh mình đọc ngược lại với tâm tình bên trong thì đó là giả dối trong cầu nguyện. Thiên Chúa không thích kiểu thờ phượng hay cầu nguyện như thế.




CẦU NGUYỆN

Tôi nghe thấy tiếng Chúa: «Ðã đến lúc trình độ tâm linh con người phải tiến cao hơn một bậc nữa. Con người không nên thờ phượng Thiên Chúa theo kiểu vụ hình thức, vụ không gian, vụ thời gian, vụ vật chất nữa. Con người cần thờ phượng và gặp gỡ Thiên Chúa bằng thần khí chứ không phải qua vật chất, qua hình thức nữa. Con người cần gặp gỡ Thiên Chúa ngay trong bản thân mình hơn là ở một nơi nào bên ngoài. Con người cần hiểu biết Thiên Chúa theo sự thật, bằng chính bản chất của Ngài hơn là bằng những hiện tượng, danh từ, ngôn ngữ hay cách diễn tả đặc thù của mỗi tôn giáo, mỗi nền văn hóa. Có gặp gỡ Thiên Chúa đích thực, con người mới được biến đổi để trở nên hoàn hảo và hạnh phúc hơn.» 

Nguyễn Chính Kết




Share:

Chay3a - Đức Giêsu là mạch nước hằng sống




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 3 Mùa Chay

(15-3-2020)


Đức Giêsu là mạch nước hằng sống



ĐỌC LỜI CHÚA

  Xh 17,3-7: (3) Ở sa mạc, dân khát nước nên đã kêu trách ông Môsê. Đức Chúa chỉ dạy ông: (6) «Ngươi hãy dùng gậy đập vào tảng đá kia. Từ tảng đá ấy, nước sẽ chảy ra cho dân uống». Ông Môsê đã làm như vậy trước mắt các kỳ mục Ítraen.

  Rm 5,1-2.5-8: (1) Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô. (5) Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.

  TIN MỪNG: Ga 4,5-42

Đức Giêsu tại Samari

(5) Vậy, Người đến một thành xứ Samari, tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. (6) Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.


(7)
Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Đức Giêsu nói với người ấy: «Chị cho tôi xin chút nước uống!» (8) Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. (9) Người phụ nữ Samari liền nói: «Ông là người Dothái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?» Quả thế, người Dothái không được giao thiệp với người Samari. (10) Đức Giêsu trả lời: «Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: «Cho tôi chút nước uống», thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống». (11) Chị ấy nói: «Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? (12) Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Giacóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy». (13) Đức Giêsu trả lời: «Ai uống nước này, sẽ lại khát. (14) Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời».


 (15) Người phụ nữ nói với Đức Giêsu: «Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước. (19b) Tôi thấy ông thật là một ngôn sứ… (20) Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa». (21) Đức Giêsu phán: «Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. (22) Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Dothái. (23) Nhưng giờ đã đến và chính là lúc này đây giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. (24) Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật». (25) Người phụ nữ thưa: «Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự». (26) Đức Giêsu nói: «Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây».

(39) Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu. (40) Vậy, khi đến gặp Người, dân Samari xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. (41) Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa. (42) Họ bảo người phụ nữ: «Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian».




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.   Phụ nữ Samari này là một người không đàng hoàng về luân lý, thế mà Đức Giêsu lại dùng chị để loan báo Tin Mừng cho người Samari, và làm chứng cho Ngài ở nơi họ. Và kết quả rất tốt đẹp. Từ sự kiện này bạn có thể rút ra bài học gì?

2.   Thứ «nước uống rồi lại khát» và thứ «nước uống vào là không bao giờ khát nữa» ám chỉ điều gì?

3.   Hạnh phúc do trần gian đem lại thì thế nào? Có làm con người hạnh phúc lâu bền không? Có phát sinh những «phản tác dụng» không? Muốn có được hạnh phúc lâu bền, đích thực thì phải làm gì?


Suy tư gợi ý:

Bài Tin Mừng hôm nay dài và gồm nhiều chủ đề quan trọng khác nhau. Nhưng khi liên kết với bài đọc 1, ta nhận ra ngay Giáo Hội muốn nói đến chủ đề: Đức Giêsu, nguồn mạch nước hằng sống.


1.  Bối cảnh của bài Tin Mừng

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đến xin nước một phụ nữ Samari. Đây là một điều cấm kỵ đối với người Do Thái: «Người Do Thái không được giao thiệp với người Samari» (Ga 4,9). Vì thế, việc tiếp xúc và xin nước của Ngài khiến cho phụ nữ này ngạc nhiên: «Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?» (Ga 4,9). Cả các tông đồ cũng ngạc nhiên không kém: «Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ Samari» (Ga 4,27). Không phải chỉ một lần mà khá nhiều lần Đức Giêsu đã vượt ra khỏi những quy định của tập tục xã hội, của tôn giáo, khi mà những quy định này đi ngược lại lương tri hay tình yêu tha nhân. Chính trong bối cảnh đặc biệt này, Đức Giêsu đã mặc khải một chân lý quan trọng: Ngài chính là nguồn mạch nước hằng sống.

Lúc Ngài xin chị Samari nước uống là «vào khoảng mười hai giờ trưa» (Ga 4,6), khi các môn đệ Ngài đi mua thức ăn. Chỉ có một mình Ngài với chị. Bình thường các phụ nữ ra giếng chung của làng để múc nước vào ban sáng hoặc ban chiều cho đỡ nắng, riêng chị lại múc vào ban trưa. Đọc tiếp đoạn Tin Mừng ta sẽ biết lý do: chị không phải là một phụ nữ đàng hoàng về mặt luân lý; chị đã có 5 đời chồng và hiện đang sống với một người không phải là chồng mình (x. Ga 4,16-18). Chắc hẳn chị không muốn chường mặt ra vào lúc đông người, sợ phải nghe những lời dị nghị không hay về mình. Thế mà Đức Giêsu lại chọn chị để mặc khải những chân lý quan trọng: việc «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24), nước hằng sống (Ga 4,10b), đồng thời tỏ cho chị biết Ngài chính là Đấng Cứu Thế… Và chị đã trở thành người loan báo Tin Mừng cho cả làng của chị, khiến cho «có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng» (Ga 4,39)

Thật là lạ lùng cách làm việc của Ngài. Ngài không chọn người đàng hoàng, đạo đức để loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Ngài, mà lại chọn một phụ nữ bị mọi người khinh bỉ và coi là tội lỗi. Mà lại hữu hiệu! thế mới tài tình!



2.  Đức Giêsu là mạch nước hằng sống

Nhân việc xin nước, Đức Giêsu đã dùng ý niệm nước để vào đề một cách thật tài tình để mặc khải về nước hằng sống. Nước là một yếu tố tối cần thiết cho sự sống, đến nỗi có thể nói: chỗ nào không có nước thì không thể phát sinh sự sống, và sự sống không thể tồn tại được. Ai cũng phải uống nước mới sống được. Trong cơ thể con người, nước chiếm tới 72% trọng lượng. Nhưng thứ nước vật chất này cứ phải uống hoài, vì «ai uống nước này, sẽ lại khát» (Ga 4,13)

Đức Giêsu đã dựa vào tính chất này của nước vật chất để giới thiệu một thứ nước khác: «Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14). Chị Samari tưởng rằng Ngài muốn nói đến một thứ nước vật chất khác, uống vào thì không còn khát nữa, nhưng không phải. Ngay cả thứ nước trong câu «ai uống nước này, sẽ lại khát» cũng là một thứ nước theo nghĩa bóng.

Con người ai cũng khao khát hạnh phúc, thứ hạnh phúc đích thực và lâu bền. Và người trần, ai cũng đi tìm những phương tiện giúp mình hạnh phúc. Người thì tìm hạnh phúc trong tiền bạc, kẻ tìm trong quyền lực, người khác tìm trong vui thú xác thịt, v.v… Nhưng hạnh phúc tìm được nơi những thứ ấy rất chóng qua, và thường để lại hậu quả là đau khổ. Người nghèo cảm thấy khổ vì thiếu tiền, nên nghĩ rằng phải có nhiều tiền mới hạnh phúc. Nhưng người có tiền lại khổ vì tiền như người ta vẫn nói: «Người giàu cũng khóc», «tiền không đem lại hạnh phúc». Người không con cái thì lấy đấy làm khổ và cho rằng phải có con mới hạnh phúc được; đến khi có con thì lại khổ vì con, do nó bất hiếu, hư đốn, bệnh tật, hoặc nó không theo ý mình. Vì thế, chẳng mấy ai trên đời được hạnh phúc. Thứ hạnh phúc mà trần gian này cung cấp toàn là như vậy: hạnh phúc đấy, mà đau khổ cũng đấy! Nhiều điều của trần gian hôm trước đem lại hạnh phúc thì ngay hôm sau đã đem lại đau khổ!

Trần gian chỉ có thể cung cấp cho ta thứ hạnh phúc ấy: thứ hạnh phúc không thể thỏa mãn được lòng khao khát vô tận của con người, thứ hạnh phúc kiểu «uống rồi lại khát» (Ga 4,13). Nhưng Đức Giêsu giới thiệu một thứ hạnh phúc mà Ngài có thể cung cấp là thứ hạnh phúc theo kiểu «uống vào sẽ không bao giờ khát nữa» (Ga 4,14). Đó không phải là một cái gì vật chất có thể trao được, mà là một lối sống, một con đường sống, một tinh thần sống phải đem ra thực hành

Đó chính là sứ điệp Tin Mừng mà Ngài đã rao giảng và đã sống trọn vẹn suốt đời Ngài. Rất nhiều người thật sự sống theo sứ điệp này đã cảm thấy hạnh phúc thật sự, thứ hạnh phúc không ai lấy mất được, cho dẫu họ có phải sống trong nghèo đói, túng thiếu, tù tội, tra tấn, hay bị gạt ra ngoài lề xã hội. Và người nào đã có được thứ hạnh phúc ấy, thì một cách tất yếu người ấy sẽ trở thành «một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14).

Chúng ta đã theo Đức Giêsu bao năm rồi? Nhưng chúng ta đã thật sự hạnh phúc chưa? Nếu chưa, thiết tưởng chúng ta cần phải xét lại và thay đổi cách theo Ngài của chúng ta. Có thể ta chưa hiểu được đúng đường lối của Ngài, hay chưa có được tinh thần của Ngài, hay chưa thật sự sống đúng đường lối của Ngài. Biết bao người đã theo Ngài và đã cảm thấy thật sự hạnh phúc suốt cuộc đời trần gian đầy biến động này. Vậy tại sao ta chưa hạnh phúc?




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, để sống được, con người cần có không khí để thở, có ánh sáng để nhìn thấy, có nước để uống, có lương thực để ăn… Đức Giêsu đã cung cấp tất cả những thứ đó cho chúng con để đời sống tâm linh của chúng con tồn tại và phát triển. Ngài đã cho chúng con khí để thở là Thánh Thần, và chính Ngài là ánh sáng, là mạch nước và là lương thực cho sự sống của chúng con. Ngài cũng chính là đường đi dẫn chúng con đến với Cha, và cũng chính là sự sống của chúng con (x. Ga 14,6). Xin cho chúng con biết sống bằng chính Đức Giêsu như Cha hằng mong muốn và cung cấp cho chúng con.


Share:

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020

Chay2b - Hành trình và sự thành tựu của đức tin




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ Mùa Chay

(08-02-2020)

Bài đào sâu

Hành trình và sự thành tựu của đức tin



  TIN MỪNG: Mt 17,1-9

Đức Giêsu hiển dung



Câu hỏi gợi ý:
1.   Việc biến hình của Đức Giêsu xảy ra sau những sự kiện liên tiếp nhau: Phêrô tuyên xưng đức tin, Đức Giêsu báo trước cuộc tử nạn và nói ra những điều kiện để theo Ngài. Điều đó có ý nghĩa gì?

2.   Sự biến hình của Đức Giêsu có phải là một hứa hẹn cho sự biến hình của ta không? Ta có thể được biến đổi từ một con người yếu đuối, khiếm khuyết hiện tại thành một con người mới mạnh mẽ, thánh thiện trong tương lai, như một con sâu xấu xí biến thành một con bướm đẹp rực rỡ không? Muốn thế, ta phải làm gì?

Suy tư gợi ý:

Trong Tin Mừng Mátthêu, ta thấy có 4 sự kiện xảy ra liên tiếp nhau. 

• Trước hết, Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (x. Mt 16,13-20)
• Kế đến Ngài báo trước cho ông và các môn đệ cuộc tử nạn thảm thương của Ngài (x. Mt 16,21-23)
• Rồi Ngài cho các ông biết những điều kiện phải có để có thể theo Ngài (x. Mt 16,24-28)
• Và cuối cùng Ngài tỏ thiên tính và vinh quang của Ngài ra cho ông và 2 môn đệ thân tín khác của Ngài (Mt 17,1-9)

Không phải vô tình mà 4 sự kiện ấy xảy ra liên tiếp như vậy. Đó là một trình tự đầy ý nghĩa, cho chúng ta thấy một hành trình phải trải qua để người Kitô hữu trưởng thành trong đời sống tâm linh.



1.  Thành hình đức tin

Những người sống đồng thời với Đức Giêsu, được nghe biết bao lời giảng dạy đầy quyền uy và khôn ngoan của Ngài, được chứng kiến bao điều lạ lùng Ngài làm, nhưng nhiều người không tin Ngài, tuy nhiên cũng có một số người tin Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế. Phêrô là một trong những người tin vào Ngài vững chắc nhất.

Trong số những người tin, có những người tin do tính dễ tin của họ: ai nói gì cũng tin, vì họ ít suy nghĩ, ít khả năng suy xét, phán đoán. Niềm tin của họ vì thế không có nền tảng vững chắc, do đó họ cũng dễ dàng mất đức tin khi nghe những người có uy tín nói hay lý luận ngược lại. Có những người tin rất vững chắc mặc dù họ không phải là người dễ tin, thậm chí còn rất khó tin nữa: họ tin vì họ biết suy nghĩ, nhận định, phán đoán, biết thực nghiệm đức tin.

Ngoài những lý do siêu nhiên là ơn Chúa ban, đức tin còn tùy thuộc vào lương tri và sự yêu mến chân lý hơn là vào trình độ học thức hay văn hóa. Trong đời sống tâm linh, người có lương tri và lòng chân thành thường phán đoán chính xác và đúng đắn hơn người chỉ có trình độ học thức hay văn hóa, cho dù là học thức về tôn giáo. Thật vậy, giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái có trình độ học thức và giáo lý cao hơn Phêrô các các tông đồ rất nhiều, nhưng họ không tin Đức Giêsu. Vì càng cậy vào trình độ văn hóa hay giáo lý hơn là vào lương tri, thì chính trình độ ấy nhiều khi lại càng cản trở họ tin hơn. Đương nhiên đức tin luôn luôn là kết quả của ơn Chúa luôn sẵn sàng ban trên mọi người, nhưng có lãnh nhận được ơn Chúa hay không lại tùy thuộc rất nhiều vào lòng khiêm tốn và chân thành, là hai yếu tố quan trọng của lương tri con người.

Tuy nhiên, đức tin ban đầu thường pha trộn nhiều ảo tưởng và tham vọng. Chẳng hạn như Phêrô, khi tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa (x. Mt 16,13-20), là Đấng Cứu Thế, thì Đấng Cứu Thế ấy là một Đấng Cứu Thế theo quan niệm đầy ảo tưởng của ông: Ngài sẽ giải phóng dân tộc, rồi làm vua, và ông sẽ là một cận thần của Ngài, một vị quan lớn trong triều đình. Một đức tin như vậy cần phải được tinh luyện, như vàng quặng phải được tinh luyện thành vàng ròng mới có giá trị.



2.  Tinh luyện đức tin

Phêrô tưởng tin vào Đức Giêsu thì sau này mình sẽ trở thành một nhận vật tên tuổi, «cái tôi» của ông sẽ được phình to lên trước mặt mọi người. Vì ông tin rằng Đức Giêsu, Thầy mình, sẽ làm vua ở trần gian. Nhưng Đức Giêsu phá đổ ảo tưởng đó để đức tin của ông trở nên thực tế và tinh ròng hơn. Ngài tiên báo rằng Ngài sẽ bị bắt, bị tra tấn, và sẽ chết cách nhục nhã. Điều này khiến Phêrô ban đầu không hiểu và không chấp nhận được, vì như thế, mọi ảo tưởng của ông đều mất chỗ dựa và sụp đổ. Nhưng đó là quá trình phải trải qua của đức tin để trở thành một đức tin trưởng thành. Qua sự dạy dỗ, Đức Giêsu đã biến đức tin của ông thành tinh ròng, đúng đắn, vị tha, một đức tin trưởng thành, đầy sức mạnh. Chỉ với đức tin đó ông mới có thể thành nền tảng cho Giáo Hội mà Đức Giêsu thiết lập.

Cũng vậy, nơi mọi người, đức tin ban đầu rất thường pha trộn với ít nhiều ảo tưởng, sai lầm, mê tín, và vị kỷ. Ban đầu người ta thường tưởng đức tin sẽ đem lại cho họ những thuận lợi cho cuộc đời họ, giúp họ thực hiện những mơ ước hay tham vọng trần tục vị kỷ của họ. Dẫu vậy, Thiên Chúa vẫn chấp nhận thứ đức tin ấy, và Ngài biến đổi nó, miễn là người ta trung thành với Ngài. Sẽ có những lúc vì đức tin mà họ bị mất mát, thiệt thòi, bị bách hại, đau khổ. Sẽ có lúc đức tin bị thử thách vì những tai họa, bệnh hoạn, nghịch cảnh… Và đức tin dường như chẳng đem lại cho người ta những thuận lợi của trần gian. Những mối phúc mà Đức Giêsu hứa cho những người thực hành niềm tin nơi Ngài toàn là những gì mà thế gian cho là bất lợi: nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khao khát công chính, biết thương xót người, trong sạch, hòa bình, bị bách hại… (x. Mt 5,1-12). Đây là giai đoạn thanh luyện đức tin, gột bỏ những gì là tham vọng, ảo tưởng, sai lầm trong đức tin.



3.  Thực thi đức tin

Sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin rất mạnh mẽ, Ngài liền phá đổ các ảo tưởng trong đức tin của ông bằng việc báo trước cuộc tử nạn của Ngài. Tiếp đến, Ngài lột bỏ tính cách vị kỷ trong đức tin của ông, bằng cách đòi hỏi ông và những ai tin theo Ngài phải từ bỏ con người vị kỷ của mình: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy» (Mt 16,24-25). Từ bỏ con người vị kỷ là coi nhẹ «cái tôi» của mình, sẵn sàng chấp nhận đau khổ, thậm chí mất tất cả, kể cả mạng sống mình vì tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Đức tin vị kỷ ban đầu phải trở thành đức tin vị tha: nghĩa là phải vì vinh quang của Thiên Chúa và hạnh phúc của đồng loại.

Đây chính là giai đoạn thực thi đức tin trong đời sống cụ thể của con người. Nó hoàn thành việc tinh luyện đức tin. Đức tin phải thể hiện thành đời sống, thành cách suy nghĩ, cách nói năng, cách phản ứng, cách đối xử, cách hành động… Nếu không, đó chỉ là đức tin giả hiệu, mà thánh Giacôbê còn gọi là «đức tin chết» (Gc 2,17.26). Thỉnh thoảng chúng ta nên nghiêm túc xét lại xem đức tin của mình là loại đức tin nào? sống hay chết, đích thực hay giả hiệu?



4.  Thành tựu của đức tin

Một đức tin đích thực, trưởng thành và vị tha như thế sẽ dẫn ta tới đâu? Sau khi đòi hỏi Phêrô và các môn đệ khác phải «từ bỏ chính mình», «vác thập giá mình» vì đức tin, Đức Giêsu cho ông và hai môn đệ thân tín khác – là ba người tin vào Ngài vững mạnh nhất – thấy thiên tính và sự vinh quang của Ngài khi Ngài biến hình trên núi. Qua việc biến hình này, trước hết Ngài cho các ông thấy niềm tin của họ vào Ngài là chính xác, và họ không hề tin lầm: Ngài chính là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa đúng như Phêrô đã tin và tuyên xưng. Kế đến Ngài cho các ông thấy, một cách biểu tượng, phần thưởng vĩ đại cho đức tin trưởng thành của các ông, một đức tin đã được thử thách và tinh luyện. Phần thưởng vĩ đại ấy không phải thứ vinh quang trần tục chóng qua mà các ông từng mong đợi được hưởng ở đời này, mà là thứ vinh quang thần linh và vĩnh cửu của Ngài mà các ông sẽ được dự phần vào như Môsê và Êlia.

So với vinh quang vĩ đại ấy, những gì ông hy sinh từ bỏ ở đời này chẳng đáng vào đâu: «Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (Rm 8,18). Vinh quang đó không chỉ được mặc khải cho chúng ta – những kẻ tin vào Ngài – mà là nơi chúng ta; nghĩa là vinh quang đó là của chúng ta, được thể hiện ngay trong bản thân chúng ta.

Đó là quá trình phải trải qua của đức tin mỗi người, từ khi thành hình đến khi thành tựu viên mãn. Mỗi Kitô hữu hãy tự hỏi: đức tin của mình đang ở giai đoạn nào? đã được tinh luyện bằng gian nan thử thách để trở nên trưởng thành chưa? khi đức tin bị thử thách, thái độ của ta thế nào?



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, vàng ban đầu ở dạng quặng bao giờ cũng phải được tinh luyện mới thành vàng ròng, đức tin của con – cũng như của Phêrô và các tông đồ xưa – cần phải được tinh luyện mới trở nên tinh tuyền, mới có giá trị. Xin cho con biết kiên trì khi đức tin được tinh luyện, thử thách, nhất là cho con biết tích cực góp phần chủ động của mình trong việc tinh luyện này. Bằng cách sống đức tin trong đời thường qua việc «từ bỏ mình», coi nhẹ «cái tôi» của mình và những gì của mình, để thật sự «vác thập giá mình» mà theo Đức Giêsu. Để rồi chính con sẽ được biến hình – như một con sâu biến thành con bướm – từ con người cũ thành con người mới, từ con người tự nhiên thành con người siêu nhiên.


Share: