Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuong_Nien. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuong_Nien. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

Lễ Tro 1 - Ăn chay cách đẹp lòng Thiên Chúa chủ yếu hệ tại tâm tình yêu thương ở bên trong tâm hồn



CHIA SẺ TIN MỪNG

Thứ Tư Lễ Tro

(26-02-2020)

Ăn chay cách đẹp lòng Thiên Chúa
chủ yếu hệ tại tâm tình yêu thương
ở bên trong tâm hồn

ĐỌC LỜI CHÚA

  Ge 2,12-18: (12) Đây là sấm ngôn của Đức Chúa: «Nhưng ngay cả lúc này, các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van». (13) Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương.

  2Cr 5,20–6,2: (20) Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa(21) Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.


  TIN MỪNG: Mt 6,1-6.16-18

Bố thí cách kín đáo

(1) «Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. (2) Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. (3) Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, (4) để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

Cầu nguyện nơi kín đáo

(5) «Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. (6) Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.


Ăn chay cách kín đáo

(16) «Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. (17) Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, (18) để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh».



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Trong các tôn giáo, đặc biệt trong Kitô giáo, ăn chay có những ý nghĩa và tác dụng nào? 
2.   Ăn chay như thế nào mới đẹp lòng Thiên Chúa? Mới đem lại ích lợi đích thực cho tâm linh ta? Hình thức ăn chay và tinh thần chay tịnh, cái nào quan trọng hơn? 
3.   Tại sao nên ăn chay và cầu nguyện một cách kín đáo?

Suy tư gợi ý:

1.  Ăn chay trong đời sống tâm linh và tôn giáo

Bất kỳ tôn giáo nào cũng đề cao việc ăn chay và cầu nguyện, vì ăn chay và cầu nguyện có nhiều tác dụng tốt đẹp về mặt tâm linh.

a. Trước hết, ăn chay -thường đi đôi với hãm mình- là để tỏ lòng thống hối và đền tội, làm hòa với Thiên Chúa, quyết tâm trở về với đường ngay nẻo chính, với công lý và tình thương. Câu chuyện thành Ninivê là một điển hình (x. Gn 3,1-10). Ðây là một thành phố tội lỗi, Thiên Chúa dự định trừng phạt bằng cách phá hủy thành. Dân thành biết vậy nên đồng lòng ăn chay và quyết tâm thống hối. Vì thế, Thiên Chúa đã hủy bỏ dự định phá hủy thành ấy.

b. Ăn chay - phối hợp với những việc thực thi công bình và bác ái - là một cách thể hiện lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, muốn chia sẻ những nỗi thống khổ mà Ðức Giêsu hay người nghèo, người bị áp bức phải chịu. Ðây là một việc làm rất đẹp lòng Thiên Chúa. Người ăn chay nên dùng tiền tiết kiệm được do việc ăn chay để thực hành đức ái: giúp đỡ người nghèo túng, ủng hộ những việc làm từ thiện, những công trình cải thiện xã hội hoặc Giáo Hội.

c. Ăn chay - phối hợp với cầu nguyện, tĩnh tâm, chiêm niệm - để có một sức mạnh tâm linh. Khi ăn chay, ta phải chống lại sự đòi hỏi của bản năng thèm ăn, nhờ đó sự tự chủ lên cao, sức mạnh tâm linh cũng tăng lên. Ăn chay cũng lôi kéo ơn Chúa và sức mạnh thần linh xuống trên ta. Nhờ đó ta có thể thực hiện những việc làm hay những tiến bộ về tâm linh. Ðiều đó được Ðức Giêsu đề cập đến qua câu nói: «Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay cầu nguyện» (Mt 17,21). Vì để trừ quỉ, cần có một sức mạnh tâm linh rất cao, tức sự thánh thiện, và để đạt được sức mạnh ấy, ăn chay cầu nguyện là một phương cách hữu hiệu.

Chính Ðức Giêsu đã ăn chay 40 đêm ngày trước khi bắt đầu cuộc đời công khai của mình. Ðó là một mẫu gương cho ta: khi bắt đầu thực hiện hay quyết định một việc gì quan trọng về tâm linh, ta nên ăn chay và cầu nguyện để được nhiều ơn Chúa hầu quyết định sáng suốt và thực hiện công việc có hiệu quả.



2.  Tinh thần chay tịnh

Cốt yếu của việc ăn chay không nằm trong việc nhịn ăn, kiêng ăn hay ăn ít đi, mà nằm trong tinh thần mà việc ăn chay muốn biểu lộ. Ăn chay chỉ là một hình thức cụ thể để biểu lộ tâm tình bên trong: thống hối, muốn đền tội, quyết tâm trở về với Thiên Chúa, hay muốn thể hiện tinh thần bác ái, thông cảm với những người đau khổ, hay muốn tăng cường sức mạnh tâm linh. Nếu không có những tâm tình bên trong ấy làm nội dung, thì việc ăn chay chỉ là một hình thức trống rỗng, không có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Ngôn sứ Giêrêmia cho biết Thiên Chúa không đoái hoài đến việc ăn chay theo kiểu thuần hình thức ấy: «Chúng có ăn chay, cầu khẩn, Ta cũng chẳng thèm nghe tiếng; có dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm, Ta cũng chẳng tỏ lòng xót thương» (Gr 14,12).

Như vậy, ăn chay cốt yếu là một việc làm trong nội tâm, không ai thấy được hơn là việc thể hiện ra bên ngoài ai cũng thấy được. Ngôn sứ Giôen trong bài đọc 1 hôm nay cũng nhấn mạnh đến cái cốt tủy bên trong của việc chay tịnh: «Ðừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Ðức Chúa là Thiên Chúa của anh em» (Ge 2,13). Ðiều quan trọng là trở về với Thiên Chúa hơn là ăn chay bên ngoài.

Ngôn sứ Isaia lại nhấn mạnh đến cốt lõi của việc ăn chay là tinh thần yêu thương và tôn trọng công lý, chứ không phải là hình thức khổ chế bên ngoài: «Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn. Chính ngày các ngươi muốn ăn chay để tiếng các ngươi kêu thấu trời cao thẳm, thì các ngươi lại ăn chay không đúng cách. Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Ðức Chúa? Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?» (Is 58,3-7)

Như vậy, ăn chay bằng những việc làm bác ái, bằng việc lên tiếng cho công lý, để đập tan những bất công, để bênh vực kẻ nghèo khổ, sống ngoài lề xã hội, những kẻ bị áp bức, thì thực tế và đẹp lòng Thiên Chúa hơn là việc nhịn ăn một cách hình thức.

Nói như thế không có nghĩa là không cần ăn chay mà chỉ cần đối xử với nhau cho có tình nghĩa, hay chỉ cần thực hiện công lý và bác ái thôi. Thiên Chúa muốn rằng «các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ» (Mt 23,23). Vì hình thức và nội dung phải đi đôi với nhau: hình thức đòi buộc phải có nội dung, nhưng nội dung cũng đòi hỏi phải có hình thức. Vì thế, khi ăn chay, chúng ta vừa nhịn ăn hoặc ăn ít để thực hiện mặt hình thức, mà vừa phải có những tâm tình thâm sâu bên trong, được thể hiện cụ thể bằng việc thực thi công bằng và bác ái để thực hiện mặt nội dung.



3.  Ăn chay và cầu nguyện một mình với Thiên Chúa

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu nhấn mạnh đến sự kín đáo khi ăn chay và cầu nguyện. Ăn chay và cầu nguyện là những hành vi đối thoại với Thiên Chúa, vì thế, nó cần được thực hiện một cách riêng tư, trong thầm lặng với Ngài. Nó củng cố tình thân hay sự thân mật giữa ta với Thiên Chúa. Thật ngược đời và quái dị nếu sự thân mật riêng tư giữa vợ chồng hay bạn bè với nhau lại được phơi bày ra trước mặt mọi người. Cũng vậy, sự thân mật riêng tư giữa ta với Thiên Chúa thì chỉ nên giữa Thiên Chúa với ta biết với nhau, không nên cố ý thực hiện trước công chúng để ai cũng biết. Cố ý ăn chay và cầu nguyện trước mặt mọi người thì đó không còn là sự đối thoại thật sự với Thiên Chúa nữa, mà nó đã bị biến chất thành một hành vi đóng kịch. Như thế có khác gì hai người hôn nhau để người khác chụp hình.

Càng muốn cho mọi người thấy tình yêu riêng tư của mình thì tình yêu ấy chỉ là tình yêu biểu diễn, có vẻ yêu thương, mang nặng tính hình thức và giả dối, chứ không phải tình yêu đích thực. Chỉ những người đạo đức giả mới thích biểu diễn việc ăn chay và cầu nguyện của mình trước mặt người khác (x. Mt 6,1-2).  Trái với tinh thần giả hình ấy, Ðức Giêsu khuyên ta nên cố ý dấu không cho người khác biết mình ăn chay, thậm chí nên đánh lạc hướng để người khác không thể đoán ra hay nghi ngờ mình ăn chay: «Khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo» (Mt 6,17-18).




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, hôm nay là ngày mở đầu mùa Chay, Cha muốn con ăn chay trong mùa này như thế nào? Suy gẫm lời của ngôn sứ Isaia, con biết rằng lối ăn chay mà Cha thích nhất nơi con, đó là con biết quan tâm đến hạnh phúc và đau khổ của tha nhân, đến những vấn đề xã hội, đến những người nghèo khổ, người bị áp bức chung quanh con. Cha muốn con ăn chay bằng cách làm một điều gì đó thật cụ thể và thực tế để những người đang đau khổ ấy được hạnh phúc hơn, giảm được phần nào đau khổ của mình. Cha muốn con ăn chay bằng cách nỗ lực làm cho xã hội trở nên công bằng và tốt đẹp hơn, bằng sự lên tiếng, can thiệp, hỗ trợ. trong khả năng của mình. Xin cho con quảng đại và can đảm thực thi tinh thần ăn chay ấy trong mùa chay này, để chuẩn bị đón mừng mầu nhiệm Vượt Qua của Ðức Giêsu, Con Cha trong những tháng sắp tới. Amen.


Share:

Lễ Tro 2 - Hãy yêu Thiên Chúa và tha nhân bằng một tình yêu đích thực



CHIA SẺ TIN MỪNG

Thứ Tư Lễ Tro

(26-02-2020)

Bài đào sâu

Hãy yêu Thiên Chúa và tha nhân
bằng một tình yêu đích thực





  TIN MỪNG: Mt 6,1-6,16-18


Câu hỏi gợi ý:
1.   Khi làm điều gì tốt đẹp mà ta muốn mọi người đều biết, thì mục đích của ta là gì? Như vậy, ta làm điều đó vì ta, hay vì Thiên Chúa? 
2.   Nếu ta làm điều gì tốt đẹp mà ta chỉ muốn một mình Thiên Chúa biết thôi –vì nếu để mọi người biết thì ta không còn công nghiệp gì trước mặt Thiên Chúa– hầu Thiên Chúa trả công cho ta, ân thưởng ta, thì ta làm điều đó là vì ta, hay vì yêu mến Thiên Chúa? 
3.   Người con hiếu thảo với cha mẹ, khi làm điều gì cho cha mẹ, có mong cha mẹ trả công cho mình không? Nếu mong cha mẹ trả công thì ta hành xử có khác gì một người thợ làm thuê không? Cũng vậy, người yêu mến Thiên Chúa thật sự có mong Ngài trả công cho những gì mình làm vì Ngài không?

Suy tư gợi ý:

1.  Hai khuynh hướng tâm lý

Trong đời sống gia đình và xã hội, ai cũng đều đối diện với hai thực tại căn bản này, là «mình» và «người khác». Dựa trên hai thực tại căn bản này, người ta có hai khuynh hướng tâm lý khác nhau:

– Khuynh hướng vị kỷ: coi «cái tôi» của mình là quan trọng, là trên hết, là mục đích cho mọi hoạt động của mình. Vì thế, cũng coi hạnh phúc hay đau khổ của mình, ý kiến hay ước muốn của mình là quan trọng. 

Tính vị kỷ có thể là thô thiển mà cũng có thể rất vi tế. Người vị kỷ cách thô thiển thì ai cũng nhìn vào cũng thấy họ vị kỷ, vì họ chỉ làm những gì trực tiếp có lợi cho họ mà thôi. Còn người vị kỷ cách tinh vi là người dấu kỹ bản tính vị kỷ của mình dưới vẻ bên ngoài vị tha. Người ta thấy họ hy sinh cho người khác khá nhiều, nhưng thật ra nếu có hy sinh cho người khác thì họ cũng đều nhắm sự hy sinh ấy cuối cùng phải có lợi cho mình thì mình mới hy sinh.

– Khuynh hướng vị tha: coi người khác và sự đau khổ hay hạnh phúc của người khác là quan trọng; ngược lại, coi bản thân mình và đau khổ hay hạnh phúc của mình không quan trọng bằng. Vì thế, người có khuynh hướng vị tha sẵn sàng hy sinh cho tha nhân một cách vô vị lợi.



2.  Hai thứ tình yêu

Từ hai khuynh hướng căn bản trên phát sinh hai thứ tình yêu: tình yêu vị kỷtình yêu vị tha.

– Tình yêu vị kỷ là một tình cảm hướng đến người khác nhưng cuối cùng lại quy về chính mình. Người đời, ai cũng bị hấp dẫn bởi những cái hay, cái đẹp, cái có lợi cho mình nơi sự vật hoặc nơi người khác, khiến cho mình thích thưởng thức cái hay, đẹp, có lợi ấy để được vui thú, hạnh phúc hơn. Tình yêu vị kỷ là sự gắn bó với một vật hay một người để có thể thưởng thức cái hay, đẹp, có lợi cho mình nơi vật hay người đó. Chẳng hạn, ta thích tiếng hót của một con chim vì nó làm ta thích thú, quên đi sầu não. Vì thế, ta nuôi nó, trìu mến nó, vì nó có lợi cho ta. Chung quy ta gắn bó với nó cũng vì nhu cầu của hay hạnh phúc của ta. Khi ta yêu một người chỉ vì người ấy đẹp, người ấy dễ thương, vì ở bên người ấy thì ta dễ chịu, thoải mái, và vì người ấy thỏa mãn được một số nhu cầu (tình cảm, kinh tế, v.v…) của ta. Tình yêu đó là một tình yêu vị kỷ.

– Tình yêu vị tha là một sự dấn thân của ý chí tự do hơn là một tình cảm tự nhiên. Nó là sự thúc đẩy của lương tri, của lương tâm khiến ta gắn bó và hy sinh cho một đối tượng nào đó. Đối tượng này có thể không có được những cái hay, cái đẹp, cái có lợi cho ta. Và ta yêu họ không phải chỉ vì những cái hay, cái đẹp, cái có lợi ấy. Thậm chí họ có thể là cái gì bất lợi cho ta, làm hại ta. Ta yêu họ chỉ vì ta nhận thức được họ là hình ảnh hay hiện thân của Thiên Chúa, cũng là «cái tôi nối dài» của ta trong Nhiệm Thể của Thiên Chúa. Sự hy sinh của ta cho họ là vô vị lợi, vì hạnh phúc của họ chứ không phải của ta. Đó mới chính là tình yêu mà Thiên Chúa muốn ta có. Và với tình yêu này thì yêu tha nhân cũng chính là yêu Thiên Chúa.



3.  Hai khuynh hướng đạo đức

Từ hai thực tại căn bản nói trên –là «mình» và «người khác»– và từ hai thứ tình yêu nói trên, phát xuất ra hai khuynh hướng đạo đức khác nhau: đạo đức vị kỷđạo đức vị tha.

– Đạo đức vị kỷ là thứ đạo đức của người có khuynh hướng vị kỷ, và có tình yêu vị kỷ. Mọi việc làm đạo đức của họ đều lấy chính họ làm mục đích. Họ chỉ làm những việc tốt đẹp khi nào việc ấy có lợi cho họ, cho hạnh phúc của họ, hoặc ở đời này hoặc ở đời sau. Họ phải «yêu Chúa», «yêu tha nhân» –tạm gọi như vậy– vì luật Chúa đòi hỏi như vậy: nếu không yêu Chúa, không yêu tha nhân thì không được lên thiên đàng. Làm việc gì thì họ cũng đều phải nghĩ đến chuyện Chúa sẽ trả công bội hậu cho công việc ấy, ở đời này hoặc đời sau. Nếu Chúa mà không trả công thì làm làm gì cho mệt? Đó là những người đạo đức vị kỷ kiểu vi tế.

Còn những người đạo đức vị kỷ kiểu thô thiển thì họ thực tế hơn nhiều, họ không nhắm Chúa trả công cho bằng được người khác hay được mọi người «trả công». Chẳng hạn khi làm một việc tốt lành nào thì họ muốn mọi người đều biết để khen ngợi, nể phục họ, để họ được tiếng là thánh thiện, đạo đức, tốt lành, nhân hậu, biết thương người, v.v… Nhờ vậy, họ có uy tín trước mặt người đời, được mọi người trọng vọng, và có thể vì thế mà họ được nhiều cái lợi khác về mặt xã hội: làm ăn dễ dàng hơn, dễ thăng quan tiến chức, dễ có những địa vị cao ngoài xã hội, trong Giáo Hội. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu mô tả thứ đạo đức này và khuyên ta nên vượt lên trên.

Tóm lại, người đạo đức vị kỷ kiểu thô thiển hay vi tế, trong các hoạt động của họ, đều không thể có một động lực nào khác hơn lợi ích của chính bản thân họ.

– Đạo đức vị tha là thứ đạo đức của người có khuynh hướng vị tha và có tình yêu vị tha. Họ yêu Chúa là vì Chúa, yêu tha nhân là vì tha nhân, không cần một sự trả công hay phần thưởng nào cho những hy sinh hay hoạt động của họ, cho dù ở đời này hay đời sau. Tình yêu tự nó là động lực duy nhất thúc đẩy họ làm tất cả cho người mình yêu. Họ đúng là người thật sự quên mình, từ bỏ mình như Đức Giêsu đòi buộc đối với những ai theo Ngài (x. Mt 16,24). Tuy dù họ không làm vì ích lợi cho họ, nhưng họ chính là người có khả năng hy sinh nhiều nhất cho Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, tuy dù họ chẳng cần một phần thưởng hay sự trả công nào cả, nhưng họ mới chính là những người đáng thưởng nhất, và phần thưởng dành cho họ sẽ là bội hậu nhất. Vì họ mới chính là người yêu thật sự.

Hôm nay chúng ta bước vào mùa Chay, thiết tưởng đây là thời điểm thuận tiện nhất để ta sám hối, để ta suy nghĩ về tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Hãy nghiêm túc phản tỉnh, hồi tâm, xét lại xem tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân có đích thực là tình yêu hay không? Hay đó chỉ là một tình yêu giả hiệu, tình yêu vị kỷ: có vẻ như ta yêu Thiên Chúa và tha nhân, nhưng thực ra là ta chỉ yêu chính bản thân ta thôi. Và đạo đức của ta là thứ đạo đức gì? Đạo đức vị kỷ hay đạo đức vị tha? Muốn biết được tình yêu và đạo đức của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân có đích thực hay không, khi làm điều gì tốt đẹp, hãy tự hỏi: Nếu tôi làm việc tốt lành này mà không ai biết tới, mà Thiên Chúa không trả công cho tôi, thì tôi có còn muốn làm hay không?




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, yêu Cha và yêu tha nhân bằng một tình yêu đúng nghĩa thật là khó. Hồi tâm phản tỉnh lại, con nhận ra rằng tình yêu con dành cho Cha và tha nhân chỉ là thứ tình yêu vị kỷ. Nghĩa là xét cho cùng, con chỉ yêu bản thân con thôi, chứ chưa thật sự yêu Cha và yêu tha nhân chung quanh con. Và thứ đạo đức con đang có chỉ là thứ đạo đức vị kỷ. Nhưng con thường nghe được tiếng Cha mời gọi con yêu thương bằng một tình yêu đích thực, vị tha, như tình yêu mà Cha yêu thương con, yêu thương nhân loại. Con biết rằng chỉ khi con yêu được như vậy, con mới trở nên hình ảnh trung thực của Cha.

Nguyễn Chính Kết

Bấm vào đây để đọc bài đào sâu:

(https://chiasethanhuu.blogspot.com/2020/02/le-tro-2.html)


Share:

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2020

TN3b - Ðức Giêsu xuống trần để làm một cuộc đại canh tân và cách mạng về tôn giáo




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 3 Thường Niên

(26-01-2020)

Bài đào sâu

Ðức Giêsu xuống trần
để làm một cuộc đại canh tân
và cách mạng về tôn giáo


  TIN MỪNG: Mt 4,12-23

Ðức Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Theo bài Tin Mừng hôm nay, thì Galilê là vùng đất của dân ngoại, thế nhưng Ðức Giêsu lại sinh trưởng và xuất thân từ vùng này. Các môn đệ của Ngài cũng thế. Ðiều đó có ý nghĩa gì không? Tại sao Ngài không sinh trưởng ở vùng đất của dân có đạo như Giuđê (Giêrusalem)? 
2. Tại sao để canh tân tôn giáo, Ðức Giêsu không chọn các môn đệ là người có học thức, hay có nhiều hiểu biết về tôn giáo như các kinh sư, Pharisiêu, mà lại chọn những người ít học, đơn sơ, nghèo nàn, nhút nhát? 
3. Các môn đệ có những đặc điểm nào mà Ðức Giêsu lại thích chọn họ hơn là các kinh sư? Có thể rút ra bài học gì cho chính bạn?

Suy tư gợi ý:

1.  Ðức Giêsu đến để canh tân lại đạo Do Thái

Vào thời Ðức Giêsu, đạo Do Thái chỉ còn là cái vỏ bên ngoài, bên trong thì trống rỗng. Các tín hữu chỉ còn giữ đạo một cách hình thức. Họ đặt quá nặng việc tham dự những lễ nghi tôn giáo, những vẻ thấy được bên ngoài. Vì thế, lễ nghi thì ngày càng rườm rà, càng gia tăng vẻ long trọng, luật lệ ngày càng nhiều, càng phức tạp và gây nên lắm phiền hà, các cơ sở vật chất cũng gia tăng. Còn tinh thần bên trong tức kính sợ Thiên Chúa và yêu thương đồng loại là hai điều răn lớn nhất trong lề luật (xem Mt 22,35-40) thì bị coi nhẹ. Và công lý, tình thương và sự chân thật là yếu tố cốt tủy nhất của tôn giáo thì bị xem thường  (xem Mt 23,23)

Trong Tin Mừng Matthêu đoạn 23, Đức Giêsu mô tả những người Pharisêu, những người giảng dạy tôn giáo thời ấy chỉ còn là những người thích ăn trên ngồi trốc, hưởng thụ những đặc quyền đặc lợi mà luật lệ tôn giáo đã dành cho (x. Mt 23,6-7), nhiều khi lại cấu kết với thế quyền để đàn áp bóc lột dân chúng (x. Mt 23,14). Họ dạy người khác làm những điều tốt đẹp mà chính họ lại không chịu làm (23,3). Nhiều khi họ không biết cái nào là cái chính cái nào là cái phụ trong tôn giáo (23,16-22) để dạy người ta giữ: nên cái chính yếu thì bị coi nhẹ, còn cái phụ thì lại được quan trọng hóa lên. Vì thế, họ trở thành những kẻ dẫn đường mù quáng (23,24), mù lại dắt mù (Lc 6,39).

Thế nên sứ mạng của Ðức Giêsu là đến để làm một cuộc đại canh tân và cách mạng về tôn giáo. Có thể nói Ngài lập nên một đạo mới trên chính nền tảng của đạo cũ, hoặc Ngài đưa vào đạo cũ một tinh thần mới

Ðiều này khiến ta phải tự hỏi: tình trạng sống đạo của người Kitô hữu hiện nay có cần canh tân hay cách mạng như thế không? Và ai có nhiệm vụ ấy?



2.  Nơi xuất xứ và cộng sự viên của Ðức Giêsu trong việc canh tân và cách mạng của Ngài

Là một nhà cách mạng tôn giáo, nhưng Ðức Giêsu lại xuất thân từ Nadarét, thuộc vùng Galilê (miền Bắc) là miền đất của dân ngoại (x. Mt 4,15b), chứ Ngài không sống ở vùng Giuđê (miền Nam) là vùng của Do thái giáo với kinh đô và đền thờ Giêrusalem. Vì thế, Ðức Giêsu được gọi là người Galilê (x. Mt 21,10; 26,69; Lc 23,6; 26,59; Mt 21,11). 

Theo quan niệm của dân chúng thì Galilê chẳng phát sinh được điều gì đáng giá: «Kẻ nói rằng: “Ông này là Ðấng Kitô”. Nhưng có kẻ lại nói: “Ðấng Kitô mà lại xuất thân từ Galilê sao? (42) Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Ðavít và từ Bêlem, làng của vua Ðavít sao?”» (Ga 7,41-42). Khi ông Nicôđêmô cho rằng Đức Giêsu là một ngôn sứ, thì bị người Pharisêu phản bác: «Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả» (Ga 7,52).

Các môn đệ mà Ngài chọn để làm cộng sự viên với Ngài trong cuộc canh tân này, cũng không phải là người Giuđê mà đều là người Galilê. Các ông là những ngư dân ít học, mặc dù theo đạo Do Thái, nhưng biết rất ít những kiến thức tôn giáo. Ngài không chọn làm môn đệ những người thuộc giới kinh sư hay luật sĩ của Do Thái giáo, là những người có rất nhiều kiến thức tôn giáo. Cách lựa chọn môn đệ của Ngài đáng cho chúng ta suy nghĩ. Tại sao Ngài không chọn các kinh sư giỏi giang làm môn đệ? (trừ Phaolô − được chọn sau này làm tông đồ thay thế Giuđa − là một kinh sư).


Ðể làm một cuộc canh tân, Thiên Chúa đã dùng những yếu tố hầu như hoàn toàn mới, vì «không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới!» (Mc 2,22). Làm sao có thể đổi mới tôn giáo được với những con người cũ, có những quan niệm cũ, nề nếp suy tư cũ, lối sống cũ với nhiều sai lạc mà họ vẫn cố chấp cho là chân lý không thể thay đổi được? Bằng chứng: cho tới ngày nay, Ðức Giêsu đến đã 20 thế kỷ rồi, nhưng đạo Do Thái vẫn còn đang trông chờ một Ðấng Cứu Tinh!

Ðức Giêsu đến đã làm thay đổi rất nhiều: tinh thần mới, quan niệm mới, lề luật mới, cơ cấu mới, v.v. Sự thay đổi này đã gây nên một sự phản kháng mạnh mẽ nơi giới trí thức, giới lãnh đạo trong Do Thái giáo. Chắc chắn họ có lý của họ, và cái lý ấy cũng dựa rất chắc chắn trên nền tảng Kinh Thánh! Ðiều đó cho thấy không phải cứ có lý, có nền tảng Kinh Thánh là đủ, mà còn phải có tinh thần của Thiên Chúa, tức công lý, tình thương và sự chân thật (Mt 23,23), và nhất là tinh thần phó thác và đổi mới theo Thánh Linh, Ðấng luôn luôn đổi mới mọi sự (x. Tv 104,30; Ep 4,23; Kh 21,5).

Cuộc canh tân của Ðức Giêsu phải được xây dựng trên những yếu tố mới mẻ, không thể dính líu nhiều với đạo cũ. Ðiều này khiến cho những ai thường tự hào mình là đạo gốc phải suy nghĩ. Là người đạo gốc mà cách sống đạo chẳng có gốc (=chẳng có nền tảng) là công lý, tình thương và sự chân thật (Mt 23,23) thì thật đáng xấu hổ!



3.  Thiên Chúa cần những người cộng tác

Ðức Giêsu không thực hiện cuộc canh tân tôn giáo một mình, Ngài cần rất nhiều người cộng tác. Người cộng tác ấy không nhất thiết phải là người có học, thông minh, nhiều tài năng, hiểu biết nhiều về Kinh Thánh, hay có quyền thế, v.v… Các môn đệ mà Ngài tuyển chọn chẳng phải là hạng trí thức. Sách Công vụ viết: «Họ ngạc nhiên khi thấy ông Phêrô và ông Gioan mạnh dạn, và biết rằng hai ông là những người không có chữ nghĩa, lại thuộc giới bình dân» (Cv 4,13). Chính Ðức Giêsu cũng chẳng phải là người có học. Thật vậy, Tin Mừng Gioan có câu nói về Đức Giêsu: «Người Dothái lấy làm ngạc nhiên. Họ nói: "Ông này không học hành gì, mà sao lại thông thạo chữ nghĩa thế!» (Ga 7,15). Về đức độ, các môn đệ cũng chẳng phải là hơn người: khi Ðức Giêsu bị bắt, tất cả các ông đều bỏ trốn, để mặc Ngài chịu trận một mình, Phêrô thậm chí còn chối phắt Thầy mình. So với các anh hùng của dân tộc ta (như Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Huệ) thì các ông thua xa.

Ðiều Ngài cần nơi những người cộng tác với Ngài là: mau mắn, không chần chừ tính toán. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: vừa được Ðức Giêsu mời gọi, thì Phêrô và Anrê lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. Giacôbê và Gioan cũng vậy: «lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người» (Mt 4,20). Sự mau mắn, không chần chừ tính toán được Mátthêu diễn tả bằng hai chữ «lập tức». Nó đòi hỏi phải có một chút liều lĩnh, phó thác, tin tưởng vào Ðức Giêsu. Chính nhờ những đức tính này mà khi được Thánh Thần tác động, các ông trở nên có đủ mọi thứ đức tính, mọi thứ tài năng hơn người. Từ những con người chết nhát, các ông đã trở nên những tông đồ can đảm, luôn luôn mạnh dạn làm chứng cho Ðức Giêsu, không chút sợ hãi (xem Cv 4,29.31; 9,27-28; 18,26; 19,8; 28,31).

Ngày nay, để canh tân Giáo Hội, Ðức Giêsu vẫn tiếp tục cần rất nhiều người cộng tác với Ngài. Ngài luôn luôn mời gọi tất cả mọi Kitô hữu làm điều ấy. Bạn có nghe thấy tiếng Ngài mời gọi trong thẳm sâu tâm hồn không? Bạn đáp lại thế nào? Bạn lập tức chấp nhận, hay còn phải suy nghĩ xem mình có đủ khả năng, có đủ thì giờ, có đủ đức độ không? 

Nếu bạn có đủ khả năng, đủ thì giờ, đủ đức độ như các kinh sư Do Thái xưa, thì chắc hẳn Ngài đã chẳng kêu gọi bạn đâu, vì bạn sẽ cậy vào sức riêng bạn, chứ không thèm nhờ cậy vào Ngài nữa! Chính vì biết bạn thiếu tất cả những thứ ấy Ngài mới kêu gọi bạn, như đã từng kêu gọi các tông đồ xưa. Ðiều quan trọng khi đi theo Ngài là bạn phải biết rằng bạn thiếu những thứ ấy để bạn khiêm nhường cậy dựa vào sức của Ngài, chứ không phải sức của mình. 

Bạn không nghe thấy Ngài cầu nguyện với Cha Ngài như vầy sao? «Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha» (Mt 11,25). Ðiều lạ lùng và hết sức nghịch lý nhưng lại là thực tế, đó là ta sẽ làm được tất cả khi thật tình nghĩ rằng «không có Thầy, anh em chẳng làm gì được» (Ga 15,5), nhưng «tôi có thể làm được tất cả nhờ Ðấng ban sức mạnh cho tôi» (Pl 4,13), vì «đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được» (Lc 1,37).

Vậy, nếu nghe thấy Ngài mời gọi bạn cộng tác với Ngài, bạn nên mau mắn chấp nhận. Chính nhờ sự mau mắn này, bạn −cũng như các tông đồ xưa− sẽ được biến đổi để làm được tất cả những gì Ngài mong muốn.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nếu cần con cộng tác với Cha trong bất kỳ việc gì, thì đây con sẵn sàng, mặc dù con chẳng tài đức gì. Con chỉ muốn bắt chước các tông đồ xưa, nghe Ðức Giêsu kêu gọi, là lập tức bỏ tất cả mà đi theo, không suy nghĩ, đắn đo, tính toán. Xin ban cho con tinh thần tin tưởng và phó thác nơi quyền năng vô biên của Cha trong mọi sự. Amen.


Share:

TN3a - Chúa luôn chúc phúc và nâng cao những ai khiêm nhường sám hối




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 3 Thường Niên

(26-01-2020)


Chúa luôn chúc phúc và nâng cao
những ai khiêm nhường sám hối



ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 8,23b–9,3: (8:23) Thời đầu, Người đã hạ nhục đất Dơvulun và đất Náptali, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Giođan, vùng đất của dân ngoại.

  1Cr 1,10-13.17: (12) Tôi thấy trong anh em có những luận điệu như: «Tôi thuộc về Phaolô, tôi thuộc về Apôlô, tôi thuộc về Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô». (13) Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư?

  TIN MỪNG: Mt 4,12-23

Đức Giêsu khởi đầu rao giảng tại Galilê

(12) Khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê. (13) Rồi Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali, (14) để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói: (15) Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! (16) Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. (17) Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng: «Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần».

(18) Người đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy hai anh em kia, là ông Simôn, cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. (19) Người bảo các ông : Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. (20) Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. (21) Ði một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dêbêđê, là ông Giacôbê và người em là ông Gioan. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. (22) Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.


(23) Thế rồi Ðức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao Thiên Chúa lại muốn Đức Giêsu xuất thân tại xứ Galilê, là «miền đất của dân ngoại» (Mt 4,15), chứ không xuất thân ở xứ Giuđa là miền đông dân theo đạo Do Thái?

2. Tại sao tôn giáo của Tân ước mà Đức Giêsu thiết lập lại chủ yếu do dân ngoại gia nhập, còn người Do Thái giáo lại gia nhập rất ít? Liệu người Kitô hữu hiện nay có đi vào vết xe cũ đã đổ của dân Do Thái giáo xưa không?

3. Người đang được Thiên Chúa ưu đãi, nâng đỡ, cần có thái độ nào để Thiên Chúa vẫn tiếp tục ưu đãi và nâng đỡ?


Suy tư gợi ý:

1.  Xứ Galilê được chọn làm nơi xuất thân Đấng Cứu Thế

Nước Do Thái có ba miền: Galilê (miền bắc), Samari (miền trung)Giuđa (miền nam). Thủ đô tôn giáo của Do Thái giáo là Giêrusalem thuộc xứ Giuđa, xứ này là vùng đông người có đạo Do Thái nhất. Xứ Samari là miền tạp chủng, tuy theo đạo Do Thái, nhưng đạo này bị pha trộn với tôn giáo của dân ngoại, nghĩa là mang tính lạc giáo, nên bị người Giuđa khinh thường và coi như dân ngoại. Còn xứ Galilê là miền đất của dân ngoại –vì đa số dân chúng là ngoại đạo– như được nói trong bài Tin Mừng: «Hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại» (Mt 4,15). Galilê «thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali», là vùng đất bị Thiên Chúa nguyền rủa vì trong quá khứ, dân đã phạm một lầm lỗi nặng nề nào đó (x. Is 8,23b)

Thế mà Đức Giêsu lại là người Nadarét thuộc xứ Galilê, Ngài sinh trưởng và xuất thân từ đó. Các tông đồ mà Ngài tuyển chọn, tất cả đều là người dân Galilê. Đến đây, ta phải tự hỏi: tại sao Thiên Chúa không để Đức Giêsu và các tông đồ của Ngài xuất thân ở vùng đất Giuđa là vùng của đạo Do Thái, mà lại xuất thân từ vùng Galilê là vùng của dân ngoại?

Quả thật, việc làm của Thiên Chúa không mấy ai hiểu được: «Dù lãnh thổ Dơvulun và Náptali sắp bị Chúa đoán phạt, nhưng trong tương lai chính các lãnh thổ đó tức là vùng Galilê và bắc Giôđan, trên con đường ra biển sẽ đầy dẫy vinh quang» (Is 9,1; x. 8,23b). Đúng là «Người nâng ai lên hay hạ ai xuống đều tuỳ ý Ngài» (Đn 5,19; x. Tv 147,6; Hc 33,12; Ed 17,24; Ed 21,31). Đương nhiên không phải Ngài nâng cao hay hạ thấp một cách tùy tiện theo ý ngông của Ngài, mà theo tiêu chuẩn này: «Chúa hạ bệ những ai quyền thế, kiêu căng; Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường» (Lc 1,52). Do biết khiêm nhường sám hối, vùng Caphácnaum (thuộc miền Galilê) đang được Thiên Chúa chúc phúc và nâng lên. Nhưng khi được nâng lên, dân này lại sinh ra kiêu căng và tự hào, nên Đức Giêsu mới cảnh báo: «Còn ngươi nữa, hỡi Caphácnaum, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Không, ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ!» (Lc 10,15).

Cũng vậy, dân Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài, đó là điều thật hạnh phúc cho họ. Nhưng thay vì sống theo giới luật hay tinh thần của Ngài để xứng đáng với ân huệ đặc biệt đó, họ lại lên mặt và khinh chê dân ngoại. Vì thế, khi Đấng Cứu Thế đến, Thiên Chúa đã không để cho vùng Giuđa −vùng đông người có đạo nhất– được vinh dự là nơi xuất thân của Đấng Cứu Thế. 

Mang danh là tuyển dân của Thiên Chúa, tuy vẫn giữ đúng những tập tục tôn giáo Ngài truyền lại qua Môsê, nhưng họ chỉ thực hiện một cách hoàn toàn hình thức, thiếu tình yêu và lòng thành bên trong, họ đã trở nên nguội lạnh và gian ác. Bằng chứng là khi Đấng Cứu Thế đến, họ đã bách hại Ngài ngay khi Ngài sinh ra, và còn tiếp tục bách hại và giết chết Ngài khi Ngài xuất hiện ở tuổi trưởng thành. Vì thế, Thiên Chúa đã hạ bệ họ: «Kẻ thấp hèn, Chúa nâng đỡ dậy; bọn gian ác, Người hạ xuống đất đen» (Tv 147,6). Thật vậy, đến năm 70, Thiên Chúa đã khiến cho Giêrusalem, kinh đô của Do Thái giáo, trở thành «không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, vì đã không nhận biết thời giờ họ được Thiên Chúa viếng thăm» (Lc 19,44). Và dân Do Thái đã mất nước từ đó –suốt 19 thế kỷ– cho đến khi lập quốc trở lại vào năm 1947. Lập quốc trở lại mà vẫn phải chịu đựng chiến tranh liên miên. 

Về mặt tôn giáo, Thiên Chúa đã lập nên một Giáo Hội mới mà chủ yếu do dân ngoại gia nhập, còn người Do Thái thì chiếm tỷ lệ vô cùng nhỏ bé trong Giáo Hội mới ấy. Sự việc đã xảy ra đúng như tinh thần dụ ngôn người thợ vườn nho sát nhân (Mt 21,33-46) và dụ ngôn tiệc cưới (Mt 22,1-14) của Đức Giêsu.



2.  Bài học cho mỗi người chúng ta

Những sự kiện nêu trên đáng cho chúng ta suy nghĩ và rút ra bài học. Rất có thể chúng ta đang được Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt, được ưu đãi hơn rất nhiều người khác. Nhưng thay vì ta biết ơn Ngài và sống cho xứng đáng với ơn ấy, thì chúng ta lại lên mặt kiêu căng với những người kém may mắn hơn, đồng thời sống giả hình (có bề ngoài mà không có thực chất bên trong), thiếu tình thương, không đúng với tinh thần quên mình, từ bỏ mình, hoặc vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa. 

Chúng ta tưởng rằng quên mình hay từ bỏ mình thì sẽ bị thiệt hại, bị vong thân, và tưởng rằng vác thập giá mình thì sẽ bị đau khổ. Vì thế, chúng ta tìm cách đề cao mình, thổi phồng «cái tôi» cá nhân hoặc tập thể của mình lên. Nhưng thật ra, việc thổi phồng «cái tôi» đó đồng thời tìm cách đạt cho bằng được những địa vị, quyền bính, tiền bạc, để hưởng những vinh quang, lạc thú, thoải mái do chúng mang lại, mới chính là cách hủy hoại mình và đời sống tâm linh của mình hữu hiệu nhấtlà tự chuốc đau khổ cho mình cách tệ hại nhất. Chúng ta quên rằng «Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường» (Lc 1,51-52).



3.  Bài học cho các tập thể

Thiên Chúa đối xử với những cá nhân kiêu căng thế nào, thì Ngài cũng đối xử với những tập thể ngạo mạn như vậy. Lịch sử của dân Do Thái là một bài học đích đáng về chân lý ấy. Vì thế, nhiều khi chúng ta phải tự xét: liệu Giáo Hội –dân được Thiên Chúa tuyển chọn trong Tân ước– có đi vào vết xe cũ đã đổ của dân Do Thái –là dân được Ngài tuyển chọn trong Cựu ước– không? Giáo Hội có quá tự hào vì được Thiên Chúa ưu đãi và tuyển chọn cách đặc biệt không? có coi thường các tôn giáo khác không? có sống xứng đáng với hồng ân cao cả Thiên Chúa dành cho mình không? Người Kitô hữu ngày nay –giáo dân cũng như giáo sĩ– có rập khuôn theo tinh thần cũ của dân Do Thái xưa không?

Nếu dân Do Thái xưa mà suy gẫm lời cảnh báo của Đức Giêsu xưa: «Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: “Chúng ta đã có tổ phụ Ápraham”. Vì tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham» (Mt 3,9), và sống phù hợp với tinh thần của Ngài, thì có lẽ họ đã không đến nỗi như hiện nay. Thánh Phaolô từng cảnh báo về lòng tự hào của họ: «Bạn mang tên là người Do-thái, ỷ rằng mình có Lề Luật, tự hào vì có Thiên Chúa; được biết ý Người, được Lề Luật dạy cho điều hay lẽ phải; (…) bạn tưởng mình có Lề Luật là có tất cả tri thức và chân lý» (Rm 2,17-20). Tự hào như thế thì cũng chính đáng, nhưng nếu vì sự tự hào ấy mà lên mặt với người khác là điều không hay, nhất là khi không sống cho xứng với niềm tự hào ấy: «Bạn dạy người khác, mà lại không dạy chính mình! (…) Bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, và như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!» (Rm 2,21-23). Người Kitô hữu sẽ làm nhục Đức Kitô khi họ tự hào về Ngài nhưng lại sống giới răn mới của Ngài (x. Ga 13,34) không bằng người ngoại.



4.  Hãy sám hối

Đức Giêsu xuất thân và khởi đầu việc rao giảng của Ngài tại Galilê, là «miền đất của dân ngoại». Để giúp cho Galilê được «đầy dẫy vinh quang» hầu ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia (x. Is 9,1; 8,23), Đức Giêsu khuyên dân chúng tại đó: «Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần» (Mt 4,17). Cho dù tội lỗi, bị Thiên Chúa nguyền rủa, nhưng nếu biết sám hối, biết sửa đổi lại cách sống theo đường lối của Ngài, thì sẽ được Ngài nâng lên, chúc phúc. Dụ ngôn người thu thuế và người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14) chứng minh điều đó. Trái lại, khi được Ngài nâng lên mà lại trở nên kiêu căng tự hào thì sẽ lại bị Ngài hạ xuống, như Đức Giêsu đã cảnh báo dân Caphácnaum (x. Lc 10,15)

Vậy, sám hối –tức khiêm nhường nhận ra sự sai trái của mình và quyết tâm sửa đổi cho đúng– là điều kiện cần thiết để được Thiên Chúa chúc phúc và nâng lên. Trong tinh thần sám hối ấy, thiết tưởng người Kitô hữu chúng ta – dù là cá nhân hay tập thể – cần tránh tự hào và kiêu hãnh trước người khác về những nhân đức mình có, những việc tốt đẹp mình làm được, những hồng ân đặc biệt Thiên Chúa ban cho mình một cách ưu đãi. Đồng thời cần cố gắng sống cho xứng đáng với những ân huệ đặc biệt ấy với tâm tình biết ơn.




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha không ưa thích và sẵn sàng hạ bệ những tâm hồn kiêu hãnh, tự đưa mình lên. Ngày xưa, không ai tốt lành, đẹp đẽ, sáng láng và thánh thiện cho bằng Tổng Lãnh Thiên Thần Luxiphe, nhưng chỉ vì kiêu hãnh về những phẩm tính tốt lành ấy và chống lại Cha mà trở nên vô cùng xấu xa, đau khổ. Xin giúp con hiểu rằng Cha vẫn ưa thích một tâm hồn tuy tội lỗi nhưng biết khiêm nhường, sám hối, hơn những tâm hồn trong sạch và đầy nhân đức như thiên thần nhưng lại kiêu ngạo, thích khinh chê người khác. Người trước sẽ được Cha nâng lên, còn người sau sẽ bị Cha hạ xuống. Xin cho con dù thánh thiện hay nhân đức tới đâu, dù chức vụ có cao cả tới đâu, cũng vẫn luôn khiêm nhường và yêu thương mọi người, nhất là biết nâng đỡ những người hèn kém hơn mình.


Share:

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2020

TN2b - Đặc tính nơi những ngôn sứ thật của Thiên Chúa




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 2 Thường Niên

(19-01-2020)

Bài đào sâu

Các đặc tính 
nơi những ngôn sứ thật 
của Thiên Chúa 



  TIN MỪNG: Ga 1,29-34

Ðây Chiên Thiên Chúa


Câu hỏi gợi ý:
Tại sao Gioan lại giới thiệu Ðức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá tội trần gian? Ý nghĩa sâu xa của những từ ngữ đó thế nào? 
2.   Vai trò của Gioan Tẩy Giả đối với Ðức Giêsu như thế nào? Tư cách của ông có xứng với vai trò hay sứ mạng của ông không? Tư cách ấy là gì? 
3.   Qua tư cách và hành động của Gioan, bạn có thể rút ra kết luận gì cho cuộc đời ngôn sứ của bạn? (nên nhớ mỗi Kitô hữu phải là một ngôn sứ!)

Suy tư gợi ý:

1.  Lời giới thiệu đầu tiên của Gioan về Ðức Giêsu

Ðức Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai của Ngài bằng nghi thức sám hối thay cho cả nhân loại qua phép rửa của Gioan, và kết thúc cuộc đời công khai của Ngài bằng nghi thức đền tội thay cho cả nhân loại qua cái chết thê thảm trên thập giá. Và hôm nay, ít ngày sau khi Gioan rửa tội cho Ðức Giêsu, ông liền giới thiệu cho dân chúng biết Ngài là ai, và một phần nào báo trước cái chết của Ngài: «Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá bỏ tội trần gian!» (Ga 1,29). Muốn hiểu hết ý nghĩa lời giới thiệu ấy, ta cần biết tập tục sau đây của người Do Thái:

Theo truyền thống Do Thái trong sách Xuất Hành (Xh 29,38-42), thì mỗi ngày, vào sáng sớm và chiều tối, các tư tế trong đền thờ phải sát tế mỗi buổi một con chiên nhỏ cỡ một tuổi làm của lễ toàn thiêu để đền tội thay cho dân chúng. Như vậy tội lỗi của cả dân chúng mỗi buổi đều đổ hết lên đầu con chiên, và con chiên gánh tội ấy phải chết để đền tội thay cho dân chúng, hầu dân chúng được khỏi tội trước Thiên Chúa. Tội lỗi của dân chúng đối với Thiên Chúa đáng lẽ phải trả giá bằng sinh mạng của chính con người, nhưng Thiên Chúa đã chấp nhận để con chiên chết thay con người. Ðức Giêsu đã trở thành chiên hy sinh như thế: «Ðức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta» (1Cr 5,7).


Lời giới thiệu của Gioan còn ngầm nói lên bản tính Thiên Chúa của Ðức Giêsu: «Chính Người là Ðấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi» (Ga 1,30). Theo lời thiên thần nói khi truyền tin cho Ðức Maria, ta biết khi Ðức Maria thụ thai thì bà Êlisabét, đã có thai Gioan được 6 tháng (x. Lc 1,36b). Nghĩa là xét về mặt thể chất, Gioan đã ra đời trước Ðức Giêsu nửa năm. Nhưng Gioan lại giới thiệu Ðức Giêsu là Ðấng «có trước» mình. Như vậy từ ngữ «có trước» ở đây không thể hiểu theo nghĩa thể chất, mà phải theo nghĩa tâm linh, nghĩa là ông ám chỉ nguồn gốc thần linh của Ðức Giêsu.



2.  Gioan, người dọn đường cho Ðức Giêsu

Ðể chuẩn bị xa cho việc Ðức Giêsu đến với nhân loại, Thiên Chúa đã nhờ các ngôn sứ tiên báo biến cố ấy hàng mấy trăm năm trước, bằng cách này hay cách khác. Ðể chuẩn bị gần, Ngài dùng một người tiền hô, có nhiệm vụ dọn đường và giới thiệu. Người đó là Gioan Tẩy Giả.


Gioan là bà con với Ðức Giêsu, vì mẹ của ông Gioan là chị họ của Ðức Giêsu (x. Lc 1,35a). Vì thế, chắc chắn ông Gioan và Ðức Giêsu đã quen biết nhau, nhưng Gioan không biết hoặc biết không chắc chắn Giêsu là Ðấng Thiên Sai. Chỉ khi Ðức Giêsu đến với ông xin chịu phép rửa và sau đó có những dấu chứng từ trời cao, ông mới biết điều đó cách chính xác. Vì chính Thiên Chúa đã báo trước cho ông điều ấy, như ông từng nói: «Chính Ðấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn”» (Ga 1,33-34). Khi đã biết đích xác Ðức Giêsu là ai, Gioan bắt đầu làm chứng về Ngài.



3.  Những ngôn sứ của Thiên Chúa

Câu Kinh Thánh vừa trưng dẫn cho ta thấy: những người làm ngôn sứ trong các thời đại, luôn luôn có sự giao tiếp với Thiên Chúa, và được chính Thiên Chúa kêu gọi, sai phái, không nhất thiết phải qua một trung gian người nào (xem Is 6,1-12; Gr 1,5-19). Lời kêu gọi đó có những trường hợp khó có thể chối từ như trường hợp của ngôn sứ Giona (x. Gn 1,1-2,11). Các ngôn sứ cũng được Ngài soi sáng, cho biết hết kế hoạch của Ngài (x. Am 3,7), được Ngài hướng dẫn cụ thể những việc phải làm (rất nhiều câu bàng bạc trong các sách ngôn sứ chứng tỏ điều ấy)

Các ngôn sứ được chính Thiên Chúa kêu gọi, sai phái,
không nhất thiết phải qua một trung gian người nào
(xem Is 6,1-12; Gr 1,5-19)

Nhờ sự rõ ràng đó, các ngôn sứ mới tin tưởng vào sứ mệnh và lời chứng của mình, và lời chứng của họ mới có sức mạnh thuyết phục. Nếu không, lời chứng của họ chỉ là những xác quyết thiếu căn cứ, dựa trên những tin tưởng rất chủ quan, hoặc chỉ là những lời tuyên xưng xuông (không thực tín). Nếu chỉ dựa trên những tin tưởng chủ quan, không dựa trên những nền tảng chắc chắn mà lại dám lấy cả mạng sống mình để làm chứng thì thật là ngu dại, thậm chí có thể khiến những kẻ nghe mình đi vào sai lầm trầm trọng.

Tương tự như Ðức Giêsu và Gioan Tẩy Giả, các ngôn sứ thường không thuộc hàng chức sắc trong tôn giáo. Nhiều trường hợp, các ngôn sứ còn lên tiếng quở trách, kết án, chỉ dẫn và sửa sai chẳng những hàng chức sắc này (x. Is 56,10-12; Gr 23,1-4; Ed 34,1-31; 44,15-31; Hs 4,4-10; 5,1; đặc biệt Mt 23,13-32), mà cả vua chúa quan quyền nữa (x. Is 10,1-3; 10,5.12; 14,24-27, đặc biệt Mt 14,4). Ðiều này chứng tỏ không phải cứ thuộc hàng chức sắc trong tôn giáo thì ngoại trừ bề trên mình là chức sắc cao cấp hơn, không còn ai có quyền chỉ dạy hay sửa sai mình.

đã là ngôn sứ thật, thì phải dám nói lên tiếng nói của chân lý, công lý và tình thương, đồng thời dám chịu đau khổ và dám chết vì lời chứng của mình giống như Gioan. Ðó là đặc điểm không thể thiếu của những ngôn sứ thật đến từ Thiên Chúa

Đã là ngôn sứ thật, thì phải dám nói lên tiếng nói của chân lý, công lý và tình thương,
đồng thời dám chịu đau khổ và dám chết vì lời chứng của mình giống như Gioan.

Người vì sợ liên lụy đến bản thân nên không dám bênh vực cho Thiên Chúa và tha nhân, cho chân lý, công lý và tình thương, thì chắc chắn không phải là ngôn sứ thật, dù họ có mang danh là đại ngôn sứ đi chăng nữa! Ðó là dấu chứng chắc chắn để phân biệt thật giả. Và cũng chính vì yếu tố đặc trưng này mà luôn luôn số phận của các ngôn sứ thật là bị ném đá và bạc đãi, còn ngôn sứ giả thì được ưu đãi, trọng vọng, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi do những thế lực phản công lý dành cho để thưởng công cho sự im lặng rất lợi hại của họ (xem Lc 6,22.26).



4.  Ngôn sứ phải sống vì Thiên Chúa và tha nhân, không vì mình

Trong cách giới thiệu của Gioan về Ðức Giêsu, ta thấy ông luôn luôn làm cho Ðức Giêsu nổi bật lên, đồng thời tự làm cho mình lu mờ đi: «Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi» (Ga 3,30). Chẳng hạn: «Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi» (Ga 1,30), «Tôi đây không phải là Ðấng Kitô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người» (Ga 3,28), «Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người» (Ga 1,27). «Ðấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi» (Mt 3,11), «Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần» (Mc 1,8). Khi đã hoàn thành nhiệm vụ, Gioan rút lui vào bóng tối, để Ðức Giêsu đóng trọn vẹn vai trò của Ngài.

Ðây cũng là một dấu chứng của ngôn sứ thật. Người ngôn sứ thật phải từ bỏ được chính cái tôi của mình, và thể hiện được tinh thần quên mình, tự hủy như Ðức Giêsu (x. Pl 2,6-8). «Không làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình; không tìm lợi ích cho riêng mình, mà tìm lợi ích cho người khác» (Pl 2,3-4). Một người coi cái tôi của mình quá lớn chắc chắn không phải là ngôn sứ thật. Họ không thể sống vì Chúa, vì tha nhân được, mặc dù họ có thể tạo được cái vẻ như vậy: có vẻ yêu Chúa, có vẻ yêu người.

Rất nhiều người làm ngôn sứ, làm tông đồ, rao giảng Tin Mừng, làm nhiều việc lành phúc đức, bố thí một cách rộng rãi. nhưng không do lòng yêu mến Chúa hay tình thương đối với tha nhân thúc đẩy, mà do tính ham được tiếng khen, lời ca tụng, muốn nổi danh là đạo đức, là có lòng thương người, v.v... Họ đã dùng danh nghĩa Thiên Chúa để tạo nên danh thơm tiếng tốt cho mình, để có những cấp bậc cao sang trong Giáo Hội và xã hội. 

Tâm lý này đã được Ðức Giêsu vạch mặt: «Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen» (Mt 6,1), Và thánh Phaolô cho biết sự vô giá trị của những hành động như vậy: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,3). Tính chất khoa trương, thích phình to bản ngã này, Ðức Giêsu gọi là men Pharisiêu: «Anh em phải coi chừng men Pharisêu, tức là thói đạo đức giả» (Lc 12,1, x. Mt 16,6.11; Mc 8,15). Là người Kitô hữu, là ngôn sứ, chúng ta cần phải tránh loại men rất khó tránh này.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Ðức Giêsu đã đến để thiết lập Giáo Hội, tức một dân tộc ngôn sứ cho Cha ở trần gian. Giáo Hội không chỉ có sứ mạng tư tế (thờ phượng Thiên Chúa), mà còn có sứ mạng vương đế (làm chủ bản thân, tập thể, ngoại cảnh, lịch sử), và sứ mạng ngôn sứ (làm chứng cho Thiên Chúa, cho chân lý, công lý và tình thương) nữa. Nhưng Giáo Hội đã làm tròn sứ mạng ngôn sứ ấy trước mặt các dân tộc chưa? Xin cho chính bản thân con, cũng như mọi Kitô hữu khác ý thức được sứ mạng ngôn sứ tức làm chứng của mình trong môi trường mình sống, trong xã hội và Giáo Hội, nhất là khi chân lý, công lý và tình thương bị coi thường, bị chà đạp. Xin cho con đức can đảm phải có của một ngôn sứ như Gioan Tẩy Giả, để con thực hiện tốt sứ mạng ngôn sứ của mình. Amen.

Nguyễn Chính Kết




Share: