Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

Vong4b - Cách nhìn và cách đánh giá của Thiên Chúa

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 4 Mùa Vọng

(24-12-2017)

Bài đào sâu

Cách nhìn và cách đánh giá của Thiên Chúa



  TIN MỪNG: Lc 1,26-38

Truyền tin cho Đức Maria


Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao Thiên Chúa lại muốn Con của Ngài thụ thai, sinh trưởng và sống suốt 30 năm ở Nadarét, một vùng của dân ngoại, mà không phải tại Giêrusalem, thủ đô của Do Thái giáo? 
2. Tại sao Thiên Chúa không chọn cho Con của Ngài làm con một vị tư tế hay chức sắc của Do Thái giáo, mà lại chọn làm con một thiếu nữ đơn sơ nghèo hèn, chẳng có gì là «danh gia vọng tộc», trong tôn giáo cũng như ngoài xã hội? 
3. Điều gì nổi bật nơi thiếu nữ Maria khiến Thiên Chúa chọn cô làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Con của Ngài? Quan niệm và cách suy nghĩ của Ngài khác với của ta thế nào? Ta có cần quan niệm và suy nghĩ theo cách của Ngài không?


Suy tư gợi ý:

1. Tại sao Thiên Chúa chọn Nadarét làm nơi sinh trưởng của Đức Giêsu?

Đức Giêsu thụ thai và sinh trưởng tương đối bình yên tại Nadarét, miền Bắc nước Do Thái, cách rất xa Giêrusalem, thủ đô tôn giáo của Do Thái ở miền Nam. Nadarét thuộc xứ Galilê, là vùng đất của dân ngoại. Tại sao Thiên Chúa lại chọn Nadarét chứ không phải Giêrusalem để Đức Giêsu thụ thai và trưởng thành? 

Tuy nhiên, vì thời thế lúc ấy, Đức Giêsu phải sinh ra tại Bêlem, rất gần Giêrusalem, nhưng nơi đây chẳng những không tiếp nhận Ngài, mà còn bách hại và tìm cách giết Ngài dù Ngài vừa mới sinh ra. Ngài cũng đã chết tại Giêrusalem, trung tâm tôn giáo của đất nước Ngài, và chết vì tay của những vị lãnh đạo tôn giáo của Ngài. Điều đó không phải là không có ý nghĩa. Và đó chính là điều chúng ta nên suy nghĩ.

Cũng chính vì Đức Giêsu sinh trưởng tại Nadarét mà người Do Thái có cớ để không tin Ngài là Đấng Cứu Thế. Vì theo cách suy nghĩ của loài người, họ cho rằng đã là Đấng Cứu Thế thì phải sinh trưởng tại vùng có truyền thống tôn giáo mạnh mẽ nhất. Họ nghĩ Thiên Chúa cũng phải suy tính giống như họ. Thật vậy, khi nghe Philípphê giới thiệu về Đức Giêsu, Natanaen đã thốt lên: «Từ Nadarét, làm sao có được điều gì hay?» (Ga 1,46). Thế nhưng con người tuyệt vời nhất trần gian, đặc biệt về mặt tôn giáo, lại xuất phát từ cái địa danh bị mang tiếng là «miền đất của dân ngoại» (Mt 4,15), và sinh ra bởi một người nữ mà dưới mắt người đời chẳng có gì đặc biệt!

Thiên Chúa nhìn vào tâm linh con người, vào cốt lõi của vấn đề, và đánh giá theo cái nhìn ấy, chứ không nhìn vào những thứ bên ngoài, cho dù là tính tôn giáo, địa vị hay giai cấp trong tôn giáo, v.v… Trong cuộc đời Đức Giêsu, ta không hề thấy Ngài tỏ ra nể trọng ai chỉ vì người ấy giàu có, có địa vị hay quyền bính trong tôn giáo cũng như ngoài xã hội vốn được mọi người nể trọng. 

Ngài không ngần ngại khiển trách những người này khi họ ham được ca tụng, đề cao, lợi dụng quyền bính để hà hiếp kẻ yếu thế, hay làm ra vẻ đạo đức, v.v… Ta cũng không thấy Ngài tỏ ra khinh thường ai chỉ vì người ấy nghèo hèn, khốn khó, có địa vị thấp hèn trong tôn giáo hay xã hội. Nói chung Ngài quý trọng và yêu thương mọi người, bất kỳ ai, kể cả những kẻ thù ghét Ngài, vì họ đều là con cái Thiên Chúa, là anh em với Ngài.

Vì thế, những người theo Chúa cũng cần phải tập nhìn và đánh giá như thế. Thế nhưng đôi khi chúng ta, những người tự hào là theo Chúa, vẫn thường nhìn và đánh giá, theo những gì bên ngoài chứ không phải theo bản chất bên trong,  để rồi trọng vọng hay khinh thường. Ta vẫn có cái nhìn và đánh giá kiểu người đời, coi trọng những thực tại trần gian chẳng kém gì dân ngoại. 



2. Tại sao Thiên Chúa chọn cô Maria làm Mẹ Đấng Cứu Thế?

Maria là một thiếu nữ thuộc thành phần nghèo nàn, gia thế không có gì đặc biệt, chắc hẳn sắc đẹp và tài năng cũng chẳng có gì trổi vượt. Thế mà Thiên Chúa lại chọn cô làm mẹ của Đấng Cứu Thế? Tại sao vậy? Điều gì khiến Thiên Chúa lại chọn cô chứ không phải chọn một cô gái nào đó con của một tư tế, một luật sĩ, hay một vị nào có thế giá trong tôn giáo Do Thái? Ta cần suy nghĩ để nhận ra cách quan niệm và hành động của Thiên Chúa. 

Điều quan trọng đối với Thiên Chúa không phải là sắc đẹp, tài năng, kiến thức, gia thế, địa vị trong xã hội hay tôn giáo… Điều Ngài ưa thích là tính chân thật, khiêm cung, coi nhẹ «cái tôi» hay ý riêng của mình, nhưng coi Thiên Chúa và thánh ý của Ngài là trên hết, luôn yêu thương và sẵn sàng phục vụ tha nhân. Những đặc tính ấy ta có thể thấy được nơi thiếu nữ Maria. 

Tâm lý của các phụ nữ Do Thái thời ấy là muốn lập gia đình, vì họ mong được vinh dự làm mẹ Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ đã loan báo trước đó mấy trăm năm. Tâm lý này phần nào tương tự như trong cộng đoàn Kitô hữu xưa nay vẫn có những bậc cha mẹ cho con đi tu, với mong ước con mình làm linh mục, tu sĩ, để mình được mọi người trọng vọng, gọi mình bằng «ông cố», «bà cố»… 

Còn Maria, cô chủ trương «không biết đến việc vợ chồng» (Lc 1,34), cô không màng vinh dự ấy. Ham muốn vinh dự ấy là điều rất tự nhiên, không có gì xấu, nhưng nó nói lên khuynh hướng mong «cái tôi» của mình được đề cao. Chiều theo khuynh hướng này là điều thuận lợi cho tính kiêu ngạo và các tham vọng phát sinh.

Chính vì tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn, không tơ vương chuyện này, mà tâm hồn cô nổi bật lên trước con mắt Thiên Chúa. Tính khiêm cung nơi con người vốn là một vẻ đẹp hấp dẫn Ngài hơn bất kỳ điều gì: «Đấng muôn trùng cao cả vẫn ở với tâm hồn khiêm cung» (Is 57,15). 

Một điểm khác khiến Maria rất đẹp, rất có giá trị trước mặt Thiên Chúa, đó là tính coi rất nhẹ ý riêng của mình, nhưng luôn nhạy cảm trước thánh ý Thiên Chúa và sẵn sàng làm theo ý Ngài. Maria không muốn «biết đến việc vợ chồng», không màng đến chuyện có con, nhưng khi Thiên Chúa muốn cô sinh con, cô sẵn sàng chấp nhận, bất chấp những khó khăn sẽ xảy đến: nào là Giuse bạn cô có thể hiểu lầm, người đời sẽ dị nghị chuyện chưa chồng đã có thai, cho cô là đồ mất nết, nào là luật pháp có thể trừng trị rất nghiêm khắc, ném đá cô đến chết… Nhưng cô phó thác cho Thiên Chúa mọi việc, để tùy Ngài sắp xếp tất cả.

Khiêm cungcoi nhẹ ý mình để sẵn sàng thuận phục ý Thiên Chúa chính là hai điều cốt yếu nhất của sự thánh thiện. Đó là hai hệ quả tất yếu của một tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân.



3. Tại sao Maria lại được gọi là «Người đầy ân phúc»? 

Maria được thiên sứ chào là «Người đầy ân phúc» (Lc 1,28). Nhưng rõ ràng cuộc đời cô là một cuộc đời đầy nghịch cảnh, bị thử thách trăm chiều vì người con của mình. Do đó, điều gọi là «ân phúc» trước mặt Thiên Chúa có thể lại là điều mà thế nhân chẳng mong muốn chút nào nếu không cho là tai họa. Ngược lại, điều mà thế nhân coi là có phúc thì rất có thể Thiên Chúa chẳng coi là có phúc (x. Lc 6,24-26). Vì Thiên Chúa nhìn vào tâm hồn, nhìn vào những gì có tính lâu dài, vĩnh cửu, còn con người chỉ nhìn thấy những cái bên ngoài, nhất thời, ngay trước mắt. Người có phúc trước mặt Thiên Chúa là người có tâm hồn trong sáng, không bị hoen ố vì khuynh hướng vị kỷ, biết xả kỷ, yêu thương. Tinh thần «tám mối phúc thật» (Mt 5,1-12) nói lên điều ấy.

Tương tự như các bậc cha mẹ, khi thấy con cái mình lười biếng, ham chơi, vô trách nhiệm, thì tuy thấy chúng đang được vui thú hay đắc chí trong hiện tại, nhưng vẫn thấy chúng vô phúc và tội nghiệp cho chúng, vì thấy trước tương lai của chúng rất mờ mịt. Trái lại, khi thấy con cái chịu khó học hành, thì tuy thấy chúng mệt mỏi, vất vả trong hiện tại, nhưng lại mừng cho chúng, vì thấy tương lai của chúng rất tươi sáng. 

Cũng vậy, khi sứ thần đến truyền tin, lúc đó Maria chỉ là một thôn nữ nghèo, và cuộc đời trước mắt của Maria đầy dẫy những khổ đau vất vả, nhưng sứ thần thấy cả một tương lai vĩnh cửu sáng lạn đang chờ đợi cô. Vì thế, sứ thần đã chào Maria là «Đấng đầy ân phúc». Cách nhìn của sứ thần phản ánh cách nhìn của Thiên Chúa. Chúng ta phải tập cho mình có cách nhìn như thế.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, cách nhìn của con quả là quá thiển cận và rất trần tục, không vượt ra khỏi những gì thấy được bên ngoài hoặc trước mắt. Xin cho con có được cách nhìn của Cha, nhìn vào chiều sâu tâm hồn và xuyên suốt thời gian. Xin đừng để những vẻ hào nhoáng bên ngoài của trần gian, của tôn giáo cản trở cái nhìn tâm linh của con. Chỉ cái nhìn vào chiều sâu tâm hồn và xuyên suốt thời gian mới là cái nhìn trung thực và đúng nhất. Có được cái nhìn ấy, con mới dễ dàng sống đúng với thánh ý của Cha.


Share:

Vong4a - Tính chất và sự thử thách của những người được Thiên Chúa chọn




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 4 Mùa Vọng

(24-12-2017)

Tính chất và sự thử thách
của những người được Thiên Chúa chọn



ĐỌC LỜI CHÚA

  2Sm 7,1-5.8b-12.14a.16: (8) Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ítraen. (9) Ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi.

  Rm 16,25-27: (26) Tin Mừng tôi loan báo đó mặc khải mầu nhiệm vốn được giữ kín tự ngàn xưa, nhưng nay lại được biểu lộ như lời các ngôn sứ trong Sách Thánh.

  TIN MỪNG: Lc 1,26-38

Truyền tin cho Đức Maria

(26) Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, (27) gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria.

(28) Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: «Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà». (29) Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.  (30) Sứ thần liền nói: «Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. (31) Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. (32) Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. (33) Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận».  

(34) Bà Maria thưa với sứ thần: «Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!» (35) Sứ thần đáp: «Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. (36) Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. (37) Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được».  

(38) Bấy giờ bà Maria nói: «Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói». Rồi sứ thần từ biệt ra đi.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Maria có gì đặc biệt mà được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế và theo niềm tin Công giáo, còn là Đấng đồng công cứu chuộc nhân loại? Dưới mắt người đời, Maria đâu có tài năng gì đặc biệt, làm sao Maria thành công trong công việc vĩ đại ấy? 
2. Khi được Thiên Chúa chọn, ta cần có tinh thần nào để hoàn thành tốt đẹp sứ mạng mà Ngài giao cho ta? Có ai được Thiên Chúa chọn mà làm hỏng việc Ngài không? Tại sao vậy?


Suy tư gợi ý:

1. Maria nhỏ bé yếu đuối nhưng được Chúa chọn…

Dưới nhãn quan Kitô giáo, chúng ta đang chuẩn bị kỷ niệm một mầu nhiệm vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, khởi đầu một công trình hết sức lớn lao của Thiên Chúa: cứu chuộc nhân loại, thiết lập Nước Trời. Công cuộc vĩ đại này bắt đầu một cách rất âm thầm, nhỏ bé tại một làng quê, với một thôn nữ yếu đuối chẳng mấy người biết. Điều này làm ta nhớ tới dụ ngôn hạt cải của Đức Giêsu: «Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng» (Mc 4,31-32). 

Qua kinh nghiệm tâm linh của nhiều vị thánh, ta thấy Thiên Chúa thường khởi sự những việc hết sức lớn lao bằng những việc hết sức bé nhỏ, với những con người cũng hết sức nhỏ bé. Có như thế người ta mới thấy quyền năng của Ngài, mới thấy Ngài là một Thiên Chúa vĩ đại: «Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh» (1Cr 1,27).

Thật vậy, theo tiêu chuẩn thông thường của người đời, nghĩa là xét về tài năng, thông minh, học vấn, sức khỏe, sắc đẹp, v.v… chắc hẳn Maria không có gì đặc biệt hơn những thiếu nữ khác cùng trang lứa với mình. Trên đời chắc chắn còn những thiếu nữ đặc biệt hơn Maria rất nhiều. Nhưng Maria đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế để cộng tác với Ngài trong công trình vĩ đại này. Ngài chọn Maria vì Ngài muốn chọn, theo sự tự do của Ngài (x. Rm 9,12.16), và cũng «vì bà đẹp lòng Thiên Chúa» (Lc 1,30b). Và Ngài đã thành công trong việc chọn Maria, đang khi có những người khác được Ngài chọn đã làm «hỏng việc» của Ngài, hay đã làm Ngài không hài lòng, chẳng hạn trường hợp vua Saun (x. 1Sm 9,17; 13,13-14), tông đồ Giuđa (x. Mt 26,47-50)…

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là: nhiều người được Thiên Chúa chọn cho công việc của Ngài, tại sao có những người làm nên việc, khiến Ngài thành công và hài lòng như trường hợp của Maria, và cũng có những người làm «hỏng việc», khiến Ngài «thất bại» (từ gượng dùng) hoặc không hài lòng? Ta có thể rút ra bài học nào cho ta khi ta được Thiên Chúa chọn làm công việc của Ngài?



2. Maria xóa bỏ bản ngã mình trước Thiên Chúa

Một trong những yếu tố quan trọng nhất để Thiên Chúa có thể thành công nơi ta, đó là ta biết xóa bỏ bản ngã mình trước Thiên Chúa, xóa bỏ ý riêng mình trước thánh ý Ngài, xóa bỏ dự định hay kế hoạch của mình trước dự định hay kế hoạch của Ngài. Đó chính là tinh thần tự hủy mà Đức Giêsu là gương mẫu hoàn hảo nhất, và kế đó là Đức Maria.

Theo tư tưởng lưu truyền trong giới Công giáo, khi được thiên sứ báo tin, Maria đang dự định sống trọn đời đồng trinh để phụng sự Thiên Chúa. Việc đính hôn với Giuse chỉ là để che mắt thị phi của thiên hạ, vì người đương thời quan niệm sai lầm rằng một phụ nữ sống độc thân là một hình thức bị chúc dữ. Nhưng khi biết thánh ý Thiên Chúa muốn chọn mình làm Mẹ sinh ra Đấng Cứu Thế, thì lập tức nàng từ bỏ tất cả mọi ý muốn hay dự định riêng của mình để vâng theo ý muốn của Thiên Chúa: «Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói» (Lc 1,38).



3. Được Ngài chọn, ta hãy toàn tâm toàn ý cho việc của Ngài 

Nếu Thiên Chúa chọn ta thì là để ta thực hiện công việc của Ngài chứ không phải việc của ta, để ta làm theo ý Ngài chứ không phải ý ta. Nên nếu ta được chọn, ta hãy để Ngài hoàn toàn làm chủ công việc của Ngài mà trong đó ta chỉ là một công cụ Ngài dùng mà thôi. Công cụ thì không hiện hữu cho mình mà cho công việc hay ý muốn của người sử dụng công cụ. Công cụ tốt là công cụ hoàn toàn làm đúng ý người sử dụng. 

Vậy, ta hãy toàn tâm toàn ý cho công việc và mục đích của Ngài, đừng nghĩ gì đến công việc hay mục đích của ta. Nếu công việc hay mục đích của Ngài thành tựu, thì công việc hay mục đích của ta cũng sẽ tự động thành tựu tốt đẹp, có thể gấp trăm lần ta tự lo cho công việc hay mục đích của ta. 

Đức Giêsu có nói: «Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho» (Mt 6,33). Vì thế, việc của ta, hãy hoàn toàn phó thác cho Ngài. Chắc chắn một Thiên Chúa quan phòng tài tình như Ngài sẽ không để việc của ta bị thất bại chỉ vì ta đã toàn tâm toàn ý lo cho việc của Ngài. Hãy tin tưởng chắc chắn như thế!



4. «Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã»

Những người được chọn mà làm «hỏng việc» Ngài – như vua Saun, Giuđa – có thể là những người ban đầu rất nhiệt thành, quên mình, hoạt động vì Thiên Chúa và tha nhân chứ không vì mình. Nhưng tới một lúc nào đó người ấy bị tha hóa, đã đặt mục đích hay công việc của mình lên trên mục đích hay công việc của Ngài, đặt ý mình lên trên ý Ngài, hoặc muốn lèo lái công việc của Ngài theo ý mình, v.v… 

Những người này lúc ban đầu nhờ nhiệt thành và quên mình nên đạt được danh vọng, quyền lực, tiền bạc… nhưng về sau họ đã bị chính những thứ đạt được ấy làm biến chất, tha hóa, khiến họ bị mất ơn Chúa và trở thành những kẻ phá hoại hay cản trở việc Chúa. Do đó, mọi Kitô hữu đang có chức vị cao, đang nắm quyền lực hay có nhiều tiền bạc trong tay cần phải lưu ý lời của thánh Phaolô: «Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12). Coi chừng kẻo mình trở thành như cây chổi cùn, sau khi đã tận tâm tận lực quét đi mọi thứ rác rưởi, thì cuối cùng mình lại trở thành một thứ rác lớn nhất, khó quét đi nhất. 

Vậy, tinh thần tỉnh thức, luôn luôn phản tỉnh, tự xét bản thân là điều rất cần thiết. Hãy coi chừng danh vọng, địa vị, quyền lực, tiền bạc là những yếu tố có khả năng tha hóa và làm biến chất rất mạnh! Vì thế, đời sống thanh đạm, tinh thần từ bỏ, siêu thoát vẫn luôn luôn cần thiết cho đến hết cuộc đời.



5. Người được chọn sẽ bị thử thách

Ai được Thiên Chúa chọn để làm những công việc lớn lao cho Thiên Chúa, thường gặp nhiều thử thách, đau khổ. Đó là cách mà Thiên Chúa vẫn đối xử với những ai Ngài đặc biệt yêu thương và tuyển chọn để tinh luyện người ấy xứng đáng với ơn gọi. Hãy coi những thử thách mà Đức Giêsu và Đức Maria – là những người được Thiên Chúa đặc biệt ưu đãi – phải chịu trong cuộc đời các Ngài thì rõ. 

Đây là kế hoạch của Ngài dành cho những người được Ngài chọn: «Những ai Thiên Chúa đã tiền định thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang» (Rm 8,30). 

Cách thức «làm cho nên công chính» của Ngài chính là thử thách, cho trải qua đau khổ: «Đức Giêsu trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn» (Dt 2,10); «Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được thi hành chức vụ» (1Tm 3,10); «Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội» (1Pr 1,7). Bù lại, vinh quang của những người được Thiên Chúa yêu mến và tuyển chọn cũng rất lớn lao: «Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (Rm 8,18).

Chính nhờ những đau khổ và thử thách ấy nên không ai có thể ganh tị được với vinh quang vô cùng lớn lao mà Thiên Chúa ban cho những ai bền đỗ với những thử thách ấy. Họ rất xứng đáng với vinh quang và hạnh phúc mà Thiên Chúa ban cho họ. Vì thế, khi được Thiên Chúa tuyển chọn, ta hãy sẵn sàng chấp nhận mọi đau khổ và thử thách Thiên Chúa gửi tới. Hãy tin tưởng: «Ai bền chí đến cùng sẽ được cứu thoát» (Mt 10,22; 24,13).



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, để yêu thương và cứu rỗi nhân loại, Cha cần rất nhiều người cộng tác. Cha chọn người cộng tác theo sự tự do của Cha. Con sẵn sàng đáp lại lời mời gọi của Cha, nếu Cha cần đến con. Một khi được kêu gọi, con quyết sẽ toàn tâm toàn ý sống và làm tất cả mọi sự theo sự hướng dẫn của Cha, bất chấp những đau khổ thử thách mà Cha dùng để rèn luyện con. Xin cho con trung thành với quyết tâm ấy.



Share:

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

Vong3b - Không thể làm chứng về Thiên Chúa mà không hề cảm nghiệm gì về Ngài

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng

(17-12-2017)

Bài đào sâu

Không thể làm chứng về Thiên Chúa
mà không hề cảm nghiệm gì về Ngài




  TIN MỪNG: Ga 1,6-8.19-28

Lời chứng của ông Gioan



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Gioan đến để làm chứng. Bình thường, muốn làm chứng điều gì, thì điều quan trọng là gì? Một người chỉ nghe ai kể lại một sự kiện, thì có thế làm chứng cho sự kiện ấy không? Muốn làm chứng cho Thiên Chúa thì sao? Chỉ học hỏi hay nghiên cứu về Ngài thì có thể làm chứng về Ngài không? 
2. Gioan làm chứng cho ai? Ông có tìm cách dựa vào thế của Đấng mình làm chứng để tìm vinh quang cho mình không? Ông tự xưng mình là gì? 
3. Thiên Chúa hay Đức Giêsu mà ta làm chứng, là người mà ta chỉ nghe nói tới, học hỏi và nghiên cứu, hay là một con người sống động, có quan hệ mật thiết và cụ thể với ta, đồng thời ảnh hưởng mãnh liệt trên đời sống ta?


Suy tư gợi ý:

Chủ đề của đoạn Tin Mừng trên là «làm chứng cho Thiên Chúa». Gioan Tẩy Giả là một mẫu gương và là thầy dạy chúng ta về làm chứng. Ta thử tìm hiểu cách làm chứng của Gioan để áp dụng trong cuộc đời Kitô hữu và chứng nhân của ta.



1. «Ông đến để làm chứng và làm chứng cho ánh sáng»

Gioan Tẩy Giả sinh ra và sống trong thế gian là để làm chứng. Trong các tòa án, người làm chứng phải là người chứng kiến tận mắt sự việc xảy ra, và phải chịu trách nhiệm về lời chứng của mình. Nếu lời chứng bị phát hiện là gian dối, họ phải chịu một hình phạt của tòa án. Để lời chứng có giá trị, đôi khi người làm chứng phải thề để mọi người tin rằng điều mình nói là sự thật. Có những người sẵn sàng chấp nhận chịu những đau khổ khủng khiếp và cả cái chết để chứng tỏ lời chứng của mình là sự thật. Một lời chứng như thế thật đáng tin. 

Người làm chứng phải là người có kinh nghiệm thật sự về điều mình làm chứng: hoặc thấy tận mắt sự việc, hoặc cảm nghiệm được sự việc. Nếu mình làm chứng về một điều mà mình chỉ nghe nói, nghe thuật lại, thì lời chứng của mình kém hẳn giá trị. Vì thế, để là một người làm chứng cho Thiên Chúa, thì chính người ấy phải có kinh nghiệm đích thực về Thiên Chúa, phải cảm nhận được tình yêu và quyền năng của Ngài trong đời sống mình. 

Nếu mình chỉ học được một mớ lý thuyết thần học, chỉ nghiên cứu Kinh Thánh hay Lời Chúa như một nhà khoa học nghiên cứu một bản văn, thì mình chưa đủ tư cách làm chứng. Nếu mình chỉ tin Thiên Chúa cách lý thuyết, chính mình chưa xác tín điều mình làm chứng, thì mình chẳng thể sống chết cho niềm tin ấy, lời chứng của mình sẽ chẳng mấy giá trị.

Do đó, chỉ những ai có kinh nghiệm thật sự về Thiên Chúa mới có thể làm chứng cho Ngài một cách hợp tình hợp lý mà thôi. Mình chưa có kinh nghiệm mà đã làm chứng, nhất là làm chứng một cách quả quyết, thì lời chứng ấy đã vượt quá khả năng của mình. Chẳng khác gì một người chỉ nghe nói một sự việc mà đã quả quyết 100% là sự việc ấy có thật như thể mình đã chứng kiến sự việc ấy.

Gioan đến để «làm chứng cho ánh sáng» (Ga 1,7-8). Ánh sáng tượng trưng những gì tích cực, như chân lý, công lý, tình thương… Ngược với ánh sáng là tối tăm. Tối tăm tượng trưng những gì tiêu cực như gian dối, bất công, hận thù… Người của ánh sáng không thể làm chứng cho tối tăm, cũng không thể đồng lõa với tối tăm bằng sự bất động, không phản ứng gì trước những gian dối, bất công, hận thù… Im lặng bất động trong những trường hợp này không phải là tư cách của một người làm chứng cho ánh sáng. 

Để làm chứng, đôi khi phải chấp nhận trả giá. Không chấp nhận trả giá thì lời chứng của mình không đáng tin. Chấp nhận trả giá càng cao, lời chứng càng giá trị, càng đáng tin. Đức Giêsu, Gioan Tẩy Giả, các tông đồ đã chấp nhận trả giá cho lời chứng của mình bằng cái chết. Chính vì thế, lời chứng của các ngài mới được thế giới tin theo.



2. Tinh thần xóa mình khi làm chứng

Bài Tin Mừng nói: «Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng cho ánh sáng» (Ga 1,8). Khi làm chứng cho ánh sáng, ông không tự đồng hóa mình với ánh sáng, không tự nhận mình là đại diện hay biểu trưng của ánh sáng, và cũng không lợi dụng ánh sáng để tìm vinh danh hay lợi lộc cho mình. Ông chỉ biết sứ mạng của mình là làm chứng cho ánh sáng thôi. 

Khi làm chứng, người ta tưởng ông là Đấng Kitô, ông thành thật nói mình không phải. Người ta nghĩ ông là một ngôn sứ, nhưng ông không tự nghĩ mình là ngôn sứ, mặc dù đời sau coi ông là ngôn sứ cuối cùng của thời Cựu ước. Như vậy, tuy ông thực hành vai trò ngôn sứ, nhưng ông không hề tự phong cho mình vinh dự ấy. Danh hiệu ngôn sứ là do người đời sau ban tặng cho ông. 

Ông hoàn toàn xóa mình, không tự coi mình là quan trọng, là một nhân vật cao cả. Ông chỉ tự xưng «là tiếng người hô trong hoang địa» (Ga 1,23), một người xem ra chẳng là gì cả, chẳng mấy ai quan tâm chú ý tới. Đối với Đức Giêsu, người mà ông làm chứng cho, ông luôn chủ trương: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30). Người làm chứng có chịu để cho mình nhỏ đi, thì người mình làm chứng mới lớn lên được!

Còn chúng ta, khi làm việc cho Chúa, làm tông đồ, ta muốn được mọi người tôn vinh, ta thích tự đề cao mình, tự phong cho mình một chức vụ quan trọng, tự xưng là đại diện cho một nhân vật cao cả để mọi người trọng vọng ta. Ta muốn mọi người phải gọi ta bằng danh này hiệu nọ, nếu không được thì ta buồn bực, khó chịu… Đang khi đó, có thể ta chẳng làm chứng cho Thiên Chúa, cho ánh sáng, cho chân lý hay công lý được bao nhiêu, là vì ta muốn mình lớn lên nên Ngài đã phải nhỏ đi. Trước mặt Thiên Chúa, có khi ta chẳng hơn ai, nhưng ta muốn mọi người phải kính nể ta và dành nhiều ưu đãi cho ta, vì ta đang làm việc cho Thiên Chúa… 



3. «Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết»

Gioan muốn làm chứng về «một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết» (Ga 1,26). Rất có thể chính Đức Giêsu đang ở giữa chúng ta, trong chúng ta, bên cạnh chúng ta… mà chúng ta không mấy khi ý thức được. Thật vậy, ít khi ta ý thức Ngài đang hiện diện trong chính bản thân ta (x. 1Cr 3,16-17; 1Cr 6,19; Cv 17,27b-28). Do đó, sự hiện diện của Ngài trong ta trở nên thụ động tương tự như khi Ngài ngủ trên thuyền của các tông đồ giữa cơn phong ba bão tố (x. Mt 8,23-27). Vì thế, giữa cuộc đời bão tố, ta vẫn cảm thấy cô đơn, lo lắng, sợ hãi, tưởng như chẳng ai sẵn sàng cứu giúp ta, chẳng ai tiếp sức mạnh cho ta, khiến ta vẫn yếu đuối, khiếp nhược. Ta vẫn muốn chạy đến cầu khẩn, van xin một Thiên Chúa, một Đức Giêsu ở bên ngoài ta, ở xa ta, qua trung gian một ai đó. Vì thế, ta không nhận được sức mạnh từ một Thiên Chúa ở trong ta.

Ngoài ra, Thiên Chúa còn hiện diện rất sống động bên cạnh ta, nơi những người đang sống quanh ta, nhưng ta không hề nghĩ đến sự hiện diện ấy. Ta vẫn không hề cảm nhận được Thiên Chúa đang ở nơi họ, để đối xử với họ như những hiện thân cụ thể của Ngài, như thánh Phanxicô khó khăn đã từng cầu nguyện: «Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người» (Kinh Hòa Bình).

Do đó, Thiên Chúa đối với ta dường như vẫn rất trừu tượng, vô hình, im lặng, vắng mặt, không sao cảm nhận được! Và lời chứng của ta về Thiên Chúa vẫn là lời chứng của một người chỉ biết Ngài cách lý thuyết, vì chỉ nghe người khác nói về Ngài. Nên lời chứng ấy không phải là lời chứng sống động, mạnh dạn và đầy thuyết phục về một Thiên Chúa mà đúng ra chính ta phải cảm nhận được cách rất cụ thể.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi con tự hào là chứng nhân của Cha, của Đức Giêsu. Nhưng thật ra, con chưa có kinh nghiệm nhiều về Cha, về Đức Giêsu. Con chỉ biết và tin cách lý thuyết, sau khi đã học hỏi về Cha, về Đức Giêsu một vài năm. Thế là con đã cảm thấy mình có thể làm chứng về Cha, về Đức Giêsu cho mọi người, như một nhà chuyên môn làm chứng, hay một người làm chứng chuyên nghiệp. Nghĩ lại, nhiều khi con cảm thấy mình hợm hĩnh quá. Xin Cha giúp con cảm nghiệm đích thực về Cha, về Đức Giêsu sống động trong đời sống của con, để lời chứng của con trở nên giá trị hơn, đáng tin hơn.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây . 


Share:

Vong03a - Thiên Chúa cần người làm chứng cho Ngài, hơn là người chỉ biết rao giảng về Ngài




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng

(17-12-2017)

Thiên Chúa cần người làm chứng cho Ngài,
hơn là người chỉ biết rao giảng về Ngài



ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 61,1-2a.10-11: (1) Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, (2) công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta.

  1 Tx 5,16-24: (16) Anh em hãy vui mừng luôn mãi (17) và cầu nguyện không ngừng. (18) Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu. 


  TIN MỪNG: Ga 1,6-8.19-28

Lời chứng của ông Gioan

(6) Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. (7) Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. (8) Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.

 (19) Và đây là lời chứng của ông Gioan, khi người Do-thái từ Giêrusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi ông: «Ông là ai?» (20) Ông tuyên bố thẳng thắn rằng: «Tôi không phải là Đấng Kitô». (21) Họ lại hỏi ông: «Vậy ông có phải là ông Êlia không?» Ông nói: «Không phải». - «Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?» Ông đáp: «Không». (22) Họ liền nói với ông: «Thế ông là ai để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông?» (23) Ông nói: Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ Isaia đã nói. 

(24) Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pharisiêu. (25) Họ hỏi ông: «Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Kitô, cũng không phải là ông Êlia hay vị ngôn sứ?» (26) Ông Gioan trả lời: «Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. (27) Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người». (28) Các việc đó đã xảy ra tại Bêtania, bên kia sông Giođan, nơi ông Gioan làm phép rửa.




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Thời nay, Thiên Chúa có cần người làm chứng cho Ngài không? Nếu Ngài cần và mời gọi bạn, bạn có sẵn sàng chấp nhận lời mời ấy không?
2. Rao giảng và làm chứng có khác nhau không? Cái nào cần thiết hơn? 
3. Làm chứng có cần phải nói sự thật không? Có thể lấy cớ bảo vệ Giáo Hội, bảo vệ tôn giáo để làm chứng dối, để phản lại sự thật không? Tại sao?


Suy tư gợi ý:

1. Thiên Chúa cần người làm chứng cho Ngài

Qua bài Tin Mừng, ta thấy khi Đức Giêsu đến trần gian, Thiên Chúa cần một người làm chứng cho Con của Ngài, và người ấy là Gioan Tẩy giả. Ông này được kêu gọi để làm công việc ấy. Suốt lịch sử Giáo Hội, thời nào ta cũng thấy Thiên Chúa cần những người làm chứng cho Ngài, cho sự thật, cho công lý, và cho tình thương của Ngài. Có thể nói lịch sử của Giáo Hội là một lịch sử của «làm chứng» và «rao giảng». Rao giảng là để giúp người ta hiểu, nắm vững, còn làm chứng là để giúp người ta tin.

Hiểu và tin là hai chuyện rất khác nhau. Nhiều người hiểu rất rõ mà vẫn không tin, chẳng hạn: nhiều người tìm hiểu Kitô giáo không phải để tin theo, mà để bài bác một cách «nói có sách, mách có chứng». Ngay trong số những người rao giảng Tin Mừng, nhiều người có đời sống thực tế chứng tỏ rằng họ không tin, thậm chí không tin một chút nào điều họ vẫn rao giảng một cách thật hùng hồn, mạnh mẽ. Có những người rất cảm phục và yêu mến con người của Đức Giêsu, nhưng vẫn không tin và theo Ngài, chỉ vì những người mang danh là môn đệ Ngài không chứng tỏ được niềm tin của họ qua cách họ sống.

Trường hợp đánh động nhất là trường hợp của Mahatma Gandhi, người giải phóng dân tộc Ấn Độ. Gandhi rất hiểu, rất yêu mến, rất đồng cảm với Đức Giêsu, thậm chí ông còn sống tinh thần quên mình, từ bỏ và yêu thương của Đức Giêsu một cách gương mẫu (có thể hơn rất nhiều Kitô hữu), nhưng ông hoàn toàn không tin Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế. Ông đã lên tiếng có vẻ như thách thức người Kitô hữu, cụ thể là những người Anh đô hộ dân tộc ông : «Nếu những người Kitô hữu tại Ấn Độ thật sự sống đúng tinh thần của Đức Kitô, thì chẳng cần phải mất công rao giảng, toàn Ấn độ sẽ trở thành Kitô hữu hết». 

Trước mắt ông, những người Kitô hữu − cụ thể là người Anh đang đô hộ dân tộc ông − cũng tham lam, bất công và tàn bạo không kém gì những kẻ xâm lăng khác. Chắc hẳn ông đã từng tự hỏi: sự siêu việt của Kitô giáo – như các Kitô hữu thường tự hào – nằm ở đâu? Sự siêu việt đó chẳng lẽ chỉ có thể tin chứ không thể chứng tỏ cụ thể bằng thực tế hay bằng hành động được sao?



2. Ngày nay, nhiều người ‘làm tông đồ’ chỉ biết ‘rao giảng’ chứ không biết ‘làm chứng’

Để được cứu rỗi, đức tin là một yếu tố tối cần thiết: «Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án» (Mc 16,16; x. Cv 16,31; Rm 10,9). Nhưng làm sao tin được một chuyện mình không biết, không thấy, nếu không có ai nói cho mình biết? Nhưng làm sao tin được người nói cho biết ấy, nếu người ấy không có bằng chứng hay không có đủ uy tín để bảo đảm điều họ nói? Làm sao tin được người nói hay rao giảng thật là hay, nhưng đời sống hay việc làm của họ hoàn toàn đi ngược lại điều họ rao giảng?

Ngày xưa, thời Giáo Hội sơ khai, Kitô giáo lan truyền rất nhanh, vì thời ấy, các tông đồ làm chứng nhiều hơn là rao giảng. Còn ngày nay, Kitô giáo lan truyền rất chậm, rất nhiều nơi bị giảm sút, tại sao? − Vì những người làm tông đồ ngày nay quá chú trọng tới việc loan báo, rao giảng, mà coi rất nhẹ việc làm chứng! Đó là một sự thật mà người Kitô hữu cần nhận chân một lần cho sâu sắc, để chỉnh trang lại cách truyền giáo hay làm tông đồ của mình, đặc biệt nhân dịp kỷ niệm lần thứ 2017 ngày Đức Giêsu đến trần gian.



3. Tại sao phải làm chứng? − Thưa: Để người ta tin

Ngày nay, để tìm hiểu Kitô giáo, người ta chỉ có cách là tìm hiểu trong sách vở, hoặc nghe một người Kitô hữu nào đó trình bày. Nhưng từ chỗ ‘hiểu’ đến chỗ ‘tin’ là cả một quá trình khó vượt qua nếu không có một động lực mạnh thúc đẩy! 

Ngày nay, không còn có những nhân chứng đã tận mắt nhìn thấy Đức Giêsu sống, nói, hành xử, làm phép lạ, chết và sống lại như thời Giáo Hội sơ khai nữa. Những chuyện kể về Đức Giêsu phần nào cũng tương tự như bao chuyện kể khác, về Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Đức Phật, Đức Khổng, v.v… Làm sao người ta có thể tin vào Đức Giêsu nhiều hơn là tin vào các vị giáo chủ khác? 

Người thời nay chịu ảnh hưởng tinh thần khoa học thực nghiệm, lời nói suông không còn dễ dàng được nhận là đúng. Muốn họ tin hay chấp nhận phải có bằng chứng. Vì thế, làm tông đồ thời nay cần làm chứng hơn là rao giảng.

Rao giảng thì chỉ cần một mớ kiến thức, một chút suy luận; còn làm chứng đòi hỏi một sự dấn thân thật sự, nó huy động cả một cuộc đời, cuộc đời toàn diện. Rao giảng mà không làm chứng chỉ là nói lên những lời nói rẻ tiền, đương nhiên ít tác dụng. Còn làm chứng là nói lên những lời nói có giá trị sống động vì người nói dám lấy cả cuộc đời, cả mạng sống để bảo chứng cho lời nói ấy. Nhờ thế mà người nghe mới dám đặt niềm tin.

Những người ngoài Kitô giáo phải dựa vào đâu để biết Kitô giáo là chính đạo? để tin Đức Kitô là Đấng cứu độ, thậm chí là Đấng cứu độ duy nhất? Làm sao họ tin được, khi mà đời sống của người Kitô hữu chẳng khác gì và chẳng hơn gì của họ? khi mà người Kitô hữu chẳng chứng tỏ được một cách cụ thể mình đã được cứu độ ở chỗ nào? 

Nếu được cứu độ, ít ra người Kitô hữu chúng ta phải tự nhiên có một lối sống nào đó chứng tỏ mình được cứu độ, chẳng hạn người khác có thể thấy nơi chúng ta nét vui tươi, hạnh phúc và tình yêu thương nhau được biểu lộ hồn nhiên trong đời sống, bất chấp thuận cảnh hay nghịch cảnh. Sống như thế chính là làm chứng!



4. Hãy xem Gioan Tẩy giả làm chứng thế nào

Chính vì nói thế nào sống như vậy, nên Gioan Tẩy giả đã thu hút được quần chúng đến với ông và làm theo những gì ông yêu cầu: «Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan» (Mc 1,5). 

− Gioan là một khuôn mẫu điển hình cho hạng người làm chứng hơn rao giảng: «Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin» (Ga 1,7). Còn giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái là điển hình cho hạng rao giảng hơn làm chứng: «Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm» (Mt 23,2-3).

− Chứng từ của Gioan được thể hiện qua một số chi tiết: Gioan ăn mặc đơn giản: «mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da» (Mc 1,6), khác hẳn với cách ăn mặc của các kinh sư: «đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài» (Mt 23,5).

− Gioan sống khó nghèo, thanh đạm, «ăn châu chấu và mật ong rừng», còn các kinh sư thì giàu sang phần nào nhờ «nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ» (Mt 23,14).

− Gioan thì khiêm nhường tự hạ: «Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người» (Ga 1,27), còn các kinh sư thì thích tự đưa mình lên: «Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rápbi”» (Mt 23,6-7).

Ta thấy khi làm chứng, Gioan không màng tiếng khen, không tìm vinh quang cho mình, đang khi nhiều người mang danh làm chứng cho Thiên Chúa, nhưng thực tế là đang tự làm chứng cho mình, để mình được khen ngợi, vinh danh, hầu có quyền lực, tiền bạc, địa vị… 

Nhưng điều quan trọng nhất của người làm chứng là phải dám nói sự thật.



5. Người làm chứng phải dám nói sự thật

Nói sự thật có thể bất lợi cho mình hoặc cho người khác. Gioan đã dám nói sự thật, dù phải chết. Ông không sợ quyền lực, không hùa theo kẻ có quyền lực. Trước điều sai trái, ông không im lặng để được an toàn bản thân, để được xã hội ưu đãi, nhưng ông lên tiếng làm chứng cho lẽ phải, ông không thể nói ngược lại lương tâm mình. Không thể nói điều sai trái là đúng, hay nói điều đúng là sai trái. 

Không thể lấy cớ bảo vệ tôn giáo để nói sai sự thật, để hùa theo những kẻ sai trái. Tôn giáo mà cần dối trá hay hùa theo quyền lực để tồn tại là thứ tôn giáo bỏ đi, không giá trị. Đức Giêsu không hề bảo vệ uy tín cho giới lãnh đạo tôn giáo khi họ vẫn ngoan cố với những điều sai trái (x. Mt 23). Gioan Tẩy Giả cũng không bảo vệ uy tín của nhà vua khi nhà vua cố tình làm điều sai trái (x. Mt 14,3-12). Chính vì thế, Gioan đã bị trảm quyết, còn Đức Giêsu đã bị coi là kẻ phá hoại tôn giáo! 

Ngài đã coi sự thật cao trọng hơn chính tôn giáo! Theo Ngài, bảo vệ sự thật mới chính là bảo vệ tôn giáo. Còn bảo vệ tôn giáo bằng cách nói sai sự thật, hay hùa theo quyền lực sai trái chính là phá hoại tôn giáo từ bản chất!

Khi ta làm chứng cho chân lý, chắc chắn sẽ có những người bạn khuyên ta: «Anh thật là dại dột, can gì phải làm cho người ta ghét mình như vậy?» Nói như thế, họ mặc nhiên cho rằng những người như Đức Giêsu hay Gioan Tẩy giả chính là phường dại dột! Thế mà họ vẫn tuyên xưng Đức Giêsu là Thầy của họ. Thật mâu thuẫn!



CẦU NGUYỆN

Tôi nghe Chúa nói với tôi: «Thời nào cũng có vô số người sẵn sàng rao giảng sự thật, nhưng rất hiếm người sẵn sàng làm chứng cho sự thật. Nhưng sự thật chỉ có thể tin khi có người dám làm chứng. Làm chứng thì phải trả giá, đôi khi rất mắc. Con có sẵn sàng làm chứng không?»


Share:

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Vong02b - Để đón Chúa đến, cần sám hối và thay đổi cuộc sống

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Vọng

(10-12-2017)


Bài đào sâu

Để đón Chúa đến,
cần sám hối và thay đổi cuộc sống



  TIN MỪNG: Mc 1,1-8

Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Chủ đề chính trong lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả là gì? Theo ông, để chuẩn bị đón Chúa đến thì chủ yếu phải làm gì? 
2. «Dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi» có ý nghĩa gì? Ta phải làm gì cụ thể để thực hiện lời này? 
3. Ta có cần phải «sám hối» và «chịu phép rửa» trong đời sống cụ thể và hiện tại của ta không? Điều đó nghĩa là gì? và muốn thế phải làm gì? 

Suy tư gợi ý:

1. Chuẩn bị đón Chúa đến đúng theo cách thức Ngài muốn

Khi đến dọn đường cho Chúa đến, Gioan Tẩy Giả yêu cầu dân chúng: «Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi» (Mc 1,3). Như vậy, ông đã chỉ cho ta cách chuẩn bị tâm hồn để đón Chúa đến với ta, để Ngài có thể ở ngay trong tâm thức ta, biến đổi tâm hồn ta, ban cho ta sức mạnh và tình yêu đích thực để ta thật sự yêu thương và sẵn sàng hy sinh cho tha nhân. 

Hiện nay, rất có thể ta chưa cảm nhận được Chúa ở với ta, chưa được Chúa biến đổi thật sự nên «con người mới» đầy thần khí, đầy tình yêu và sức mạnh (x. Ep 4,24; Cl 3,10; Rm 6,4b; 7,6b; 8,11b; 1Cr 5,7; 2Cr 5,17; Gl 6,15). Sở dĩ như vậy là vì ta chưa thật sự chuẩn bị đúng cách để Chúa đến với ta cùng với sức mạnh và ân sủng của Ngài. Thử nghĩ xem, khi đón một nhân vật quan trọng đến nhà ta (chẳng hạn một vị tổng thống, một giám mục…), không chỉ nói chuyện với ta ở phòng khách, mà còn ăn uống nghỉ ngơi trong nhà ta, thì ta sẽ phải chuẩn bị thế nào cho phải lẽ? Nếu ta không chuẩn bị gì cả, khách đến mà nhà cửa bệ rạc, lôi thôi, bê bối, thì khách sẽ nghĩ thế nào? Làm sao họ có thể hết lòng giúp đỡ ta khi ta tỏ ra không tôn trọng, quý mến, không hết lòng với họ không? Do đó, câu nói trên của Gioan Tẩy Giả là một lời soi sáng rất cần thiết và ích lợi cho ta. Ta cần khai triển câu nói ấy.



2. «Sửa lối cho thẳng để người đi»

Muốn đời sống tâm linh vững vàng để có thể phát triển lên cao, điều hết sức quan trọng là tâm hồn ta phải thật ngay thẳng. Khi làm nhà, người thợ phải xây tường và cột cho thật thẳng đứng. Nếu chúng bị nghiêng, cong, vẹo, thì tòa nhà sẽ không vững: khi bị chấn động, nhà có thể sập đổ. Tòa nhà tâm linh của ta chỉ có thể vững bền và xây lên cao vút nếu nó được xây bằng tấm lòng thẳng băng, những ý tưởng ngay chính, những tâm tình chân thật, không gian dối, quanh quéo, nhiều ẩn ý… 

Tâm hồn ngay thẳng là tâm hồn không gian dối. Lòng nghĩ thế nào thì bên ngoài lộ ra thế ấy, không giả bộ, giả hình, đóng kịch. Tâm hồn ngay thẳng là một tâm hồn luôn tôn trọng sự công bằng đối với mọi người, không xử bất công với tha nhân, không để người khác thiệt thòi vì mình. Luôn luôn minh bạch và sòng phẳng về tiền bạc, ơn nghĩa. Người nào đáng khen thì khen ngợi thành thật, không chấp nhận nịnh nọt, bợ đỡ. Thấy người khác hơn mình thì mừng cho họ, không ganh tị, dèm pha hay tìm cách phê bình giảm giá họ. Không chấp nhận những lợi lộc bất chính, không mong được hưởng nhiều hơn những gì mình xứng đáng. Không chấp nhận những phương tiện bất chính hay bất minh để đạt cho được mục đích của mình, v.v… Người ngay thẳng làm việc gì cũng «đường đường chính chính» mà làm. Người ta thường dùng từ ngữ «con người đàng hoàng» để chỉ những con người ngay thẳng, công chính.



3. Để sống ngay thẳng

Một trong những động lực quan trọng giúp ta sống ngay thẳng nhưng cũng có thể thúc đẩy ta vào những con đường quanh co uẩn khúc, đó là những hoài bão, tham vọng, ước muốn cá nhân của ta. Đó là những động lực tự nhiên rất mạnh có thể thúc đẩy ta tìm cách đạt được mục đích đang nhắm đến với bất cứ giá nào. Hoài bão, ước muốn là điều rất tự nhiên trong lòng mỗi người. Tuy nhiên: 

– Có những hoài bão hay ước muốn cao thượng, tốt lành, vị tha, chúng là những động lực quý giá nâng cao tâm hồn ta, thúc đẩy ta sống cao thượng, dẫn ta đi trên những con đường ngay thẳng. Người không có những hoài bão hay ước muốn cao thượng khó vượt lên khỏi nếp sống tầm thường của đại đa số con người. Các vị thánh, các vĩ nhân trên thế giới đều là những người có những hoài bão lớn, những ước muốn lớn tốt đẹp, vị tha, chúng thúc đẩy các vị vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, yếu đuối để sống một cuộc sống cao đẹp.

– Cũng có những hoài bão hay ước muốn thấp hèn, vị kỷ, muốn «cái tôi» của mình được đề cao, được vinh quang, được hơn hẳn mọi người. Khi những hoài bão hay ước muốn này mạnh mẽ, chúng sẽ thúc đẩy ta vượt qua mọi trở ngại để đạt được mục đích bằng bất cứ phương tiện nào, bất kể tốt xấu. Chúng có thể dẫn ta đi vào những đường lối không ngay thẳng, và làm cho lòng ta quanh quéo, ẩn khúc.

Vì thế, muốn đi đường ngay, muốn cho lòng của ta luôn luôn thẳng, ta phải từ bỏ những tham vọng cá nhân thấp hèn, những ham muốn ích kỷ. Muốn dẹp bỏ những tham vọng cá nhân, những ham muốn ích kỷ ấy, muốn chúng không tự nhiên phát sinh trong lòng ta, ta phải coi thật nhẹ chính «cái tôi» của mình và những gì thuộc về nó. Đó cũng chính là thực hiện việc «từ bỏ chính mình» (Mt 16,24), một điều kiện quan trọng nhất để theo Chúa mà khá nhiều người mang danh theo Chúa chẳng quan tâm đến. Đó chính là «mang lấy ách» Đức Giêsu (x. Mt 11,29-30): hãy mang lấy «ách» này khi tâm hồn chúng ta mỏi mệt vì những gánh nặng của tham vọng cá nhân. 

Khi bỏ đi những tham vọng cá nhân, tâm hồn ta sẽ luôn luôn bình an, nhẹ nhàng, thoải mái. Nếu biến những tham vọng cá nhân thành những hoài bão vị tha, muốn phục vụ và đem lại hạnh phúc cho tha nhân, thì rất nhiều điều tốt đẹp sẽ đến với ta. Lúc đó có khi ta lại đạt được những điều mà những kẻ đầy tham vọng cá nhân có nỗ lực bao nhiêu cũng không đạt được. Lúc đó ta mới cảm nghiệm được câu «được gấp bội ở đời này» (Lc 18,30) mà Đức Giêsu hứa cho những ai thật sự theo Ngài.



4. Sám hối và chịu phép rửa

Sau khi Gioan yêu cầu mọi người «sửa lối cho thẳng» (Mc 1,3) để đón Chúa đến, ông hô hào họ sám hối (x. Mt 3,2.8) và chịu phép rửa (Mt 3,6; Mc 1,4; Lc 3,3). Trong bối cảnh này, sám hối là hối hận về lối sống quanh co uẩn khúc của ta trong quá khứ để quyết tâm sống một đời sống mới chân thật, ngay thẳng. Chịu phép rửa bằng nước chỉ là một dấu chỉ bên ngoài của một sự «lột xác» hay «hoán cải» thật sự ở bên trong. Không có sự «hoán cải» từ bên trong này thì phép rửa bên ngoài hoàn toàn vô nghĩa, không có một giá trị tâm linh nào cả. Mọi nghi thức tôn giáo bên ngoài phải luôn luôn đi kèm với một thái độ tâm linh phù hợp bên trong thì chúng mới có giá trị trước Thiên Chúa. 

«Phép rửa» hay sự «lột xác» xảy ra trong nội tâm này phải là sự «từ bỏ chính mình» (Mt 16,24; Mc 8,34; Lc 9,23), «chết đi “cái tôi” của mình» (x. Ga 12,24; Rm 6,3-8.11), và thay thế nó bằng chính Thiên Chúa. Đó phải là một «cuộc đảo chính», một «cuộc cách mạng» trong nội tâm ta. «Cái tôi» của ta cần phải được «hạ bệ», không được coi là quan trọng nữa, không còn làm vua cai trị mọi tư tưởng, hành vi hay ý muốn của ta nữa, mà vị vua cai trị lòng ta phải là Đức Giêsu. Ta không còn làm theo lệnh hay ý muốn của ta nữa, mà theo lệnh truyền và ý muốn của Ngài trong mọi giây phút đời sống ta. 

Lời của Gioan phải thành hiện thực trong «vương quốc» tâm hồn ta: «Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người» (Mc 1,7). Thực hiện được như thế, ta sẽ trở thành «con người mới» (Ep 4,24), sống theo «tinh thần mới» (Rm 7,6b). Đó chính là lãnh nhận «phép rửa trong Thánh Thần» (Mc 1,8) mà Gioan muốn nói tới.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Gioan Tẩy Giả đã kêu gọi con «sửa lối cho thẳng» để đón Đức Giêsu đến trong tâm hồn con. Nhưng con cảm thấy lòng con chưa được thẳng. Con vẫn tự hào vỗ ngực xưng mình là người theo Đức Giêsu. Nhưng điều kiện căn bản và chính yếu nhất để theo Ngài là «từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24) thì con lại chẳng thực hiện và cũng chẳng quan tâm thực hiện. Ai nói động đến con hay động chạm đến quyền lợi con một chút là con phản ứng rất mãnh liệt. Trái lại, tha nhân chung quanh con có bị thiệt hại, bị áp bức, bị chà đạp thì con chẳng thèm quan tâm, chẳng hề phản ứng gì. Trong con, «danh» và «thực», bên trong và bên ngoài, hình thức và nội dung rõ ràng là trái nghịch nhau. Đó là một sự quanh quéo trong lòng con mà người ngoài có thể thấy được khá rõ ràng. Xin giúp con thành thực với chính bản thân mình, để cái «thực» trong con xứng hợp với cái «danh» bên ngoài của con. Có như thế, con mới có thể đón nhận Đức Giêsu, Con của Cha, vào tâm hồn con cách xứng hợp. Xin giúp con thật sự «từ bỏ chính mình» đúng với bản chất mà một người «theo Chúa» phải có.


Share:

Vong02a - Phải làm gì để dọn đường đón Chúa đến?




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Vọng

(10-12-2017)


Phải làm gì
để dọn đường đón Chúa đến?




ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 40,1-11: (3) Có tiếng hô: «Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. (4) Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hóa thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu».

  2 Pr 3,8-14: (11) Muôn vật phải tiêu tan như thế, thì anh em phải là những người tốt dường nào, phải sống đạo đức và thánh thiện biết bao. 

  TIN MỪNG: Mc 1,1-8

Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng

(1) Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa: (2) Trong sách ngôn sứ Isaia có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. (3) Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.  (4) Đúng theo lời đó, ông Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. (5) Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan.

 (6) Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. (7) Ông rao giảng rằng: «Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. (8) Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần».




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao Tin Mừng Máccô lại bắt đầu bằng câu chuyện của Gioan Tẩy giả, mà không bắt đầu bằng chuyện Đức Giêsu giáng sinh? Việc dọn đường của Gioan có ý nghĩa gì đặc biệt đối với người Rôma? 
2. Dựa theo tinh thần bài Tin Mừng, để dọn đường đón Chúa đến, chúng ta cần làm gì một cách cụ thể? Những hình ảnh «dọn sẵn con đường của Đức Chúa», «sửa lối cho thẳng để Người đi» có ý nghĩa gì? 
3. Việc dọn đường Chúa đến có liên hệ gì với những quan hệ của ta với tha nhân không?

Suy tư gợi ý:

1. Gioan Tẩy Giả, người dọn đường để Đức Giêsu đến

Khởi đầu Tin Mừng Máccô là chuyện Gioan Tẩy Giả loan báo và dọn đường cho Đức Giêsu đến, khác với Mátthêu và Luca khởi đầu bằng chuyện Đức Giêsu giáng sinh. Tại sao? Vì Tin Mừng Máccô được viết cho người Rôma. 

Theo quan niệm và thông tục của người Rôma, các nhân vật quan trọng đi đến đâu đều phải có người dùng loa thông báo cho dân chúng biết trước mấy ngày, vừa để làm nổi bật sự quan trọng của nhân vật đó, vừa để dân chúng sửa sang những con đường trong vùng cho ngay thẳng, bằng phẳng, sạch sẽ, vừa để dân chúng đón tiếp hai bên đường cho long trọng nếu vấn đề an ninh cho phép. Vì thế, để giới thiệu Đức Giêsu cho các Kitô hữu Rôma, thánh sử Maccô đã khởi đầu Tin Mừng bằng câu chuyện của Gioan Tẩy Giả, như thế sẽ hiệu quả và lôi cuốn sự chú ý hơn. 

Ngoài ra, để nói lên tính cách đặc biệt thần thiêng của việc dọn đường ấy, thánh sử còn trích dẫn lời của 2 ngôn sứ Isaia và Malaki đã loan báo trước đó khoảng 450-550 năm (tương đương với thời của các vị giáo chủ các tôn giáo châu Á): «Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta» (Ml 3,1), «Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi» (x. Is 40,3). 

Phần chúng ta, khởi đầu năm phụng vụ mới, chúng ta cũng cần chuẩn bị đón mừng kỷ niệm Đức Giêsu đến trong nhân loại, đồng thời đón mừng Ngài đến trong tâm hồn mỗi người. Vì thế, thiết tưởng bản thân mỗi người cũng như toàn Giáo Hội hãy dọn đường đón mừng Ngài. Dọn đường thế nào thì Isaia và Gioan Tẩy Giả đã chỉ cho chúng ta.



2. Dọn đường đón mừng Chúa đến

Ngôn sứ Isaia viết: «Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hóa thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu» (Is 40,3-4). Như vậy, theo ngôn sứ Isaia, để đón Chúa đến, việc đầu tiên là phải mở một con đường. Muốn thế, phải bạt núi, san đồi, lấp thung lũng, đổ đầy các hố rãnh. Đó là nói theo ngôn ngữ hình tượng, mà người nghe đều phải hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa tâm linh. 

Còn chúng ta, trong thực tế, chúng ta cần làm gì để đón Chúa đến?


a) Phải mở một con đường, nghĩa là: muốn và quyết tâm gặp gỡ Chúa

Chúa đến để gặp gỡ và đem lại cho chúng ta sự cứu độ, không chỉ ở đời sau mà còn ở ngay đời này: một sự bình an và hạnh phúc siêu nhiên, tuyệt vời, không phải thứ bình an hạnh phúc kiểu thế gian vốn bị lệ thuộc vào những điều kiện trần tục (x. Ga 14,27). Nhưng để việc gặp gỡ đó thành hiện thực, chính chúng ta cũng phải mong muốn và quyết tâm gặp gỡ Ngài. Ngài không thể đến với ta nếu chính ta không tích cực muốn điều đó. Do đó, trở ngại lớn nhất khiến chúng ta không thể gặp gỡ Ngài chính là chúng ta không thật sự muốn gặp gỡ Ngài. 

Vì khi gặp gỡ Ngài, Ngài sẽ đòi hỏi chúng ta phải đối diện với sự thật của chính bản thân chúng ta. Nhưng chúng ta thường muốn trốn tránh sự thật, tránh việc phải đối diện với lương tâm mình… Vì điều này đòi buộc ta phải chỉnh đốn lại cách sống của mình, phải từ bỏ những đam mê, những thói xấu, những bất công vốn đem lại cho ta vui thú, lợi lộc, quyền lực, danh vọng là những thứ ta rất ham thích. Như vậy muốn Chúa đến với ta, ta phải khai phá một con đường, dẹp tất cả mọi trở ngại. Con đường ấy chính là tâm trạng sẵn sàng đón Chúa đến, sẵn sàng đến với Ngài, gặp gỡ Ngài với bất cứ giá nào.


b) Con đường thẳng ngay, bằng phẳng, nghĩa là: tâm hồn chính trực

Với những ai muốn đón Chúa đến, Gioan Tẩy Giả yêu cầu: «Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi» (Mc 1,3). Khi đón một nhân vật quan trọng đến một vùng nào, người vùng đó phải dọn dẹp đường cho ngay thẳng, bằng phẳng, sạch đẹp. Cũng vậy, để đón Chúa đến, ta cũng phải sửa lại những con đường trong tâm hồn ta cho ngay thẳng, bằng phẳng, sạch đẹp. Nghĩa là tâm hồn ta phải luôn ngay thẳng, chính trực, không quanh co, gian dối, giả tạo…

Ngay thẳng là một trong những yếu tố chính yếu của sự công chính, thánh thiện. Thiết tưởng người Kitô hữu cần phải tạo cho mình một tư cách ngay thẳng, chính trực, nói gì hay làm gì cũng phải «quang minh chính đại», «đường đường chính chính», không lén lút, giấu giếm, không làm ai phải nghi ngờ điều gì. Tư cách của người Kitô hữu phải là tư cách của một người quân tử, tôn trọng sự thật, nghĩ thế nào nói thế nấy, và nói thế nào làm thế nấy. Đức Giêsu nói: «Hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”, thêm thắt điều gì là do ác quỷ» (Mt 5,37). 

Nghĩ một đằng nói một nẻo, hay nói một đằng làm một nẻo, hình thức bên ngoài không phù hợp với nội dung bên trong, đều là tư cách của tiểu nhân, của phường gian ác, không thể là tư cách của người Kitô hữu: «Đường lối của kẻ gian ác thì quanh co, hành động của người trong sạch thì ngay thẳng» (Cn 21,28); «Thiên Chúa ưa điều chính trực, ghét điều gian ác» (Dt 1,9); «Ngài ghê tởm tâm địa quanh co» (Cn 11,20).

Nguyên nhân biến con người thành quanh co, giả hình, mưu mô… chính là tâm địa ích kỷ, lắm tham vọng, muốn phình to bản ngã. Tâm địa này khiến người ta cố gắng đạt được những điều mình ham muốn – danh vọng, quyền lực, tiền bạc – với bất cứ phương tiện nào, kể cả phương tiện xấu, và bằng bất cứ giá nào, kể cả tội ác. Từ đó con người bị tham vọng và đam mê của mình thu hút, mê hoặc, dẫn đưa mình vào con đường cong queo của tội ác. 

Do đó, «sửa lối cho thẳng để Người đi» (Mc 1,3b) một cách căn bản là dần dần diệt bỏ khuynh hướng ích kỷ, thích đặt nặng «cái tôi», cùng với những ý kiến, ý muốn, quan điểm của mình. Khuynh hướng này gây nên tất cả mọi lồi lõm, mọi cản trở khiến Chúa khó đến với ta, và ta khó đến với Chúa. Hãy noi gương Gioan Tẩy giả, sống thanh đạm: «mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng» (Mc 1,6); không tham vọng, không ham đề cao «cái tôi» của mình, sẵn sàng nhìn nhận sự thật hèn kém của mình như Gioan: «Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người» (Mc 1,7).


c) Đường đến với Chúa cũng chính là con đường đến với tha nhân

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa tự đồng hóa với tha nhân của ta (x. Mt 18,5; 25,40.45; Mc 9,37; Lc 9,48). Do đó, người Kitô hữu không thể quan niệm Thiên Chúa độc lập với tha nhân của mình, không thể yêu mến Thiên Chúa mà không yêu tha nhân, không thể đến với Thiên Chúa bằng một con đường khác với con đường đến với tha nhân. Ngược lại, con người không thể yêu thương tha nhân mà không yêu mến Thiên Chúa, không thể đến với tha nhân bằng con đường khác với con đường đến với Thiên Chúa. 

Chủ trương chỉ yêu tha nhân không cần đếm xỉa gì đến Thiên Chúa, hay ngược lại, chỉ yêu Thiên Chúa mà không đếm xỉa gì đến tha nhân đều là những tình yêu giả tạo, không thực tế. Do đó, muốn đến và gặp gỡ Thiên Chúa không gì tốt đẹp và chắc chắn bằng đến hay gặp gỡ Ngài nơi tha nhân của ta. Và muốn đến và gặp gỡ tha nhân không gì bảo đảm và tạo hạnh phúc cho họ bằng đến và gặp gỡ họ trong Thiên Chúa. 

Đối với người Kitô hữu, không thể tách rời Thiên Chúa khỏi tha nhân, và tách rời tha nhân khỏi Thiên Chúa. Thánh Phanxicô Khó khăn trong Kinh Hòa Bình đã cầu nguyện: «Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người». Không thể yêu mến và phụng sự Thiên Chúa đích thực một cách hoàn toàn độc lập với tha nhân, với đồng loại.

Vậy, đón Chúa đến, không gì làm Chúa hài lòng bằng sửa sang lại mọi quan hệ của ta với tha nhân cho tốt đẹp hơn, tình nghĩa hơn: làm sao để cha mẹ ta cảm thấy ta thật sự là con hiếu thảo, con cái ta thấy ta thật sự là cha mẹ tốt, anh chị ta thấy ta là người em tốt, các em ta thấy ta là người anh/người chị tốt, bạn bè ta thấy ta là người bạn tốt, những nhà chung quanh ta thấy ta là hàng xóm tốt, đồng bào ta thấy ta là một công dân có ý thức trách nhiệm đối với tổ quốc, đồng đạo ta thấy ta biết góp phần xây dựng Giáo Hội… Hãy sống làm sao để không mấy ai có thể chê trách ta được, và ai cũng cảm nhận được tình thương của ta.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha là một Thiên Chúa luôn luôn đồng hóa với tha nhân của con. Con mắt đức tin luôn luôn khiến con thấy họ là hình ảnh của Cha, là hiện thân của Cha bên cạnh con. Nhờ đó, con có thể gặp gỡ Cha trong những người sống chung quanh con, con có thể yêu thương và phục vụ Cha bằng cách yêu thương phục vụ họ. Vì thế, chuẩn bị đón Cha đến trần gian, không gì tốt đẹp hơn là làm cho môi trường con đang sống biến thành một môi trường yêu thương. Xin giúp con thực hiện điều Cha mong muốn nhất ấy.


Share: