Thứ Ba, 20 tháng 3, 2018

Lễ Lá 1 − Con người yếu đuối, rất dễ thay lòng đổi dạ




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật Lễ Lá
(nghi thức rước lá)

(25-3-2018)



Con người yếu đuối,
rất dễ thay lòng đổi dạ




ĐỌC LỜI CHÚA


  TIN MỪNG (nghi thức rước lá): Mc 11,1-10

Dân chúng đón rước Đức Giêsu 

(1) Khi Ðức Giêsu và các môn đệ đến gần thành Giêrusalem, gần làng Bếtphaghê và Bêtania, bên triền núi Ôliu, Người sai hai môn đệ (2) và bảo: “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Tới nơi, sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh tháo dây ra và đem nó về đây. (3) Và nếu có ai bảo: «Tại sao các anh làm như vậy?», thì cứ nói là Chúa cần đến nó và Người sẽ gởi lại đây ngay.” (4) Các ông ra đi và thấy một con lừa con cột ngoài cửa ngõ, ngay mặt đường. Các ông liền tháo dây lừa ra. (5) Mấy người đứng đó nói với các ông: «Các anh tháo con lừa ra làm gì vậy?» (6) Hai ông trả lời như Ðức Giêsu đã dặn. Và họ để mặc các ông.

(7) Hai ông đem con lừa về cho Ðức Giêsu, lấy áo choàng của mình trải lên lưng nó, và Ðức Giêsu cỡi lên. (8) Nhiều người cũng trải áo họ xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá ngoài đồng mà rải. (9) Người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: «Hoan hô! Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Ðức Chúa! (10) Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Ðavít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!» (11) Ðức Giêsu vào Giêrusalem và đi vào Ðền Thờ. Người rảo mắt, nhìn xem mọi sự, và vì giờ đã muộn, Người đi ra Bêtania cùng với Nhóm Mười Hai.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao người Do Thái thay đổi nhanh như thế: vừa mới tung hô Đức Giêsu như một vị vua, thế mà chỉ mấy ngày sau đã xin thế quyền đóng đinh Ngài? Tại sao Phêrô quả quyết như đinh đóng cột là dù chết vẫn trung thành với Thầy, thế mà chỉ mấy tiếng đồng hồ sau đã chối Thầy? Bạn có thể thay đổi nhanh như thế chăng?  
2. Lý do gì đã khiến người ta thay đổi nhanh chóng? Lý do ấy có ở trong bản thân tôi không? Khi nhận ra lý do ấy cũng có trong tôi, tôi có thông cảm với những thay đổi của người khác không?

Suy tư gợi ý:

1. Con người dễ thay đổi

Trong bài Tin Mừng của nghi thức rước lá, ta thấy thái độ của người Do Thái là nhiệt tình tung hô Đức Kitô, như muốn tôn Ngài làm vua. Nhưng trong bài Tin Mừng thương khó, ta lại thấy thái độ của họ là hùa theo sự thúc đẩy của các tư tế mà đòi giết Ngài, đồng thời xin tha Baraba. Hai sự kiện, hai thái độ đó xảy ra cách nhau không bao lâu. 

Điều làm tôi nhiều khi rất ngạc nhiên là tại sao dân chúng lại thay đổi thái độ nhanh như vậy đối với Đức Kitô? Tương tự, trong bài thương khó, khi Đức Giêsu tiên báo «Tất cả anh em sẽ vấp ngã» (Mc 14,17), ta thấy Phêrô quả quyết: «Thưa Thầy, dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không» (Mc 14,29). Nhưng chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, ông đã chối Thầy mình tới ba lần, chỉ vì sợ người ta biết mình là môn đệ của Thầy, cho dù lúc đầu chỉ là một đứa đầy tớ gái của vị thượng tế hỏi ông (x. Mc 14,66-72)

Đôi khi tôi tự hỏi: liệu mình có thể thay đổi thái độ nhanh chóng như thế không? Tôi thường tự nhủ rằng mình sẽ không thay đổi, sẽ trước sau như một, sẽ trung thành với Chúa, với lập trường của mình, sẽ chung thủy với người bạn trăm năm của mình mãi mãi, v.v… Và tôi nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ thay đổi. Nhưng kìa chung quanh tôi có biết bao người đã thay đổi! Họ cũng như tôi, tưởng sẽ không bao giờ thay đổi!


2. Kinh nghiệm của tôi

Có những người tôi tưởng rằng sẽ không bao giờ thay đổi, vì tôi đã từng nghe họ tâm sự một cách chân thành về sự quyết tâm không thay đổi của họ. Thế mà họ đã thay đổi! Có những người tỏ ra bất mãn cực độ về thái độ đáng ghét của một người khác, khiến tôi tưởng rằng họ sẽ không bao giờ có thái độ như thế với ai. Nhưng tôi thấy khi họ ở vào địa vị hay trường hợp giống như người kia, thì họ cũng lại hành xử y như thế. 

Đọc lịch sử, tôi thấy có những ông vua: khi còn phải nằm gai nếm mật để chiến đấu với kẻ thù, thì tỏ ra hết mực yêu thương dân chúng, quý trọng những thuộc hạ cùng sống chết với mình, và lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh cả mạng sống cho họ. Nhưng khi đã lên ngôi vua, thì chẳng bao lâu tính tình ông vua thay đổi, trở nên hống hách, tàn ác, sẵn sàng giết hại thuộc cấp, bóc lột dân chúng. Tôi đã từng gặp những người khi còn là chủng sinh hay tu sĩ thì thật là khiêm nhường, dễ thương, tinh thần phục vụ rất cao, nhưng chỉ một vài năm sau khi làm nên danh này phận nọ, thì tính tình và cách xử sự của họ tự nhiên thay đổi hẳn. Có những cặp vợ chồng trước đám cưới thì thề non hẹn biển, dù thế nào đi nữa cũng quyết chung thủy với nhau trọn đời, thế mà chỉ sống với nhau được vài năm thì đã có người thay dạ đổi lòng. Biết bao nhiêu kinh nghiệm khác tương tự như thế! 

Những kinh nghiệm ấy làm tôi không còn dám quả quyết rằng mình sẽ không bao giờ thay đổi. Và cũng không dám kết án những ai thay đổi, làm như thể mình là người không thể thay đổi. Tôi cảm thấy cần phải bao dung, thông cảm cho sự thay đổi của người khác, vì bản tính yếu đuối của con người. Chúng ta hãy xem thái độ của Đức Kitô như thế nào đối với Phêrô, kẻ đã phản bội vì chối Ngài tới 3 lần. Thấy ông hối lỗi, Đức Kitô không những đã không phiền trách ông, mà còn tín nhiệm ông hơn nữa, Ngài đã đặt ông làm thủ lãnh của cả nhóm 12 tông đồ.



3. Con người bị giới hạn về đủ mọi mặt và lệ thuộc vào nhiều điều kiện bên ngoài

Dù không sa ngã, nhưng Đức Giêsu đã cảm nghiệm được sự yếu đuối trong thân phận con người của Ngài. Nhờ sự minh mẫn của thần tính, nên với kinh nghiệm về sự yếu đuối ấy, Ngài hiểu rõ hơn ai hết sự yếu đuối và giới hạn của con người. Vì thế, Ngài luôn luôn thông cảm với những lầm lỗi, tính hay thay đổi, sự bất trung của con người. 

Thái độ của Ngài đối với Phêrô, đối với những người đàn bà ngoại tình, tội lỗi, được diễn tả bằng thái độ của người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng, nói lên sự bao dung đầy tính thông cảm của Ngài. Ngay cả khi hấp hối trên thập giá, Ngài vẫn còn nghĩ đến những thầy tư tế, những kinh sư và Pharisêu, là những kẻ đã đưa Ngài đến cái chết vô cùng nhục nhã và thê thảm này, Ngài xin Chúa Cha: «Xin Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm» (Lc 23,34). Ngài đã thực hiện đúng điều Ngài đã dạy «Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em» (Mt 5,44-45). Lời xin đó cho thấy trong lòng Ngài, Ngài đã tha thứ cho họ rồi, bất chấp họ có hối hận hay không, bất chấp họ không hề xin lỗi Ngài.

Chính vì thế, tôi rất thích thái độ và tinh thần bao dung của Đức Giáo Hoàng Phanxicô hiện nay đối với những người bị người đời khinh rẻ và liệt vào hàng tội lỗi, bất chấp biết bao người bảo thủ phê bình và chống đối ngài. So sánh thái độ của ngài với thái độ của Đức Giêsu, tôi thấy rõ ràng là tương đồng chứ không khác biệt. Tôi thầm nghĩ: nếu Đức Giêsu ở trong vị thế của vị giáo hoàng này, Ngài sẽ còn tỏ ra khoan dung và nhân bản hơn vị giáo hoàng này nhiều. Thiết tưởng người Kitô hữu cũng nên tập cho mình thái độ bao dung và thông cảm ấy, nhất là khi chính ta cũng là con người yếu đuối, chẳng dám tự hào mạnh mẽ hơn ai. 

Khi tự xét bản thân, tôi thấy có những lúc tinh thần tôi lên rất cao, nhưng cũng có lúc tinh thần xuống rất thấp. Điều này tùy thuộc khá nhiều vào ngoại cảnh. Tinh thần tôi thường lên cao vào những dịp tĩnh tâm, khi được một ai đó khích lệ, hay khi sống gần những người đức hạnh, gương mẫu, v.v… Nhưng tinh thần tôi xuống rất thấp khi sức khỏe tôi suy yếu, khi gặp toàn những thất bại, hay khi gặp quá nhiều khó khăn, thử thách, cám dỗ, v.v… 

Tôi nhận thấy độ cứng của lương tâm tôi có giới hạn, nó có thể đứng vững trước những cám dỗ bình thường, nhưng có thể nó sẽ bị gẫy trước những cám dỗ nặng nề và kéo dài. Có thể tôi không bán rẻ lương tâm với giá 1 triệu đô, 2 triệu đô, nhưng rất có thể trước những mối lợi trị giá 100 triệu, 200 triệu, không chừng tôi sẽ sẵn sàng bán lương tâm của tôi chăng!?!?! Quả thật, tôi không dám mạnh miệng tuyên bố là tôi luôn đứng vững. Câu Kinh Thánh «Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10, 12) khiến tôi không dám tự hào và chê bai hay kết án ai. Biết bao người thiện chí hơn tôi, thánh thiện hơn tôi rất nhiều đã sa ngã. Tôi chỉ còn biết trông cậy vào ơn Chúa, Chúa có gìn giữ tôi thì tôi mới đứng vững, mới không sa ngã, còn tự sức tôi thì thật đáng nghi ngờ.



4. Trong chính bản thân tôi, có hai lực lượng đối kháng nhau

Lúc nào tôi cũng thấy trong tôi có hai lực ngược nhau tác động trên tôi: một lực kéo tôi lên, khuyến khích tôi làm những việc tốt đẹp, cao thượng, vị tha, một lực trì tôi xuống, thúc đẩy tôi làm những chuyện xấu xa, bỉ ổi, ích kỷ. Muốn làm theo lực kéo tôi lên thì tôi phải cố gắng rất nhiều, phải làm ngược lại ý riêng, bản năng, dục vọng của tôi, điều này thật khó. Còn muốn làm theo lực kéo xuống thì tôi cảm thấy rất dễ dàng, thậm chí thật hấp dẫn, chẳng cần phải cố gắng gì cả. Chính vì thế, tôi luôn luôn cảm nghiệm y hệt như Phaolô: «Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm» (Rm 7, 19).

Như vậy, trong tôi luôn luôn có khuynh hướng xấu, ác. Chính những lúc tôi nghĩ mình yếu đuối, sợ mình không thắng nổi sự ác, nên tôi cậy trông vào Chúa, thì tôi lại không làm điều ác. Nhưng chính những lúc tôi tưởng mình mạnh mẽ, tự cho mình là công chính, nghĩ mình đã hơn được rất nhiều người, tự hào về chính mình, cho rằng mình có khả năng thắng sự ác một cách dễ dàng, thì lại là lúc tôi làm nhiều điều xấu ác, nhiều điều ngu xuẩn, hớ hênh hơn lúc nào hết. Chính vì thế, tôi rất cảm thông với sự yếu đuối khiến người ta thay đổi như những trường hợp đã nói trên.



5. Áp dụng vào cuộc sống

Hai bài Tin Mừng trong nghi thức làm phép lá và trong thánh lễ cho thấy hai thái độ tương phản nhau của Dân Do Thái và của Phêrô đối với Đức Giêsu chỉ xảy ra trong khoảng thời gian rất ngắn. Dân Do Thái vừa mới tung hô Ngài một cách rất tưng bừng, nhiệt liệt và trọng thể, thế mà chỉ một vài ngày sau đã bị xách động bởi những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái đến nỗi đã đòi giết Ngài: «Ðóng đinh nó vào thập giá!» (x. Mc 15,11-14). Hay như Phêrô, trong bữa tiệc ly đã thề thốt: «Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy» (Mc 14,31), thế mà chỉ vài giờ sau, ông đã chối Thầy mình tới những ba lần (Mc 14,66-72). Điều đó cho thấy sứ điệp của hai bài Tin Mừng trong Lễ Lá muốn nói lên tính yếu đuối, tính sợ hãi và tính có thể thay đổi của con người.

Tuy nhiên, sứ điệp ấy chưa phải là quan trọng. Còn một sứ điệp khác quan trọng hơn rất nhiều đó là sự thông cảm của Đức Giêsu với những khuyết điểm ấy của con người khiến Ngài sẵn sàng tha thứ cho những yếu đuối ấy. Thật vậy, đối với Phêrô, Ngài không những tha thứ, không những không bất tín nhiệm ông, mà còn tín nhiệm ông nhiều hơn nữa, đến nỗi đã đặt ông làm thủ lãnh các môn đệ của Ngài. Tôi nghĩ có lẽ vì Ngài biết ông ý thức và cảm nghiệm sâu sắc tính yếu đuối, mỏng dòn và dễ thay đổi của con người, nhờ đó ông khiêm nhường và dễ thông cảm hơn với những yếu đuối của người khác. Vả lại, khi được Chúa tha thứ, ông sẽ yêu Chúa nhiều hơn (Lc 7,43.47)

Chính tình yêu, sự khiêm nhường và khả năng thông cảm với những yếu đuối của người khác là một trong những đức tính cần thiết nhất của những người lãnh đạo Giáo Hội. 

Đức Giêsu cũng thông cảm và tha thứ cho những kẻ đã kết án Ngài. Chính lúc đau đớn nhất và nhục nhã nhất trên thập giá, đáng lẽ tâm trí Ngài sẽ phải bị thu hút vào sự đau đớn đang phải chịu, không còn đủ tâm trí nghĩ đến điều gì khác, thế mà Ngài vẫn nhớ đến những kẻ âm mưu giết Ngài để xin Chúa Cha tha thứ. Tình thương và sự thông cảm của Ngài đối với những người tội lỗi là phản ảnh rất trung thực tình yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại bất trung và tội lỗi. Đức Giêsu đã mô tả tình thương sẵn sàng tha thứ này của Thiên Chúa trong dụ ngôn «Người Cha nhân hậu» (x. Lc 15,11-32).

Trong Năm Thánh 2015 kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, Giáo Hội cũng như các Kitô hữu trên thế giới được mời gọi phản ảnh tình thương và sự thông cảm của Thiên Chúa đối với những yếu đuối của con người. Thay vì kết án họ như những người Pharisêu vị luật muốn kết án người phụ nữ ngoại tình, Giáo Hội cũng như các Kitô hữu nên bắt chước Thiên Chúa và Đức Giêsu là hãy thông cảm và thương xót họ. Thật là mỉa mai khi chúng ta một đằng thì vinh danh lòng thương xót của Thiên Chúa, còn đằng khác chính chúng ta lại khép lòng lại để kết án, hoặc mong muốn Thiên Chúa kết án những người tội lỗi. Cách tốt nhất để tôn vinh lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là hết lời ca tụng lòng thương xót ấy cho bằng thật sự bắt chước và thực hiện chính lòng thương xót ấy đối với tha nhân.



CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa, trong tuần thánh này, xin cho con nhận ra sự yếu đuối và sự dễ dàng thay đổi của con, để con đừng bao giờ tự hào mình mạnh mẽ hơn người, mà luôn trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Xin cho con học được bài học của Phaolô: chính lúc khiêm nhường tự nhận ra mình yếu đuối, lại là lúc mạnh mẽ nhất vì đã bám vào Chúa. Nhất là xin cho con biết thông cảm với những yếu đuối của tha nhân, như con đã mong Cha thông cảm những yếu đuối của chính con. Amen.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây để đọc bài chia sẻ Tin Mừng về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu:. 
Đức Giêsu yêu thương chúng ta thế nào, chúng ta cũng hãy yêu thương nhau như vậy


Share:

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2018

Quan niệm của Đức Giêsu về hạnh phúc






Quan niệm của Đức Giêsu về hạnh phúc




1. Hai quan niệm trái ngược về hạnh phúc

Những điều nói trong bài Tin Mừng về Bát Phúc (x. Mt 5,1-12a) thật trái ngược với quan niệm thông thường nếu chưa muốn nói rằng chỉ có những người bị cho là «bất thường» mới nghĩ như vậy. Quan niệm thông thường và chung chung của mọi người là: muốn hạnh phúc thì phải giàu sang, phú quí, có nhà cao cửa rộng, có vợ đẹp con khôn, có kẻ hầu người hạ, có địa vị, có quyền lực, được hưởng mọi của ngon vật lạ, mọi thú vui trên đời… Và quan niệm thông thường đó đã thúc đẩy con người tìm đủ mọi cách để đạt được những thứ ấy. 

Để đạt được những thứ ấy, người ta không ngại cố gắng, gian nan và đau khổ, thậm chí không ngại làm những việc độc ác, thất nhân tâm. Viễn ảnh hạnh phúc theo quan niệm thông thường ấy khiến người ta sẵn sàng chấp nhận những khó khăn rắc rối nhiều khi vượt quá sức chịu đựng của con người. Người ta đa số đều nghĩ rằng quan niệm về hạnh phúc như thế là hiển nhiên, khôn ngoan và đúng đắn (x. Gc 3,15; 1Cr 3,18-20).

Nhưng quan niệm của Đức Giêsu về hạnh phúc trong bài Tin Mừng về Bát Phúc thật trái ngược lại với quan niệm thông thường ấy. Những ai theo quan niệm của Ngài thường bị người đời cho là dở hơi, điên khùng hoặc giả hình. Nhiều người mang danh là theo Đức Giêsu cũng phán đoán y như vậy về những kẻ thật sự sống đúng theo quan niệm của Ngài. Sở dĩ họ phán đoán như vậy là vì họ không tài nào hiểu được phần thưởng đời sau dành cho những ai sống theo quan niệm của Đức Giêsu to tát như thế nào.



2. Quan niệm nào khôn ngoan hơn?

Giữa quan niệm thông thường của người đời và quan niệm khác thường của Đức Giêsu, quan niệm nào là đúng, là khôn ngoan? Người Kitô hữu phải theo quan niệm nào? 

Để rộng đường suy nghĩ, ta nên nhớ: Đức Giêsu, người đưa ra quan niệm khác thường ấy không phải là người điên hay bất thường, mà là người được cả thế giới công nhận là khôn ngoan thuộc loại bậc nhất. Ngài được người Kitô hữu nhìn nhận là sự Khôn ngoan của Thiên Chúa (x. 1Cr 1,24b.30), là hiện thân của Chân Lý (x. Ga 14,6). Như vậy, quan niệm về hạnh phúc của Ngài chắc chắn là một quan niệm khôn ngoan vượt khỏi sự khôn ngoan thông thường của con người. Chính vì không hiểu được sự khôn ngoan ấy nên người bình thường cho đó là ngu xuẩn (x. 2Cr 1,12b).

Thật ra, sự khôn ngoan của bài Tin Mừng Bát Phúc này chỉ có thể hiểu được trong niềm tin, tin rằng: đời sau thì vĩnh cửu còn đời này chỉ là tạm bợ mau qua, nhưng cách sống ở đời này quyết định cho số phận vĩnh cửu đời sau. Đấy chính là mấu chốt của vấn đề: nếu không có đời sau, thì quan niệm như Đức Giêsu đúng là một quan niệm ngu xuẩn! Đời sống thật ngắn ngủi, không biết hưởng thụ nó thì thật là dại dột: «Vui xuân kẻo hết xuân đi, cái già sồng sộc nó thì theo sau» (Ca dao). Nhưng nếu có đời sau, một đời sau vĩnh cửu – mà đời sau hạnh phúc hay đau khổ lại hoàn toàn tùy thuộc vào cách sống ở đời này – thì quan niệm như Đức Giêsu mới là khôn ngoan.

Thật vậy, nếu chết rồi là hết, nếu sự sống chỉ tồn tại ở cuộc đời ngắn ngủi này, thì những điều nói trong bài Tin Mừng quả là điên rồ: sống nghèo khổ thiếu thốn, chịu bách hại vì Chúa, vì đạo thì quả là ngu xuẩn! khổ cực như thế thì ích lợi gì? Nếu chỉ có một cuộc đời ngắn ngủi này để sống, thì mục đích của đời này chỉ là hạnh phúc của chính nó, dù chóng qua giả tạm đến đâu. Nhưng nếu còn một đời sau lâu dài hơn, và nếu hạnh phúc đời sau tùy thuộc vào đời này, thì sự khôn ngoan đòi buộc phải lấy hạnh phúc đời sau làm mục đích, còn mọi sự đời này phải được coi là phương tiện. Do đó, phải sống cuộc đời ngắn ngủi này cách nào để đời sau vĩnh cửu được hạnh phúc. 

Nếu sẵn sàng chấp nhận đau khổ vĩnh cửu ở đời sau để được hạnh phúc chóng qua ở đời này thì thật là ngu xuẩn, tương tự như giữa hai món tiền: 1 triệu đồng và 1 đồng, lại đi chọn 1 đồng mà bỏ 1 triệu. Nếu giữa hai phải chọn lấy một, thì phải chọn cái nào có giá trị hơn, lâu dài hơn mới là khôn ngoan.



3. Mấu chốt của vấn đề: có đời sau hay không?

Đối với một bào thai, cuộc sống tăm tối trong bụng mẹ chỉ là cuộc sống tạm bợ ngắn ngủi trong 9 tháng 10 ngày. Cuộc sống ấy không chỉ kéo dài tới đấy là hết, mà toàn bộ cuộc sống ấy là để chuẩn bị cho một cuộc sống khác dài hơn gấp bội, có thể tới 90 năm. 

Cũng vậy, người Kitô hữu quan niệm rằng đằng sau cuộc sống ngắn ngủi này là cả một đời sống vĩnh cửu dài vô tận, và cuộc sống ngắn ngủi đời này chỉ là để chuẩn bị những gì cần thiết cho đời sống mai sau. Vì thế, người Kitô hữu – những kẻ theo Đức Giêsu – tuy sống trong thế giới này nhưng tâm hồn vẫn hướng về một thế giới khác tốt đẹp hơn, rộng lớn hơn, lâu dài hơn rất nhiều. Họ coi thế giới mai hậu ấy mới là đích điểm phải nhắm tới, chứ không phải thế giới này. Vì thế, đối với họ, mọi cơ cấu và thực tại trần gian tự bản chất đều là giả tạm, phụ thuộc.

Tuy nhiên, không vì thế mà họ coi thường cuộc sống hay thế giới này. Họ vẫn coi nó là quan trọng, vì cuộc sống này chính là điều quyết định cho số phận đời sau. Mà yếu tố quyết định cho số phận đời sau chính là tình yêu, niềm tin, lòng thành thật, sự công chính ngay ở đời này (x. Mt 23,23b). Do đó, họ vẫn sống đời sống hiện tại một cách tích cực, vẫn hăng say xây dựng cuộc sống và thế giới này cho tốt đẹp. Nhưng dù coi cuộc sống này quan trọng đến đâu thì họ cũng chỉ coi nó là phương tiện dẫn đến cùng đích là đời sống mai hậu, chứ không bao giờ coi nó là cùng đích cả. Có quan niệm như thế ta mới hiểu được tinh thần bài Tin Mừng Bát Phúc này.

Quan niệm ấy được mô tả trong câu chuyện sau đây. Một vị thánh, khi được hỏi về những hy sinh vĩ đại của ngài, đã trả lời: «Tôi chỉ bỏ có vài cuộn giấy bạc và những thú vui trần tục, thế mà mua được cả một niềm phúc lạc vô biên. So với cái kho tàng tâm linh quí báu này thì đó có thật là một sự hy sinh chăng? Trái hẳn lại, chính những người thế gian mới là người từ bỏ và hy sinh những kho tàng tâm linh vô giá trên đường Đạo để chạy theo những của cải vật chất giả tạm vô thường». 

Như vậy, ai mới là người thật sự hy sinh, và hy sinh cái gì cho cái gì?



4. Sự khôn ngoan của người Kitô hữu

Chọn lựa khôn ngoan trên đã được Đức Kitô cụ thể hóa bằng dụ ngôn kho báu và ngọc quí, trong đó người thương gia sẵn sàng bán hết gia tài của mình để mua kho báu hay viên ngọc ấy (x. Mt 13,44). Lý do, kho báu hay viên ngọc ấy giá trị gấp nhiều lần tài sản của ông ta. Đức Kitô cũng dạy ta: «Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?» (Mt 16,26)

Chính vì nhắm đến hạnh phúc đời sau mà người Kitô hữu sẵn sàng chấp nhận những thua thiệt, nghèo khó, bị bách hại, đau khổ ở đời này. Thánh Phaolô nói: «Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta?» (Rm 8,18). Để được hạnh phúc đời đời, Đức Kitô chỉ cho ta bí quyết: «Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy» (Mt 16,25).

Chỉ trong nhãn quan đức tin ấy, người ta mới hiểu sâu xa nội dung bài Tin Mừng về Bát Phúc, và nhận ra rằng chỉ có những người sống theo tinh thần Bát Phúc mới là những người khôn ngoan đích thật. Và nếu thật sự sống tinh thần ấy, người Kitô hữu sẽ được hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau. 

Thật vậy, con người sẽ được hạnh phúc trong đức tin nếu hết lòng gắn bó với đức tin ấy. Hạnh phúc đó có được là do họ coi nhẹ bản thân và những lợi ích chóng qua, nhờ đó, họ dễ dàng hy sinh cho người khác. Chính sự cao thượng này trở thành niềm vui cho họ trong cuộc đời này.



Share:

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2018

Chay5 - Hạnh phúc phải được trả giá bằng đau khổ




CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 5 Mùa Chay

(18-3-2018)



Hạnh phúc phải được trả giá
bằng đau khổ hay chịu khó




ĐỌC LỜI CHÚA

  Gr 31,31-34: (33) Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ítraen: Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta.

  Dt 5,7-9: (8) Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; (9) và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.


  TIN MỪNG: Ga 12,20-33

Đức Giêsu loan báo Người sẽ được tôn vinh nhờ cái chết của Người

(20) Trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy-lạp. (21) Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin rằng: «Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu» . (22) Ông Philípphê đi nói với ông Anrê. Ông Anrê cùng với ông Philípphê đến thưa với Đức Giêsu. (23) Đức Giêsu trả lời: «Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! (24) Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. (25) Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. (26) Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy. (27) Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. (28) Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha”. 

Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: «Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (29) Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: “Ðó là tiếng sấm!” Người khác lại bảo: “Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy!” (30) Ðức Giêsu đáp: “Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. (31) Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài! (32) Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. (33) Ðức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Trong việc buôn bán, muốn thu tiền vào, trước hết người ta phải bỏ tiền ra để đầu tư (mua hàng). Tại sao phải làm điều trái ngược như vậy? Đó là chuyện lạ hay là lẽ thường tình? Muốn hạnh phúc, có cần phải chịu đau khổ trước không? Có hạnh phúc nào không đòi hỏi phải đau khổ không? 
2. Bạn có rút được qui luật gì về sự sống và sự chết, hạnh phúc và đau khổ không? Giữa hai thái cực ngược nhau ấy, có sự liên hệ mật thiết nào không? 
3. Lời Đức Giêsu: «Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25) có mâu thuẫn hay phi lý không? Bạn có kinh nghiệm nào về chân lý này không?


Suy tư gợi ý:

1. Định luật đời sống: muốn thu vào phải biết bỏ ra, muốn hạnh phúc phải chấp nhận đau khổ

Trên đời, ta thấy sự vật luôn luôn biến đổi và có chiều hướng tiến hóa. Nhưng tiến hóa không phải theo kiểu thẳng một đường, mà theo kiểu hình «sin» hay hình lưỡi cưa, nghĩa là vẫn có tiến có lùi, nhưng tiến nhiều lùi ít, để rồi nhìn chung là luôn luôn có tiến hóa. Do đó, muốn tiếp tục tiến, nhiều khi cần thiết phải biết lùi: lùi một để tiến hai, hoặc lùi hai để tiến ba, v.v… Cũng như muốn đóng đinh, không thể chỉ đập búa xuống, mà còn phải nhấc búa lên. Nếu không nhấc búa lên thì tuyệt đối không thể tiếp tục đập xuống. Nâng búa lên tuy chẳng làm đinh lún thêm chút nào, nhưng cũng cần thiết và quan trọng không kém gì đập búa xuống, mặc dù chỉ động tác đập xuống mới có tác dụng hữu ích. Nâng búa lên tuy vô ích nhưng lại rất cần thiết!

Tương tự, một người buôn bán cứ phải bỏ tiền ra để mua hàng hóa khiến tiền bạc bị hao hụt đi, nhưng nhờ vậy mà có hàng bán ra để thu tiền vào và có lời, khiến tiền bạc ngày càng gia tăng và trở nên giàu có. Nếu người ấy không chịu bỏ tiền ra để đầu tư, cứ giữ khư khư số tiền mình có, thì làm sao gia tăng số tiền ấy lên được? 

Vậy, điều cần thiết để có thêm là phải cho ra hay cho đi. Nhưng đời thường, hễ thu vào thì vui, còn cho ra thì buồn. Vì thế, kẻ thiểu trí chỉ muốn thu vào mà không muốn bỏ ra, nên thu vào chẳng được bao nhiêu. Người ngu chỉ muốn hưởng sướng mà không chấp nhận chịu khổ nên chẳng sướng được nhiều. Còn người khôn thì sẵn sàng bỏ ra để thu vào cho nhiều, sẵn sàng chấp nhận đau khổ để được hạnh phúc hơn. Bỏ ra càng nhiều thì thu vào cũng càng nhiều. Cũng vậy, càng chấp nhận đau khổ thì càng có khả năng hưởng thụ hạnh phúc. Những người thiểu trí thường không nhận ra qui luật này. 



2. Đau khổ và hạnh phúc luôn gắn liền và đi đôi với nhau

Bài Tin Mừng hôm nay giúp ta áp dụng định luật ấy vào đời sống, vào cuộc hành trình đi đến hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của ta. Đức Giêsu cho biết: «Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!» (Ga 12,23). Và Ngài cho ta biết lý do nào khiến Ngài được tôn vinh, hay nói cách khác, Ngài phải sống hay làm thế nào mới được tôn vinh: «Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác» (Ga 12,24). Ngài còn diễn tả chân lý ấy theo kiểu khác: «Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25).

Qua những lời ấy, Đức Giêsu cho thấy sự song đôi tất yếu của từng cặp yếu tố trái ngược nhau: chết đi và sinh ra, hạnh phúc và đau khổ. Hạt lúa có chết đi mới sinh ra những hạt khác. Con người có chấp nhận đau khổ mới có thể làm cho mình và người khác hạnh phúc. Thật vậy, nếu người ta cứ sống mãi không chết, làm sao thế giới có đủ chỗ và tài nguyên cho các thế hệ con cháu sinh ra sau? Đời sống kinh tế mới khó khăn lên một chút là người ta đã lo hạn chế sinh sản, lo ngừa thai phá thai rồi! Do đó, chết là điều kiện tối yếu của sống, và đau khổ là điều kiện tối yếu của hạnh phúc

Thật vậy, trên đời, có hạnh phúc nào mà không được xây dựng trên đau khổ, hoặc của chính mình, hoặc của người khác? Đúng thế, hạnh phúc và sự no ấm của con cái chính là thành quả của những vất vả, cực nhọc của cha mẹ. Sự yên vui của người dân là do sự hy sinh xương máu của những chiến sĩ xả thân bảo vệ quê hương. Vinh quang của một học sinh thi đậu xây dựng trên những ngày vất vả cắp sách đến trường, những đêm thức khuya cặm cụi với bài vở. 

Để đạt được hạnh phúc cho chính mình, Đức Giêsu chỉ cho ta phương cách: «Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy» (Mt 7,13-14). Để tạo hạnh phúc cho người khác, Đức Giêsu đã chấp nhận biết bao đau khổ, nhục nhã và cả cái chết để nhân loại được cứu rỗi, được sống, và sống hạnh phúc. Thánh Phêrô viết: «Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành» (1Pr 2,24).

Ngược lại, có biết bao đau khổ phát sinh vì những vui thú mà chính mình hay người khác đã hưởng quá sớm, hoặc đã hưởng một cách trái đạo. Thật vậy, dân chúng nghèo đói là do các quan trên tham nhũng. Gia đình túng thiếu, vợ con cảm thấy cay đắng là vì người chồng đàng điếm, rượu chè. Biết bao thanh thiếu niên làm hỏng cả một cuộc đời chỉ vì sa đà vào nghiện hút, vì biếng học ham vui. 

Vì thế, Đức Giêsu nói: «Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25). Trên thương trường, người buôn bán muốn thu thêm tiền vào thì lại phải chấp nhận bỏ tiền ra đầu tư. Cũng vậy, trong đời sống, người muốn được hạnh phúc thì phải chấp nhận đau khổ. Người buôn bán muốn thu tiền vào mà lại không chịu bỏ tiền ra đầu tư thì chẳng thu được đồng nào, mà còn bị mất tiền vì phải tiêu dùng cho những nhu cầu cần thiết của đời sống. Cũng vậy, tìm hạnh phúc mà không muốn trải qua đau khổ, thì cuối cùng chẳng những không đạt được hạnh phúc mà nhiều khi phải chuốc lấy những đau khổ nặng nề. Chẳng hạn những người muốn giàu có mà không chịu lao tâm khổ trí, không muốn làm lụng vất vả, bèn dùng những cách bất chính như trộm cướp, tham nhũng… thì thường đi đến những hậu quả hết sức bi đát (như tù tội, bị trả thù, sạt nghiệp…). 

Còn rất nhiều câu Kinh Thánh khác nói lên sự đi đôi giữa sống và chết, giữa đau khổ và hạnh phúc, trong đó một vài câu ta thường nghe như: «Người đi trong nước mắt, đem hạt giống gieo trên ruộng đồng. Người về miệng vui ca, tay ôm bó lúa ngào ngạt hương» (Tv 126,6). «Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài; nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài» (2Tm 2,11-12; x. Rm 6,8; 8,17)



3. Giải thoát khỏi nỗi sợ chết, sợ đau khổ, sẵn sàng chấp nhận đau khổ hoặc chết (vì Chúa, vì lương tâm) là bí quyết để sống thanh thản, bình an và hạnh phúc

Về câu nói của Đức Giêsu: «Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25), tôi có kinh nghiệm sau đây, xin chia sẻ với mọi người. 

Tôi cũng như mọi người, rất ham sống sợ chết. Trong mọi trường hợp, tôi luôn luôn nghĩ đến sự an toàn của bản thân tôi trước tiên. Vì thế, mỗi khi thấy chuyện gì nguy hiểm xảy đến cho tôi là tôi run sợ, lo lắng, bất an. Tình trạng lo lắng ấy có thể kéo dài nhiều ngày tháng, khiến tôi không còn cảm thấy hạnh phúc nữa. Nhưng cách đây vài năm có xảy ra một trường hợp: tôi phải chọn lựa dứt khoát giữa sự an toàn bản thân và tiếng lương tâm. Phải dứt khoát, vì chọn làm theo sự thúc đẩy của lương tâm thì thật là nguy hiểm cho bản thân, và chắc chắn còn liên lụy đến gia đình: cha mẹ, anh em, vợ con; còn chọn an toàn cho bản thân thì bị lương tâm cắn rứt, chịu không nổi. 

Sau khi bị lương tâm dằn vặt nhiều ngày chịu không nổi vì chưa làm theo sự đòi hỏi của nó, tôi quyết định làm theo tiếng lương tâm, bất chấp mọi sự. Thà chấp nhận nguy hiểm còn hơn để lương tâm bất an! Thế rồi những khó khăn xảy đến… trong nhiều ngày tháng… Như một phản ứng tự vệ, tôi phó thác mạng sống và sự an nguy của tôi trong tay Chúa. Khi hồi hộp lo âu, tôi lẩm nhẩm hát trong trí: «Chúa khoan nhân là mục tử tôi, tôi không còn thiếu gì, tôi không còn e sợ nỗi gì (…) Dầu tôi đi qua trong thung lũng tối đen hiểm nguy, lòng tôi không lo ngại tai họa gì: vì Chúa ở cùng tôi, cây trượng và cây gậy Chúa khiến tôi an lòng» (Tv 23). Thế rồi mọi khó khăn đều qua! 

Nhiều lần phải chọn lựa tương tự như vậy, lần nào tôi cũng làm theo sự đòi hỏi của lương tâm. Dần dần tôi cảm thấy nhu cầu đòi hỏi an toàn cho bản thân giảm đi, khiến hiện nay, khi gặp nguy hiểm cho bản thân, tôi cảm thấy an tâm hơn trước rất nhiều. Giữa những nguy hiểm, tôi tập sẵn sàng chấp nhận mất tất cả, kể cả mạng sống. Lạ lùng thay, dần dần tôi cảm nghiệm được một sự thanh thản, bình an sâu thẳm trong tâm hồn. Và tôi khám phá ra thật sự có bàn tay quan phòng của Thiên Chúa luôn bảo vệ tôi, luôn lo lắng cho tôi tất cả những nhu cầu cần thiết.

Qua kinh nghiệm trên, tôi khám phá ra rằng: lúc nào cũng nghĩ trước hết đến sự an toàn bản thân chỉ tạo cho ta một thói quen sợ sệt, lo lắng, mất bình an. Còn tập buông bỏ tất cả những gì mình vẫn thường bám víu như: sự sống, sự an toàn, các tham vọng, tiền bạc, nhà cửa, danh dự… sẵn sàng chấp nhận mất tất cả, chỉ bám víu vào một mình Thiên Chúa, thì sự bình an và hạnh phúc sẽ đến. Hiện nay, tôi cảm thấy tâm hồn bình an và hạnh phúc hơn trước rất nhiều: một thứ bình an hạnh phúc thường hằng và bền vững, khác với thứ bình an trước đó. 

Bình an và hạnh phúc của tôi bây giờ phát xuất từ bên trong, từ Thiên Chúa, không bị chao đảo khi những điều kiện bên ngoài thay đổi nữa. Qua kinh nghiệm này, tôi thấy chính lúc mình chấp nhận đau khổ, thì đau khổ không còn ảnh hưởng tới mình nhiều như trước nữa. Chính lúc mình sẵn sàng chấp nhận chết bất kỳ lúc nào, thì mình lại sống thanh thản và trọn vẹn hơn bao giờ hết. 

Điều Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay quả là đúng!




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu cho con thấy tương quan mật thiết giữa sống và chết, giữa hạnh phúc và đau khổ. Xin cho con đủ tình thương để chấp nhận đau khổ hầu làm cho những người chung quanh con hạnh phúc. Con biết rằng nếu con làm được điều ấy, con sẽ thấy cuộc đời này tràn đầy ý nghĩa và hạnh phúc. Xin cho con đủ dũng cảm để làm điều ấy.

Share:

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018

Làm sao có được đức tin vững mạnh vào Thiên Chúa và vào Đức Giêsu?






Làm sao có được đức tin vững mạnh
vào Thiên Chúa và vào Đức Giêsu?


Bài đào sâu cho Chúa nhật thứ 4 Mùa Chay
(11/3/2018)



1. Đức tin vào Thiên Chúa phải dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ về tình yêu và quyền năng của Ngài

Bài Tin Mừng trong Chúa nhật thứ 4 Mùa Chay (Ga 3,14-21), khi nói chuyện với ông Nicôđêmô, Đức Giêsu nói đến sự cần thiết của niềm tin vào Ngài để được cứu độ và không bị kết án. Toàn bài nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tin vào Đức Giêsu để có được sức mạnh trong đời sống thực tế thường ngày của mỗi người, và để thắng được những cám dỗ có thể dẫn ta đến tội lỗi. Nhờ tin vào tình yêu và quyền năng của Đức Giêsu, hiện thân của Thiên Chúa, chúng ta mới có đủ sức mạnh để vượt qua những khó khăn, và thực hiện những gì cần thiết cho hạnh phúc và cuộc sống của ta. 

Đành rằng tin là chấp nhận những gì trước mắt chưa rõ ràng và chắc chắn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ đòi hỏi chúng ta tin Ngài cách mù quáng, không có bằng chứng xác đáng. Ngài chỉ đòi hỏi chúng ta tin những gì đáng tin mà thôi. Trước khi đòi hỏi ta tin vào tình yêu và quyền năng của Ngài, Ngài luôn luôn tạo cho chúng ta cơ hội để kinh nghiệm thật sự về tình yêu và quyền năng của Ngài. Kinh nghiệm ấy sẽ trở thành nền tảng để chúng ta tin vào Ngài trong những hoàn cảnh hay tình huống mới.

Trong đời thường, khi hùn một số vốn thật lớn để làm ăn chung với ai, ta phải tin vào lương tâm và khả năng làm ăn của người ấy. Làm sao ta có thể tin người ấy một cách vững vàng, nếu ta chưa hề thấy người ấy chứng tỏ sự đáng tin của họ? Phải dựa vào đâu để biết được họ đáng tin? 

– Trước khi hùn một số vốn lớn để làm ăn với ai, ta phải có thời làm ăn với họ trong những vụ làm ăn nhỏ. Khi làm ăn nhỏ, nếu họ tỏ ra đáng tin, ta mới dám tiếp tục làm ăn với họ trong những vụ lớn hơn. 

Kinh nghiệm về những thành quả quá khứ sẽ trở thành nền tảng cho niềm tin trong hiện tại và tương lai. Những người tự tin vào mình cũng đều có kinh nghiệm về khả năng của mình trong quá khứ. Có thấy được khả năng của chính mình trong quá khứ qua những thành công nho nhỏ, ta mới dám tự tin vào mình trong những chuyện lớn hơn. 

Niềm tin được xây dựng trên kinh nghiệm của quá khứ như thế mới là niềm tin khôn ngoan và mới vững mạnh được. Niềm tin vào Thiên Chúa cũng phải dựa vào kinh nghiệm quá khứ như thế.



2. Thiên Chúa chỉ mời gọi ta tin và thử thách đức tin của ta khi đã cho ta những kinh nghiệm về Ngài

Khi đặt niềm tin vào một người, có hai thái độ nên tránh:

– một là chưa có kinh nghiệm gì về sự đáng tin của người ấy mà đã vội tin. Đây là thái độ cả tin, nhẹ dạ, rất nguy hiểm và thiếu khôn ngoan.

– hai là đã thấy người ấy tỏ ra rất đáng tin trong những chuyện nhỏ, mà vẫn không dám đặt niềm tin vào người ấy trong những chuyện khác hoặc chuyện lớn hơn một chút. Như vậy, dù người ấy có đáng tin tới mức độ nào, ta cũng không dám tin. Điều này khiến ta mất đi nhiều cơ hội quý trong cuộc đời. Một người làm ăn mà có thái độ này thì không bao giờ làm ăn lớn được, và không bao giờ giàu có được.

Khi tin vào Thiên Chúa, ta cần tránh hai thái độ cực đoan ấy. Thiên Chúa không bao giờ mời gọi hay đòi hỏi ta tin điều gì mà ta chưa hề có kinh nghiệm về sự đáng tin của nó. Khi Ngài mời gọi hay đòi hỏi ta tin, thì chắc chắn trước đó Ngài đã từng chứng tỏ tình yêu và quyền năng của Ngài để ta có cơ sở cho niềm tin của ta trong những trường hợp xảy ra sau đó.

Nhưng khi ta đã có kinh nghiệm nhiều lần về tình yêu và quyền năng của Ngài, thì Ngài thường thử thách niềm tin của ta. Nếu ta không dám tin vào quyền năng của Ngài mà ta đã từng có kinh nghiệm trong quá khứ để vượt qua thử thách Ngài tạo ra, thì ta sẽ không có thêm kinh nghiệm về quyền năng ấy. Đức tin của ta sẽ dừng lại đó, không lớn mạnh thêm, mà trái lại, có thể bị hao hụt đi. Ngược lại, nếu ta tin và chứng tỏ niềm tin ấy bằng sự dấn thân cụ thể, ta sẽ kinh nghiệm thêm lần nữa về quyền năng của Ngài. Nhờ đó đức tin của ta lớn mạnh hơn. Một đức tin vững mạnh sẽ biến đổi ta thành «con người mới» (Ep 2,15; 4,24; Cl 3,10) và đời sống ta thành «đời sống mới» (Rm 6,4; 8,11; Cl 3,3).

Chẳng hạn, khi dân Do Thái chưa có kinh nghiệm về Ngài, thì Ngài cho họ kinh nghiệm ấy. Ngài cho họ vượt qua Biển Đỏ cách lạ lùng và cứu họ khỏi đất Ai Cập. Lần đó, Ngài đã làm cho nước ở Biển Đỏ rẽ ra trước rồi sau đó mới bảo họ bước xuống biển (x. Xh 14,21-22). Lúc đó, Ngài không đòi hỏi họ lòng tin vì họ chưa có kinh nghiệm về quyền năng của Ngài. 

Nhưng khi dân Chúa đã có kinh nghiệm về quyền năng của Ngài khi vượt qua Biển Đỏ, thì khi các tư tế khiêng hòm bia qua sông Giođan (x. Gs 3,1-17), Ngài không còn làm cho nước rẽ ra trước như khi vượt qua Biển Đỏ, mà yêu cầu họ bước xuống sông khi nước sông vẫn còn tràn bờ. Lần này Ngài mới đòi hỏi họ phải thể hiện niềm tin bằng hành động cụ thể, vì họ đã có kinh nghiệm về quyền năng của Ngài trước đó. Và họ đã chứng tỏ niềm tin của họ bằng hành động cụ thể là dám bước xuống sông khi còn đầy nước. Và Thiên Chúa đã không để họ mất niềm tin: khi chân họ vừa đụng xuống mặt nước, thì nước lập tức rẽ sang hai bên để họ đi qua (x. Gs 3,13).

Cũng vậy, để chuẩn bị và củng cố niềm tin cho các tông đồ vào sự sống lại của Ngài, Đức Giêsu đã cố ý cho các tông đồ một kinh nghiệm vô cùng sống động về quyền năng phi thường của Ngài (x. Ga 11,4.15). Đó là Ngài làm cho Ladarô sống lại (x. Gs 11,34-44), chưa kể trước đó Ngài đã từng làm kẻ chết sống lại nhiều lần trước mặt các tông đồ (x. Mt 9,25; Lc 7,14-15; Ga 4,50-53)

Thế mà khi Đức Giêsu chết, nhiều tông đồ đã mất hết niềm tin đến nỗi thất vọng và sợ hãi. Các ông không rút được bài học từ những kinh nghiệm đã trải qua về quyền năng của Thầy mình. Cũng vậy, Thiên Chúa cũng cho chúng ta biết bao kinh nghiệm về tình yêu và quyền năng của Ngài, thế mà khi đối diện với những thử thách, chúng ta vẫn tỏ ra chưa dám tin vào Ngài.

Tại sao vậy? Có thể vì đức tin của ta chỉ là thứ đức tin thuần lý, tin một cách lý thuyết, chứ không phải là thứ đức tin thực nghiệm, dựa trên những thực chứng về tình yêu cũng như về quyền năng của Thiên Chúa mà ta đã có được trong quá khứ. Hoặc đức tin của ta tuy thực nghiệm nhưng còn quá yếu do chúng ta không dám dấn thân để vượt qua những thử thách về đức tin để có thêm những kinh nghiệm sâu sắc hơn. 

Lãnh vực đức tin cũng tương tự như lãnh vực hiểu biết. Có hai thứ hiểu biết.


3.  Hai thứ hiểu biết

Sự hiểu biết có hai thứ: hiểu biết như là kiến thức, và hiểu biết như là kinh nghiệm. Chẳng hạn trước khi ra Hà Nội lần đầu, tôi đã nghiên cứu nhiều về thành phố này, bản đồ của Hà Nội như được chụp hình trong tâm trí tôi. Cái biết ấy chỉ là kiến thức, là biết cách lý thuyết. Về sau, tôi có dịp ra Hà Nội nhiều lần, sống, làm việc và tiếp xúc với nhiều người ở đây trong nhiều tháng. Tôi có dịp tham quan các hồ, các công viên, các di tích lịch sử… tại đây. Những gì tôi thấy, cảm nghiệm bây giờ đều đúng như những gì tôi biết cách lý thuyết trước khi ra đây. Nhưng cái biết của tôi bây giờ khác với cái biết hồi trước, vì cái biết của tôi bây giờ về Hà Nội là kinh nghiệm, là cái biết thực nghiệm.

Để hiểu biết như là kiến thức, hay hiểu biết cách lý thuyết thì chỉ cần học ở trường, đọc sách, nghe đài, coi truyền hình là có được. Còn hiểu biết như là những kinh nghiệm, hay hiểu biết cách thực nghiệm thì phải từng sống, từng tiếp xúc, từng hưởng thụ hay từng chịu khổ vì người hay vật ta biết. Cái biết sau là cái biết thâm sâu, cái biết đi vào chính hữu thể của đối tượng biết. Tương tự, biết hay nghiên cứu về rượu, dù thấu đáo đến đâu cũng không bao giờ làm ta say; chỉ khi uống rượu – tức có kinh nghiệm về rượu – thì mới say được. Đó chính là sự khác biệt căn bản giữa hai thứ hiểu biết vừa nói, và hai thứ đức tin sắp nói đến.


4.  Hai thứ đức tin

Một cách tương tự, có hai loại niềm tin: tin cách lý thuyết và tin cách thực nghiệm

Tin cách lý thuyết là tin rằng điều mình nghe nói, học hỏi, đọc trong sách báo hay trông thấy qua hình ảnh, tivi… là đúng, là chân thật. 

● Còn tin cách thực nghiệm là niềm tin đã được sống, đã được kinh nghiệm trong thực tế, nhờ đó ta tin một cách thâm sâu và xác tín.

Khi học giáo lý, ta được dạy rằng Thiên Chúa luôn quan phòng, yêu thương bảo vệ ta. Ta tin vì cho rằng đó là những điều Thiên Chúa mặc khải qua Đức Giêsu, được Giáo Hội lưu truyền lại, và người dạy ta (các linh mục, các giáo lý viên) không hề nói dối hoặc nói sai. Đó là niềm tin lý thuyết. Nhưng khi gặp nhiều nguy hiểm, khó khăn trong cuộc đời, ta áp dụng niềm tin đó vào thực tế bằng cách phó thác mọi sự cho Chúa, thì thấy lần nào Ngài cũng bảo vệ ta thoát khỏi hiểm nguy, giúp ta giải quyết những khó khăn một cách thật kỳ diệu. Lúc ấy niềm tin của ta vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa là một niềm tin thực nghiệm.

Trong Tin Mừng, khi đọc câu chuyện Đức Giêsu đi trên mặt nước (x. Mt 14,22-33) thì ta tin như vậy. Đó là tin cách lý thuyết. Nhưng các tông đồ được thấy tận mắt Ngài đi trên mặt nước đến với mình, riêng Phêrô còn đích thân đi trên mặt nước đến với Ngài, thì niềm tin của các ông vào việc Ngài có khả năng đi trên mặt nước là một niềm tin thực nghiệm

Tuy nhiên, tin rằng chính mình có thể đi trên mặt nước được thì tất cả các tông đồ đều tin như vậy, nhưng vẫn chỉ là tin trên lý thuyết; chỉ riêng Phêrô, người đã thật sự đi trên mặt nước, thì niềm tin của ông về điều này mới là niềm tin thực nghiệm. Ông kinh nghiệm rằng chính niềm tin vững chắc của ông vào khả năng ấy khiến ông làm được điều ấy, vì khi ông nghi ngờ về khả năng ấy, lập tức ông bị chìm xuống.


5.  Đời sống tâm linh vững mạnh dựa trên đức tin thực nghiệm

Dường như người Kitô hữu nào sau khi học giáo lý cũng đều tin có Thiên Chúa, tin Ngài có ba ngôi, tin Đức Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, tin có thiên đàng, tin có hỏa ngục… Các nhà thần học thì còn tin cả hàng trăm tín điều được ghi trong sách Enchiridion Symbolorum dày cả 5,6 trăm trang, do nhà thần học Heinrich Denzinger đã thu thập lại thành sách. Nhưng đức tin ấy đối với phần đông Kitô hữu chỉ là đức tin lý thuyết, cho dù họ có thể tuyên xưng ra ngoài rất mạnh mẽ, và ai tuyên xưng khác với họ thường bị họ kết án hoặc tẩy chay. Tuy nhiên chỉ khi gặp thử thách trong thực tế đời sống, họ mới nhận ra đức tin của mình rất yếu kém, đôi khi có vẻ như chẳng tin gì cả.

Chẳng hạn người Kitô hữu nào cũng tin có thiên đàng, hỏa ngục, luyện ngục, nhưng biết bao người có thể phạm tội một cách dễ dàng dù họ tin rằng phạm tội thì có thể sa hỏa ngục hay phải đền tội ở luyện ngục. Nhiều khi họ phạm tội một cách dễ dàng hơn là phạm một sai lầm về kinh doanh khiến việc làm ăn của họ có thể bị lỗ hay thất bại. Biết bao người sẵn sàng phạm tội chỉ để được một lợi lộc rất chóng qua ở đời này! Điều đó chứng tỏ họ chỉ tin một cách rất lý thuyết chứ không phải tin một cách thực tế! Vì thế, đời sống tâm linh của họ không tiến triển được bao nhiêu suốt bao năm sống đạo, đôi khi còn thụt lùi nữa.

Một người thật sự tin vào tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa thì khó có thể yếu đuối được! Vì đức tin làm nên sức mạnh. Đức Giêsu nói: «Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: "rời khỏi đây, qua bên kia!" nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được» (Mt 17,20). Vụ lạm dụng tình dục bùng nổ ở Mỹ trong những thập niên qua cho thấy ngay cả những thầy dạy về đức tin vẫn có nhiều người chẳng tin bao nhiêu những điều mình dạy người khác tin. Nhiều hiện tượng khác cũng chứng minh điều ấy.


6.  Muốn có đức tin thực nghiệm, phải thật sự sống những điều mình tin

Phêrô thấy Đức Giêsu đi trên mặt nước, ông liền tin rằng Ngài cũng có thể cho ông đi trên mặt nước như Ngài. Nếu ông không thật sự dám bước ra khỏi thuyền để đi trên mặt nước, thì niềm tin ấy mãi mãi chỉ là tin cách lý thuyết. Nhưng ông thử nghiệm ngay điều ông tin xem sao, và ông thấy chính ông đã đi trên mặt nước được. Thế là niềm tin ấy đã trở thành niềm tin thực nghiệm. Khi thử nghiệm những điều tin khác nữa, ông cũng sẽ thấy nó thật sự đúng. Từ đó, đức tin của ông ngày càng vững chắc hơn vì nó mang tính thực nghiệm. 

Cũng vậy, không ai có được đức tin thực nghiệm nếu không thử sống thật, sống đúng như những điều mình tin. Khi đem những điều mình tin cách lý thuyết ra để sống trong thực tế, ta sẽ dần dần chứng nghiệm được những điều mình tin ấy là đúng thật. Cứ tiếp tục như thế, đức tin của ta ngày càng vững mạnh hơn. 

Sở dĩ ta chưa có đức tin thực nghiệm, là vì ta chưa thật sự dấn thân cho niềm tin của mình. Nếu ta đã tin cách lý thuyết vào sự quan phòng của Thiên Chúa, thì ta hãy thử sống niềm tin ấy cách cụ thể khi gặp thử thách xem: chẳng hạn khi lương tâm ta đòi hỏi phải làm một điều gì có thể nguy hiểm cho bản thân mà ta vẫn dám dấn thân làm, thì chỉ khi ấy ta mới thực nghiệm được sự quan phòng bảo vệ thật sự của Thiên Chúa đối với ta. Hay ta hãy thử dấn thân theo Chúa bằng việc từ bỏ mình và từ bỏ mọi sự cách triệt để, ta sẽ cảm nghiệm lời Chúa nói là hoàn toàn chính xác: «Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau» (Mc 10,29-30)

Vấn đề cuối cùng là ta có dám thử sống đúng như ta tin hay không! 

Việc thử nghiệm đức tin cũng tương tự như có ai chỉ cho ta một phương pháp rất dễ dàng để tăng cường sức khỏe. Ta nghe và biết rất thấu đáo những chỉ dẫn ấy. Đó là cái biết lý thuyết. Nếu ta tin người ấy, thì niềm tin ấy cũng chỉ là niềm tin lý thuyết. Nhưng nếu ta thử thực hành điều người ấy chỉ dẫn để xem phương pháp ấy có hiệu quả không, và khi ta thấy nó có hiệu quả thật sự, thì niềm tin của ta vào phương pháp ấy là niềm tin thực nghiệm. 


Để đời sống tâm linh phát triển, ta cần có những kinh nghiệm thật sự và phong phú về Thiên Chúa, về tình yêu và quyền năng của Ngài. Nếu không có kinh nghiệm về Thiên Chúa, dù ta có là tiến sĩ thần học, thông thạo mọi lý thuyết về Thiên Chúa, thì đời sống tâm linh ta vẫn có thể nghèo nàn hơn một bà cụ ít học nhưng luôn cảm nghiệm rõ ràng sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa và tình yêu đầy quyền năng của Ngài trong đời sống bà.



Share:

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2018

Chay4 - Sức mạnh và sự cứu rỗi đến từ đức tin vào Đức Giêsu




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 4 Mùa Chay

(11-3-2018)


Sức mạnh và sự cứu rỗi
đến từ đức tin vào Đức Giêsu




ĐỌC LỜI CHÚA

 2Sb 36,14-16.19-23: (15) Đức Chúa, Thiên Chúa của tổ tiên họ vẫn không ngừng sai sứ giả của Người đến cảnh cáo họ, vì Người hằng thương xót dân và thánh điện của Người.

  Ep 2,4-10: (8) Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; (9) cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện.

  TIN MỪNG: Ga 3,14-21

Đức Giêsu nói chuyện với ông Nicôđêmô

Khi ấy, Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: (14) «Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, (15) để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. 

(16) Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (17) Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. (18) Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.

(19) Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. (20) Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. (21) Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa». ?




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Con người tội lỗi và rất yếu đuối, nhưng Thiên Chúa có hy vọng biến đổi con người trở nên tốt, nên thánh thiện hơn không? Ngài kết án hay tìm cách giáo hóa con người? Ngài đã làm gì để giáo hóa? 
2. Những nỗ lực của các nhà giáo dục có khả năng hữu hiệu biến người thụ giáo nên tốt lành thánh thiện không? Các nhà giáo dục có ban được sức mạnh cho những người thụ giáo với mình không? Còn Đức Giêsu, Ngài có làm được điều đó không? Với điều kiện gì về phía ta? 
3. Chúng ta vẫn tự hào rằng mình tin vào Đức Giêsu, nhưng tại sao chúng ta xem ra vẫn còn rất là yếu đuối trước tội lỗi? Có điều gì không ổn trong đức tin của ta không?

Suy tư gợi ý:

1. Con người có thể thay đổi: người  xấu thành người tốt

Sống trên đời, ta thấy ở bất cứ môi trường nào (đạo, đời), trong bất kỳ lãnh vực nào (chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội), trong bất kỳ cấp độ địa vị nào (cao, thấp), tuổi tác nào (già, trẻ)… cũng đều có người tốt kẻ xấu, người nhiều thiện chí kẻ lắm ác ý, người trung kẻ nịnh, v.v… Tình trạng khác biệt đó không luôn luôn cố định mà có thể biến đổi: người tốt có thể biến thành người xấu, hay ngược lại. Thật vậy, có người rất ác rất xấu, nhưng sau một biến cố nào đó, gặp một ai đó, đọc một cuốn sách nào đó, hoặc sống trong một môi trường mới nào đó, người đó thay đổi hoàn toàn, trở thành một người rất hiền rất tốt. Chẳng hạn, trong Kinh Thánh có những người như Maria Mađalêna (x. Mt 26,6-13), người trộm lành (Lc 23,39-43); trong lịch sử Giáo Hội có những người như Augustinô… 



2. Vai trò của giáo dục

Chúng ta cần phải nắm lấy chân lý này: con người có thể biến đổi, từ xấu thành tốt, cũng như từ tốt thành xấu. Chính vì thế, vấn đề giáo dục rất quan trọng và cần thiết, nó đem lại hy vọng cho Giáo Hội và xã hội. Con người – mà tự do đã bị tội lỗi làm tổn thương – nếu không được giáo dục, sẽ rất yếu đuối, dễ bị lôi cuốn vào vòng tội lỗi: điều thiện mình muốn làm thì lại không làm, mà điều ác mình không muốn làm thì lại cứ làm (x. Rm 7,15-20). Được giáo dục, con người có thêm sức mạnh để làm điều thiện và tránh điều ác hơn. Tuy nhiên, khả năng này rất giới hạn.

Chính dựa trên khả năng thay đổi này mà có những nỗ lực giáo dục, chuyển hóa con người: nhiều nỗ lực đã thành công vẻ vang, nhưng cũng có nhiều nỗ lực không đi đến kết quả. Để giáo hóa, các nhà giáo dục thường dùng những phương tiện tự nhiên của con người: dạy lý thuyết, khích lệ, dỗ dành, đe dọa, thưởng phạt… 



3. Đức Giêsu đến để cải hóa, cứu độ con người bằng đức tin

Thiên Chúa cũng quan niệm con người có thể thay đổi và nhờ đó được cứu rỗi. Khi thế gian bị tội lỗi làm hư hỏng, Thiên Chúa đã không lên án và hủy diệt thế gian, nhưng đã «sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ». Thiên Chúa vẫn hy vọng và chờ đợi con người thay đổi. Vì cho dù tự do của con người đã bị tội lỗi hủy hoại phần nào, khiến con người sẵn sàng làm nô lệ cho điều ác, nhưng con người vẫn còn phần nào tự do. Con người vẫn có thể chọn lựa giữa điều thiện và điều ác, giữa Thiên Chúa và những gì khác với Ngài. 

Ngài đã đi bước trước để làm cho hy vọng biến đổi con người thành hiện thực, bằng cách sai Đức Giêsu, Con của Ngài, đến trần gian. Sứ mạng của Đức Giêsu cũng là giáo hóa con người: Ngài đến để cải hóa người tội lỗi (x. Mt 9,13; Lc 5,32), biến họ nên thánh thiện (x. Rm 6,22), và hơn thế nữa, giải thoát con người khỏi ách thống trị của tội lỗi (x. Mt 1,21; Mc 2,17; Rm 6,6.18; Dt 9,26b; 1Ga 1,7b). Ngài còn có quyền tha tội (Mt 9,5-6; Mt 26,28; Cv 10,43; Cl 1,14), và ban ơn cứu rỗi (x. Lc 19,9; Ga 4,42; Cv 4,12; 13,23 ). Nhưng Ngài cải hóa và cứu độ con người bằng đức tin: «Ai tin thì sẽ được cứu độ» (Mc 16,16; x. Cv 16,31).

Đức Giêsu đến không phải để đem đến một lý thuyết giáo dục, một triết lý mới để con người theo. Ngài đến để cứu con người khỏi xiềng xích của tội lỗi, khỏi ách thống trị của tội lỗi và sự chết, là những thứ khiến con người đâm ra bạc nhược, ý chí yếu đuối. Ngài đến để đem lại sức mạnh cho con người, nhờ đó con người có thể đủ sức mạnh để thực hiện những điều thiện mình muốn làm, và nói «không» với những điều ác mình không muốn làm (x. Rm 7,15-20). Để có được sức mạnh đó, con người không cần phải học hỏi lý này thuyết nọ. Điều duy nhất và hết sức quan trọng con người phải làm để có được sức mạnh ấy là hoàn toàn tin tưởng vào Ngài, như bài Tin Mừng hôm nay xác quyết: «Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời» (Ga 4,16), «Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án» (Ga 4,18). Như vậy, sức mạnh đến từ đức tin, tin vào Đức Giêsu Kitô.



4. Giới hạn của giáo dục

Bất kỳ nhà giáo dục nào trên thế giới cũng đều nhận thấy khả năng giáo hóa của giáo dục rất giới hạn. Giáo dục có thể rất thành công trong việc dạy cho con người biết tất cả điều nào tốt, điều nào xấu, điều nào phải làm, điều nào nên tránh. Nhưng có thể một người biết rất rõ những điều ấy, và thành thật mong muốn làm theo sự hiểu biết ấy, vẫn cảm thấy không đủ năng lực để thực hiện. Người ấy vẫn cảm thấy có một lực nào đó ở ngay bên trong mình khiến mình làm ngược lại. Nghĩa là lực ấy cản trở mình làm điều tốt, và thúc đẩy mình làm điều xấu. Khốn thay, cái lực xấu ác ấy nhiều khi lại thắng và làm tê liệt được sức mạnh của ý chí. 

Đó chính là điều mà thánh Phaolô cảm nghiệm rất rõ nơi bản thân ông, và ông gọi cái lực xấu ác ấy là «tội»: «Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì (…) không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. (…) Muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi» (Rm 7,15-20). 

Đây chính là nguyên nhân của mọi bi thảm trên trái đất: kẻ tội lỗi nhất thế giới vẫn luôn luôn phân biệt điều tốt điều xấu, vẫn luôn ao ước làm điều tốt, vẫn mong trở nên trở nên người tốt, nhưng không làm nổi. Vì lực xấu ác kia quá mạnh, đã lôi kéo, thúc đẩy người ấy làm những điều hắn không muốn. Lực ấy mạnh đến nỗi hắn dường như chỉ biết tuân theo, ý chí yếu đuối của hắn không cưỡng lại được.



5. Sức mạnh và sự cứu rỗi đến từ đức tin vào Đức Giêsu

Trước tình trạng bi thảm ấy, thánh Phaolô đã phải kêu cứu: «Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?» (Rm 7,24). Và may mắn thay, ông đã nhận ra người có khả năng cứu ông: «Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!» (7,25). Điều này đã được Đức Giêsu xác định với Nicôđêmô trong bài Tin Mừng hôm nay: «Ai tin vào Con Người... thì được sống muôn đời» (Ga 4,16), «Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án» (Ga 4,18). Trong bài đọc hai, thánh Phaolô cũng xác nhận điều ấy: «Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa» (Ep 2,4). Như vậy, muốn được cứu khỏi tình trạng yếu đuối, nô lệ tội lỗi, điều quan trọng là tin vào Đức Giêsu Kitô.

Đức tin tạo nên sức mạnh: «Mọi sự đều có thể đối với người tin» (Mc 9,23), vì «nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em» (Lc 17,6). Khả năng làm được tất cả mọi sự ấy không phải là khả năng của bản thân ta, vì như Đức Giêsu nói: «Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được» (Ga 15,5), mà là quyền năng của Thiên Chúa, «vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được» (Lc 1,27). Vì thế, khi tin thật sự vào Đức Giêsu, Đấng ban sức mạnh, ta có thể nói như thánh Phaolô: «Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi có thể làm được tất cả mọi sự» (Pl 4,13).

Tin vững vàng vào Đức Giêsu, ta sẽ thật sự trở nên mạnh mẽ. Nhưng hãy xem, biết bao người mang danh là tin Đức Giêsu, vẫn cảm thấy mình còn yếu đuối, còn nô lệ cho tội lỗi. Vậy, vấn đề mà ta cần phải nghiêm túc đặt lại, là ta đã thật sự tin vào Đức Giêsu chưa, hay ta chỉ mang danh là tin Ngài thôi? Đức tin của ta vào Ngài là thứ đức tin nào: đức tin rẻ tiền (tin hờ, tin ngoài miệng) hay đức tin đắt giá (tin thật, bằng hành động, bằng đời sống dấn thân thật sự)? Rất nhiều Kitô hữu cảm thấy an tâm vì tưởng rằng khi tuyên xưng ngoài miệng rằng mình tin thì có nghĩa là mình đã tin. 

Thật ra, tin là một việc quan trọng, nhưng tin thế nào còn quan trọng hơn rất nhiều. Tin mà vẫn nghi  nan trong lòng thì chẳng có tác dụng. Hãy xem gương của Phêrô, khi thấy Đức Giêsu đi trên mặt nước đến với thuyền của mình, nhờ tin vững chắc vào Thầy mình mà ông dám bước ra khỏi thuyền và bước xuống nước, và ông đã thật sự đi được trên mặt nước đến với Ngài. Nhưng khi thấy gió thổi, ông đâm sợ và nghi nan trong lòng. Lập tức ông bị chìm xuống (x. Mt 14,25-31). Muốn biết ta có thật sự tin hay không, chỉ cần xét xem ta có dám sống như đức tin đòi hỏi không?




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con đã mang danh là tin vào Cha, vào Đức Giêsu biết bao nhiêu năm nay. Nhưng thử hỏi đức tin của con đã biến đổi con thế nào? Con đã thật sự tốt hơn, mạnh mẽ hơn những người không tin chưa? Đáng lẽ có đức tin, con phải vượt hơn họ xa lắm! Phải chăng, con mới chỉ mang danh là tin, chứ chưa thật sự tin? Xin Cha hãy ban cho con đức tin đích thật, một đức tin được minh chứng bằng hành động thật sự.


Share: