Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

Làm gì khi không thể đấu tranh ôn hòa công khai?



Làm gì khi không thể đấu tranh ôn hòa công khai?

Vũ Thạch



Từ trái sang phải: Bà Lê Thu Hà, Ký giả Trương Minh Đức, Mục sư Nguyễn Trung Tôn,
Luật sư Nguyễn Văn Đài, Kỹ sư Phạm Văn Trội, Luật gia Nguyễn Bắc Truyển.


Lần lượt các bản án càng lúc càng vô lý, vô nhân bủa xuống Mẹ Nấm, Chị Trần Thị Nga, Anh Hoàng Bình, và đặc biệt 6 anh chị Đài – Đức – Tôn – Truyển – Hà – Trội; và lần lượt các đòn phép trấn áp của nhà cầm quyền CSVN đối với Hội Anh Em Dân Chủ, Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, nhóm Giáo Chức Chu Văn An, nhóm vận động Văn Đoàn Độc Lập, nhóm nạn nhân Formosa, v.v. đã dẫn chúng ta đến một kết luận khó chối cãi: cách đấu tranh ôn hòa và công khai chưa áp dụng được lúc này tại VN.

Điều cần nói ngay, không phải phương thức Đấu Tranh Bất Bạo Động (ĐT/BBĐ) sai hay không dùng được tại VN. Nếu đào sâu vào kinh nghiệm đấu tranh tại các nước đã thoát ách độc tài, ta sẽ thấy điều kiện tối thiểu để đấu tranh ôn hòa và công khai là khi những kẻ cầm quyền còn bị ràng buộc thực sự bởi luật pháp quốc gia và còn bị sức ép trừng phạt đến mức kiệt quệ của quốc tế.

Hiện giờ giới cầm quyền CSVN không chỉ ngồi trên pháp luật mà còn dùng hệ thống tư pháp, bao gồm cả tòa án và nhà tù, làm công cụ riêng để khủng bố. Và trong tình hình quốc tế hiện nay, đặc biệt với thái độ của Hoa Kỳ đối với nhân quyền trên thế giới, giới lãnh đạo đảng CSVN không những chẳng còn gì để ngán sợ mà còn tận dụng tình hình để càn quét đối kháng.

Vậy chúng ta phải làm gì vào lúc này?

Một lần nữa, nếu học hỏi kinh nghiệm của các dân tộc đã đi qua giai đoạn bị trấn áp tương tự, ta có thể cô đọng vào 3 nguyên tắc sau đây:

Nguyên tắc 1: KHÔNG NGƯNG HOẠT ĐỘNG, KHÔNG ĐỂ MÌNH XUỐNG TINH THẦN. Chúng ta có trách nhiệm, có món nợ tinh thần đối với các anh chị em đang ngồi tù. Phải tiếp tục hoạt động nhưng đổi cách làm cho phù hợp. Cùng lúc không quên bảo bọc gia đình các anh chị em trong tù.

Nguyên tắc 2: Chuyển mọi hành động tuyển mộ, hỗ trợ, phát triển, kết nối TỪ CÔNG KHAI SANG KÍN ĐÁO để bảo toàn lực lượng và kéo dài hoạt động.

Nguyên tắc 3: HOÀ VÀO QUẦN CHÚNG, hoạt động với tỉ số 5% CÁC NHÀ HOẠT ĐỘNG + 95% DÂN CHÚNG BỨC XÚC. Tiếp tục tận dụng các cách đánh Bất Bạo Động bằng số đông.

Áp dụng vào thực tế, 3 nguyên tắc trên trở thành các nỗ lực sau đây:

Các nhà hoạt động tỏa vào những nơi dân chúng bức xúc nhiều và đang muốn hoặc đã tự đứng lên đòi quyền sống nhưng thiếu kinh nghiệm phản đối tập thể.

Các nhà hoạt động có thể giúp đỡ phương tiện và cố vấn cho bà con về

– các cách liên lạc an toàn,
– kiến thức luật pháp để đối phó với cán bộ địa phương và gia tăng tự tin,
– cách chọn loại hành động ĐT/BBĐ nào hữu hiệu nhất,
– kế hoạch tiến thoái nhịp nhàng, và
– cách quảng bá hình ảnh, chứng cớ khi bà con bị bạo quyền đàn áp.

Anh chị em hoạt động sẽ không nổi bật ra như những người cầm đầu nhưng hoà lẫn vào số đông dân chúng và làm việc sát cánh với nhóm bà con dám đứng mũi chịu sào.

Giới hoạt động làm gạch nối kín đáo chia sẻ kinh nghiệm và phối hợp hỗ trợ nhau giữa các nhóm quần chúng đấu tranh.

Và quan tâm nhận diện, khuyến khích thêm số người dấn thân từ các nhóm quần chúng đấu tranh để gia tăng số nhà hoạt động.

Chỉ khi nào các cuộc phản đối, đòi quyền sống của dân chúng nổi lên khắp nơi và những kẻ cầm quyền phải đối phó với quá nhiều đám cháy thì lúc đó sợi xích trấn áp đang trói chặt giới hoạt động dân chủ như hiện nay mới bị bỏ rơi hay đứt đoạn.

18 tháng trước mặt nên là giai đoạn chúng ta cùng tạm để qua bên các mục tiêu đấu tranh đòi các quyền chính trị. Thay vào đó, hãy cùng tỏa ra, lan sâu vào những nơi đang có các cuộc nổi lên tự phát, tự nhiên để giúp bà con đòi quyền sống trước đã.

Vũ Thạch



Chính trị − Văn hóa − Xã hội
Share:

Mat-ong


Mật ong

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức


Nhiều người cho rằng mật ong là một trong nhiều chất dinh dưỡng quý giá nhất mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Để tỏ lòng trân trọng, họ còn gọi mật ong bằng những cái tên văn vẻ như bách hoa tinh, bách hoa cao, phong đường, phong mật…

Mật ong đã là món ăn ưa thích của con người từ thuở xa xưa.Hơn bốn ngàn năm về trước, dân Ai Cập và Ấn Độ đã nuôi ong để lấy mật, nhưng phải đợi tới cả ngàn năm sau, người nuôi ong mới biết được là để có mật, ong phải hút chất ngọt từ nhụy hoa.

Mật ong là thực phẩm ngọt chính của con người cho tới thế kỷ thứ 15, khi . đường trắng được tinh chế.Tuy vậy, ngày nay mật vẫn còn rất phổ thông vì nó làm tăng hương vị thực phẩm, làm dịu ngọt thức ăn, nước uống và cũng để trị bệnh


Vài điều về ONG

Ong là những côn trùng sống thành từng bầy đoàn kết như một xã hội có tổ chức. Một bầy ong thường thường có một ong chúa, trên 1000 ong đực và nhiều ngàn ong thợ. Đôi khi có hai ong chúa, một mẹ một con. Ong thợ rất bận rộn và chỉ thọ được 28 ngày.

Ong Chúa lớn hơn và sống lâu hơn các ong khác. Thực ra Ong chúa cũng chỉ là ong bình thường nhưng được nuôi dưỡng liên tục bằng một thực phẩm đặc biệt gọi là mật ong chúa hay sữa ong chúa ( Royal Jelly) trong khi đó ong thợ chỉ được dùng sữa này có ba ngày. Ong Chúa sống lâu hơn ong thợ tới 60 lần. Mỗi năm ong chúa đẻ tới bốn, năm trăm ngàn trứng vào khoảng giữa tháng Chạp, khi thời tiết bắt đầu lạnh,

Trong tổ ong, mỗi cá nhân tự quyết định công việc phải làm, và làm việc rất quy củ, nhịp nhàng. Chúng liên lạc với nhau bằng nhiều hình thức, đặc biệt nhất là bằng ngôn ngữ vũ điệu trong đường bay theo hình số 8. Ong cần cù làm việc và cũng sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ tổ ấm khi có xâm lăng, nhất là từ những gấu rừng ham ăn, ưa thích mật ong.

Khi đậu trên hoa, Ong lấy mật hoa, phấn hoa, nước. Thực phẩm chính của ong là phấn hoa và mật hoa. Mật cung cấp cho ong carbohydrat và đạm chất. Phấn hoa được ong tiêu thụ ngay hoặc để dành dùng dần, đôi khi cả tháng.


Ong làm mật.

Mật ong được làm từ nước ngọt nhụy hoa với 20% nước và 80% đường glucose, fructose.

Ở Bắc Mỹ, đa số mật hoa là từ cỏ ba lá (clover), berry bushes, cây dại hoa vàng (dandelion).

Ong dùng lưỡi dài như một cái ống để hút mật hoa vào bao tử riêng biệt. Ong có hai bao tử: một để chứa và tiêu hóa thực phẩm và một bao tử chỉ để chứa mật hoa. Trong bao tử này, mật hoa được các diêu tố chế biến thành mật ong.

Vào mỗi sáng sớm, một vài chú ong “trinh sát” bay lượn trong phạm vi vài cây số để kiếm hoa. Chúng sẽ hút thử một số mật nhụy mang về cho các ong khác giám định phẩm chất. Khi đã quyết định mật hoa nào tốt thì cả bầy ong sẽ kéo nhau tới hút mật hoa. Việc hút nhụy không làm hại tới hoa, mà trong khi hút lấy nhụy thì ong cũng giúp hoa thụ phấn.

Để có được một bao tử đầy mật (khoảng 70mg), ong phải hút nhụy từ vài trăm đến cả vài ngàn bông hoa. Cho nên, muốn có nửa lít mật cần tới nước ngọt của cả triệu bông hoa.

Khi về đến tổ, một nhóm ong thợ khác hút lại mật hoa này, biến chế, rồi rải rộng trong những ngăn của tổ, dùng cánh để quạt cho bay hơi nước. Sau đó mật ong được tồn trữ trong khuôn gắn kín bằng sáp, để làm lương thực suốt năm. Một năm bầy ong ăn hết từ 50 tới 100 kg mật.


Các loại mật ong.

Mật ong là một chất lỏng, hơi sền sệt, từ không mầu tới mầu hổ phách vàng nâu hoặc nâu sậm như mật mía, tùy theo loại mật hoa. Phẩm chất của mật cũng thay đổi tùy theo địa phương, loại hoa mà ong hút phấn và nhụy.

Mật ong thường được thu hoạch vào mùa Xuân và mùa Hạ, buổi sáng hoặc trưa khi ong bay đi ăn xa.

Từ tổ ong, mật được lấy ra bằng máy ly tâm, diệt trùng bằng hơi nóng và hơi lạnh, lọc vẩn cặn rồi vô chai. Để tăng thêm số lượng, người làm mật có thể pha thêm đường trắng hoặc nước ngọt của bắp vào mật trước khi tung ra thị trường.

Mật tốt nhất là thứ không hâm nóng, không lọc vì khi hâm nóng sẽ làm mất đi mốt số chất dinh dưỡng và phấn hoa. Mật ong không bị nhiễm độc từ môi trường vì ong chết khi chạm phải những chất ô nhiễm trước khi bay về tổ.

Mật ong có thể được cất giữ ở nơi khô ráo trong nhà mà không cần để trong tủ lạnh. Để lâu, mật có thể đổi sang mầu đậm nhưng vẫn không hư vì trong mật có một loại kháng sinh thiên nhiên có thể tiêu diệt các ký sinh làm hư mật. Nhưng sau khi pha loãng với nước thì mật sẽ mau lên men và mau hư như trái cây hoặc rau đậu.

Khi giữ nơi nhiệt độ lạnh, mật có thể kết tinh. Chỉ cần để trong lò vi ba hay trong nồi nước ấm độ vài phút là mật ong lỏng trở lại.


Sữa Ong Chúa ( Royal Jelly ).

Đây là một chất lỏng đặc sánh, mầu trắng như sữa, do những hạch đặc biệt ở cuống họng ong thợ tiết ra.

Vì thấy rằng ong chúa nuôi bằng mật này sống lâu hơn và cơ thể to hơn nên mật đã được nhiều người ưa chuộng và giá tiền rất đắt. Sữa ong chúa được bán trong ống nhỏ bịt kín, viên con nhộng, kem bôi, dung dịch để thoa, xà bông rửa mặt…

Nhiều người tin rằng sữa ong chúa có thể “cải lão hoàn đồng”, làm hết các vết da nhăn trên mặt, nuôi dưỡng da, thuốc bổ tăng cường sức khỏe, giúp đời sống tình dục tốt. Các nhà sản xuất còn quảng cáo là sữa ong chúa chữa được các bệnh đau gan, phong thấp khớp, thiếu máu, loét bao tử…

Phân tích cho thấy sữa ong chúa có chất đạm, chất béo, carbohy drat, một số sinh tố B. Tuy nhiên, khi dùng sữa này, ta cũng nên dè dặt vì đã có trường hợp sữa gây ra dị ứng, hoặc bị lên cơn suyễn.


Giá trị dinh dưỡng

Ngoại trừ trái cây và rau đậu, mật ong là nguồn thiên nhiên duy nhất cung cấp cho con người những chất ngọt dễ tiêu.

Trong mật ong, đường chiếm tỷ lệ 80%; còn lại 20% là nước và các chất khác. Hai thứ đường chính là glucose và fructose Xin nhắc lại là đường trắng tinh chế đã mất hầu hết sinh tố và khoáng chất nên đều khó tiêu và cần một vài sinh tố B để được bao tử hấp thụ.

Ngoài đường ngọt, mật ong còn chứa khoáng chất, sinh tố B, C, các chất amino acid, một ít chất đạm, vài loại men và mấy hợp chất thơm.

Một muỗng canh mật ong có 0.1 gr đạm chất; 17.3 gr carbohydrat, 1 mg calcium, 1 mg phosphor, 64 calori. Mật không có chất béo nhưng có sinh tố B 6, B 1, Magnesium, maganese, natri, kẽm.

Một bác sĩ giải phẫu người Nga đã làm tăng các sinh tố trong mật ong bằng cách nuôi ong với nhiều loại sinh tố.

Mật ong thường được ăn nguyên chất với bánh mì. Cũng có thể pha mật ong với bơ hay margarin rồi phết lên bánh mì. Mật ong có thể ăn với trái cây, khoai…

Khi nấu, một vài chất dinh dưỡng trong mật bị nhiệt tiêu hủy, nên cần giữ nhiệt độ vừa phải và chỉ cho mật ong vào nồi khi món ăn đã gần chín.

Bỏ lò, mật ong thấm với các gia vị khác vào thực phẩm nên ít bị thay đổi.

Mía được làm thành đường tinh chế sau khi chất xơ, các sinh tố và khoáng chất bị lấy đi. Maple syrup cũng được nấu chế trước khi trở thành món ăn. Riêng mật ong thì hoàn toàn tự nhiên, lấy ra từ tổ ong là dùng được ngay.

Mật ong có nhiều mùi vị khác nhau, vì đôi khi ong bay xa cả trăm cây số để hút nhụy hoa của nhiều thảo mộc khắp nơi trên trái đất. Dù mùi vị có khác nhau, mật ong không mau hư, có thể cất giữ ở ngoài tủ lạnh.


Công dụng trị bệnh

Từ nhiều ngàn năm về trước, các sách y học Ai Cập đã coi mật ong là thuốc chữa bệnh rất phổ thông. Hippocrates khuyên dân chúng pha mật với nước uống để làm giảm nóng sốt.

Trong các cuộc chiến tranh vào thời cổ Hi Lạp, Trung Hoa, La Mã, người ta đã biết dùng mật ong để chữa vết thương bị làm độc.

Sách tham khảo The Edinburgh New Dispensatory xuất bản năm 1811 có ghi: “ Từ xưa, mật ong đã được dùng như một loại thuốc rất tốt để làm long đờm, làm mềm dịu các mụn nhọt, để rửa các vết lở loét trên da”.

Tại Úc châu và Tân Tây Lan, mật ong được phép bán như một dược phẩm để trị bệnh.

Như vậy, ta thấy mật ong đã là một môn thuốc dân gian từ lâu đời.

Mật ong đã và đang được dùng để chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian hoặc các nhà nghiên cứu trong những trường hợp sau.

-Mật ong bồi bổ , tăng cường sinh lực, rất tốt cho người bị bệnh đang hồi phục. Uống mật ong trước khi vận động cơ thể khiến ta không cảm thấy mệt và tập luyện lâu hơn.

-Mật ong làm bớt căng thẳng, làm thư giãn thể xác và tâm hồn.

-Trước khi đi ngủ, uống mật ong khiến giấc ngủ ngon hơn. Theo một nghiên cứu của Viện Công Nghệ Massachusetts(Massachusett Institute of Technology-MIT), chất ngọt của mật làm não tiết ra nhiều serotonin mà serotonin lại làm dịu hoạt động của não, khiến ta ngủ dễ dàng.

-Mật làm sự tiêu hóa được dễ dàng nhờ chất đường dễ tiêu glucose và fructose

-Mật ong làm giảm ho vì thông đàm, rất tốt cho người bị suyễn, viêm cuống phổi, ho gà.

-Mật có phấn hoa nên đã được dùng để làm cơ thể quen dần với phấn hoa, tránh dị ứng theo mùa, nhất là vào mùa xuân. Đấy cũng là nguyên tắc được áp dụng để làm người dị ứng với phấn hoa trở nên quen đi bằng cách tiêm một lượng rất nhỏ phấn hoa vào cơ thể.

-Mật ong rất tốt để làm bớt đau cuống họng, làm sạch răng miệng, làm mau lành lở miệng, lở mép nhờ có chất hydrogene peroxide.

-Mật ong làm mau lành các vết thương ngoài da, có tính cách khử trùng và là hàng rào tốt để cản sự xâm nhập của vi trùng vào các vết thương.

-Các nghiên cứu ở Ấn độ cho thấy bệnh nhân bị phỏng mà được bôi bằng mật thì da mau lành hơn là chữa với thuốc trị phỏng silver sulfadiazine.

Một bác sĩ giải phẫu người Anh nổi tiếng đã bôi mật ong lên các vết thương và thấy vết thương mau lành hơn là khi bôi thuốc kháng sinh.

-Các bác sĩ nhi khoa ở Phi châu cho hay mật ong rất công hiệu trong việc chữa bệnh tiêu chẩy trẻ em do vi khuẩn Salmonella, E coli gây ra. Mật ong diệt vi sinh vật bằng cách hút hết chất lỏng trong vi khuẩn, làm chúng trở nên khô héo.

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) khuyên người đi du lịch mắc bệnh tiêu chẩy thì uống nhiều nước cam có pha mật ong, một chút muối và một chút baking soda đề bù lại số nước và khoáng chất mất đi.

-Nhờ có khoáng chất boron, mật ong có thể phòng ngừa bệnh loãng xương, nhất là ở nữ giới. Chất này cũng làm giảm các triệu chứng khó chịu khi có kinh nguyệt.

-Mật ong rất tốt cho da: Thoa trên da, mật ong làm da mịn, mềm hơn vì mật giữ độ ẩm cho da. Mật làm bệnh trứng cá mau lành; bôi lên tóc, mật làm tóc bóng mượt và mềm.

-Mật ong có một lượng chất chống oxy hóa (antioxidant) tốt tương đương như sinh tố C, nên có khả năng làm chậm tiến trình lão hóa của tế bào sinh động vật, giảm nguy cơ ung thư. Mật càng đậm càng có nhiều chất chống oxy hóa.

Cơ quan Kiểm Soát Bệnh Tật Hoa Ky (Center for Disease Control and Prevention) lưu ý là không nên cho trẻ em dưới một tuổi dùng mật ong vì cơ thể các em chưa đủ sức chống lại loại vi khuẩn gây bệnh trúng độc thực phẩm (clostridium botulinum), đôi khi có lẫn trong mật.


Kết luận

Những con ong nhỏ bé nhưng với sự tinh xảo do thiên nhiên ban cho đã tốn nhiều công sức để tạo ra món thực phẩm ngon lành, bổ dưỡng và quý giá để cho con người tận hưởng.

Nhưng mật ong dù tốt cũng không phải là loại thực phẩm có thể thay thế cho tất cả. Hơn nữa, nếu lạm dụng mật ong quá mức thì chắc chắn cũng sẽ có những phản ứng bất lợi cho cơ thể. Vì thế, cho dù sẵn có mật ong để dùng, chúng ta cũng biết hạn chế ở một mức độ vừa phải mà thôi.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Share:

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018

Chung-Tieu-Dem-o-Nguoi-Gia


Bác sĩ H. V. Hiền



Trong chương trình hôm nay, bác sĩ Hiền giải đáp thắc mắc của thính giả Phạm Hạnh, hiện cư ngụ tại bang Maryland, Hoa Kỳ, về chứng đi tiểu đêm ở người già.

Người lớn tuổi thường bị mất ngủ, lý do thường gặp nhất là phải đi tiểu nhiều ban đêm. Ngoài việc gây rối loạn giấc ngủ, bệnh nhân sáng sớm mệt mỏi, không nghỉ ngơi đầy đủ, nguy cơ té và có thể gẫy xương có thể là những chuyện nguy hiểm đi kèm theo chứng tiểu đêm.

Bệnh nhân đàn ông có thể có những triệu chứng kèm theo làm cho bác sĩ nghĩ đến những nguyên nhân ở đường tiểu phía dưới (lower urinary tract): như ban ngày đi tiểu liên miên (urinary frequency, (trên 8 lần/ngày)), dòng nước tiểu yếu, cần đi tiểu ngay (urgency), hay són tiểu (urinary incontinence).



Nguyên nhân chúng ta thường nghe đến là tuyến tiền liệt phì đại lành tính (benign prostate hypertrophy) (không phải ung thư) làm đường thoát ra của nước tiểu bị nhỏ lại và tiểu không thông, chia làm nhiều lần, do đó bác sĩ của vị thính giả đặt câu hỏi khuyên bệnh nhân đi mổ cắt tuyến tiền liệt. Phụ nữ có thể đi tiểu nhiều lần hơn lúc lớn tuổi, hoặc do kết quả sinh đẻ, hoặc do thói quen phụ nữ hay đi tiểu.


Vài ý niệm về cơ thể học:




Chúng ta có hai trái thận (kidney, Fr: rein) hai bên, phía sau và phía trên bụng. Hai thận lọc máu và bài tiết nước tiểu, đi xuống hai ống niệu quản (ureter), vào bọng đái (bladder) nằm giữa, phía dưới bụng. Bọng đái người lớn có nước tiểu chừng 300ml thì mắc tiểu, nếu bộ óc cho phép “mở cửa” thì nước tiểu thoát ra niệu đạo (tiểu tiện), nếu nín thêm bọng đái có thể chứa đến 600ml là tối đa.

Tuyến tiền liệt (prostate) là một tuyến ngoại tiết của bộ phận sinh dục nam, tuy nhiên gần đây người ta cũng đặt tên lại cho một số tuyến tương tự ở phái nữ là tuyến tiền liệt nữ (female prostate).


Ở phái nam, tuyến nằm dưới và nằm ngay trước ngõ nước tiểu đi ra của bàng quang (bọng đái, bladder), từ đó được đặt tên khoa học là prostate, có nghĩa là “đứng [pro] trước [stat], giữ cửa”, từ tiếng Việt tiền liệt cũng theo nghĩa đó. Trước đây, chúng ta còn gọi là “nhiếp hộ tuyến”. Tuyến tiết vào tinh dịch một số thành phần giúp nuôi dưỡng các tinh trùng.

Tuyến tiền liệt bao quanh, ôm lấy niệu đạo (urethra) là ống dẫn nước tiểu thoát ra từ bọng đái, nếu tuyến lớn quá (phì đại, hypertrophy), hoặc có ung bướu, tuyến có thể bóp nghẽn đường đi ra của nước tiểu và làm khó tiểu hoặc bí tiểu.

Tuy nhiên, chứng đi tiểu đêm không phải luôn luôn do tuyến tiền liệt, và tôi xin nêu sau đây những tin tức để chúng ta cùng học hỏi. Xin nhắc lại, tôi không có mục đích định bệnh và chữa bệnh trong chương trình y học này, và quý vị cần theo dõi mọi hướng dẫn của bác sĩ quý vị.


Sau đây là những lý do khác nhau có thể gây chứng tiểu đêm:

1) Do nước tiểu nhiều lúc ban đêm (nocturnal polyuria):
-suy tim 
-rối loạn chất nội tiết ADH (antidiuretic hormone, hay arginin vasopressin được hypothalamus của não bộ tiết ra) là chất đáng lẽ làm thận giữ lại nước nhiều hơn, làm nước tiểu cô đọng hơn, và thể tích nước tiểu giảm đi lúc ban đêm. Ngược lại ở một số người già có rất ít chất vasopressin này tiết ra ban đêm, nên lượng nước tiểu ban đêm quá nhiều. 
-nước ứ phần dưới cơ thể (hạ chi), do các tĩnh mạch không hoạt động bình thường, do suy tim, do thiếu protein trong máu, do ăn mặn quá. 
-uống thuốc lợi tiểu (diuretic) trước khi đi ngủ (ví dụ thuốc loại thiazide trị bệnh cao máu) 
-ngưng thở (apnea) trong giấc ngủ vì bị đường hô hấp tắc nghẹt (obstructive sleep apnea), thiếu oxy trong máu gây ra áp suất trong động mạch phổi tăng, làm áp suất trong tâm nhĩ phải tăng và gây tác dụng tạo ra nước tiểu nhiều hơn.


Nếu bệnh nhân ngáy to, thỉnh thoảng yên lặng không nghe tiếng thở, nhất là người mập, nên coi chừng có sleep apnea hay không, bằng cách đo polysomnogram (đo tim, nhịp thở, oxy trong hơi thở, não điện đồ cùng một lúc trong khi bệnh nhân ngủ). Nếu cần, dùng CPAP cho apnea (máy tạo nên áp suất dương thường trực trong đường hô hấp trong lúc ngủ.)


2) Bệnh nhân nói chung tạo ra quá nhiều nước tiểu:

- do bệnh tiểu đường (đái tháo đường, diabetes) 
- đái tháo nhạt (diabetes insipidus, do tổn thương não bộ, hoặc do thận bị hư /nephrogenic diabetes insipidus) 
- uống nước quá nhiều (polydipsia)


3) Do thể tích (dung tích, capacity) bọng đái quá nhỏ về đêm:
- hệ thần kinh bọng đái bất thường (neurogenic bladder) không kiểm soát được 
- viêm bọng đái (bàng quang)(cystitis) 
- ung thư bọng đái, tiền liệt, niệu đạo (cancer of the bladder, prostate, urethra) 
- thói quen đi tiểu lúc bọng đái chưa đầy  (~300-600ml) 
- “overactive bladder” (OAB) (bọng đái “quá hoạt động”) 
- lo âu (anxiety) 
- rượu, cafe 
- thuốc men:
+ caffeine, theophylline trị thông cuống phổi, thuốc lợi tiểu,+ thuốc beta blockers (dùng trị bệnh cao huyết áp, làm cơ detrusor bọng đái co lại tăng risk són tiểu), thuốc alpha blocker (giãn nở các sợi cơ ở bọng đái), thuốc lợi tiểu (dùng trị bệnh cao huyết áp).
- sạn trong bọng đái.

Nói chung, nếu cần nên đến bác sĩ gia đình để tìm xem chính xác nguyên nhân ở đâu, ngoài khả năng do tuyến tiền liệt gây ra. Nếu bác sĩ cho phép, có thể thử những biện pháp thông thường như:

Tránh uống nước quá nhiều, nhất là tối, 6h trước khi đi ngủ, ăn trái cây khô trước khi đi ngủ để giảm bớt nước tiểu ban đêm.

Tránh cà phê, trà, rượu, bia (la ve) và những thuốc lợi tiểu nếu có thể được.

Kê chân lên cao (lúc ngồi, nằm) ban ngày để tránh nước tụ xuống hai chân, mang vớ bó chặt để giảm bởt phù hai chân.

Cẩn thận thắp đèn sáng, nếu cần đi khám mắt xem thị lực có tốt không, có bị cườm mắt hay không, để tránh té, tai nạn lúc đi tiểu đêm.

Chúc bệnh nhân may mắn.

Bác sĩ H. V. Hiền

Nguồn Internet - ĐH Sưu Tầm

Share:

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

Đức tin làm nên sức mạnh


Đức tin làm nên sức mạnh


1. Đức tin cần thiết cho đời sống

Nói đến đức tin, rất nhiều Kitô hữu nghĩ đến một số những tín điều mình đang chấp nhận là đúng. Đức tin thật sự không phải là kết quả của việc chấp nhận xuông một số tín điều nào đó, hoặc tuyên xưng những tín điều ấy ra một cách thật mạnh mẽ, rao giảng những tín điều ấy thật hùng hồn, như rất nhiều Kitô hữu đang làm. Rất nhiều Kitô hữu có thứ đức tin kiểu ấy. Nhưng đó chưa phải là đức tin đích thực. 

Đức tin đích thật phải là một lực mạnh mẽ từ nội tâm, thúc đẩy người tin phải hành động, bất chấp hy sinh hay đau khổ. Thánh Giacôbê nói: «Đức tin không có việc làm là đức tin chết» (Gc 2,26). Nghĩa là đức tin đích thực thì tự nó phải hướng đến việc làm, nếu không có việc làm thì đó chỉ là thứ đức tin giả hiệu

Nhiều người tưởng mình có đức tin, nhưng thật ra đức tin của họ là đồ giả, vì nó chẳng đem lại một lợi ích thực tế nào cho đời sống của họ. Nghĩa là chẳng làm họ hạnh phúc hơn, mạnh mẽ hơn, yêu thương tha nhân hơn… Nếu có đức tin hay không có đức tin, đời sống của ta cũng chẳng thay đổi bao nhiêu, thì thứ đức tin ấy chỉ là đức tin giả hiệu. Nếu ta có đức tin đích thực, đức tin ấy sẽ làm đời sống ta thay đổi lớn lao, khiến cuộc sống của người có đức tin đích thực khác hẳn với cuộc sống của người không tin, hay có đức tin giả hiệu.

Ta thử tưởng tượng một anh chàng ăn trộm chuyên nghiệp, khi có người nói cho anh biết gần nhà anh có một người rất giàu có với một gia tài kếch xù, và gia tài ấy đang được để trong một cái tủ chắc chắn trong nhà người ấy. Anh trộm ấy sẽ không hành động gì nếu anh cho rằng thông tin đó chỉ xác thực được 30 hay 40%. Nhưng nếu anh biết nguồn tin đó là xác thực, có thể đúng tới 90 hay 100%, thì anh bắt đầu ăn ngủ không yên. Lòng trí của anh không thể không tính toán xem có cách nào chiếm đoạt được kho tàng ấy. Và sau khi suy nghĩ ra kế hoạch an toàn nhất để xâm nhập nhà đó, anh ta không thể không hành động. Chắc chắn anh ta phải thực hiện dự tính của mình. 

Cũng thế, chúng ta không thể không hành động nếu chúng ta có đức tin thật sự.


2. Tác dụng của đức tin đích thực

Nếu là đức tin đích thực, thì dù chỉ là một chút, cũng có tác dụng to lớn. Đức Giêsu xác định điều đó: «Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em» (Lc 17,6)

Đương nhiên chúng ta không nên hiểu lời Kinh Thánh này theo nghĩa đen, vì Thánh Kinh hay dùng những hình ảnh cụ thể để diễn tả những thực tại trừu tượng. Câu trên có nghĩa: đức tin đích thực, dù nhỏ bé, cũng có tác dụng thật sự, khiến người có đức tin có được một năng lực hay sức mạnh tinh thần lớn lao để thực hiện được những việc mình muốn.

Không có đức tin, không cậy dựa vào Thiên Chúa, chúng ta không thể làm được gì, đúng như Đức Giêsu nói: «Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được» (Ga 15,5). Nhưng nếu tin vào Thiên Chúa, ta sẽ có năng lực để làm được tất cả mọi sự, như thánh Phaolô đã từng cảm nghiệm: «Tôi có thể làm được tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi» (Pl 4,13). Vì lúc đó, năng lực mà tôi sử dụng không phải đến từ bản thân bất lực của tôi, mà đến từ Thiên Chúa, nguồn của mọi sức mạnh trong vũ trụ, là Đấng «không có gì là không thể làm được» (Lc 1,37)

Lời Chúa rõ ràng như vậy, nên nếu ta không có đủ năng lực, chính là vì ta chưa có đức tin đích thực, mà chỉ có đức tin trên lý thuyết. Nghĩa là ta chỉ chấp nhận là đúng những gì Chúa hay Giáo Hội dạy, và ta chỉ tuyên xưng những điều đó ra ngoài miệng mà thôi, chứ chưa xác tín thật sự từ trong đáy lòng. Chỉ cần một chút thử thách là ta có thể nghi ngờ những điều đó ngay.




3. Những sự kiện trong Kinh Thánh về đức tin

Một vài sự kiện trong Kinh Thánh đáng chúng ta lưu ý suy gẫm:

a. Khi về Nazarét, Đức Giêsu không làm được nhiều phép lạ. Tin Mừng Matthêu nêu rõ lý do: «vì họ không tin» (Mt 13,58). Như vậy, điều kiện để phép lạ có thể xảy ra là phải có đức tin.

b. Khi chữa lành bệnh cho ai, Đức Giêsu không nói rằng «Tôi đã cứu anh», mà nói: «Đức tin của anh đã cứu anh» (Mt 9,22; Mc 5,34; Lc 8,48; Lc 17,19). Như vậy, đức tin là yếu tố chủ quan chính yếu nhất để ta được cứu hay làm được chuyện này việc kia.

c. Đức Maria được bà Êlizabét khen: «Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em» (Lc 1,45)Như vậy, điều khiến cho Đức Maria có phúc chính là Mẹ đã dám tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Chúng ta cũng có phúc nếu chúng ta dám thật sự tin vào Thiên Chúa như Mẹ.

d. Khi Phêrô thấy Đức Giêsu đi trên mặt biển, ông tin rằng ông cũng có thể đi trên mặt biển đến với Ngài, và với niềm tin ấy, ông đã đi trên mặt nước không khác gì đi trên mặt đất. Nhưng khi thấy gió thổi mạnh thì ông đâm ra nghi ngờ, đức tin của ông bị chao đảo. Chính vì thế ông bị chìm xuống (x. Mt 14,22-33). Điều đó cho thấy việc Phêrô đi được trên mặt nước hay bị chìm xuống là do đức tin của ông có mạnh mẽ hay không. Trường hợp này, có thể nói: ông đi trên đức tin của ông, hay đức tin của ông chính là mặt đất nâng đỡ bước chân ông đi, cũng như nâng đỡ toàn bộ cuộc đời ông.

Cũng vậy, khi đức tin ta vững vàng, đời sống nội tâm của ta luôn luôn an bình hạnh phúc bất chấp nghịch cảnh. Nhưng khi đức tin của ta bị chao đảo, đời sống của ta cũng bị chao đảo theo.

Phân tích những sự kiện Kinh Thánh trên, ta thấy: để thành tựu được một phép lạ, phải có hai yếu tố quan trọng: 

(1) quyền năng của Thiên Chúa, và 
(2) lòng tin của con người vào quyền năng của Ngài

Thiếu một trong hai thì phép lạ không thể thành tựu được. Tuy nhiên, quyền năng của Thiên Chúa thì bao giờ cũng có, lúc nào cũng sẵn sàng tác động, không bao giờ thay đổi hay mất đi. Nên yếu tố thường hằng ấy không cần xét tới nữa. Vấn đề còn lại chỉ là lòng tin của con người. Phép lạ hay điều ta cầu xin Thiên Chúa có xảy ra hay không, hoàn toàn do ta: do ta có thật sự tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa hay không.


4. Hãy tự xét xem mình có đức tin đích thực không

Khi nói về đức tin, người Kitô hữu nào cũng đều tưởng rằng mình có đức tin. Nhưng trong thực tế, chỉ cần trải qua một vài thử thách nho nhỏ là ta có thể chứng tỏ mình có đức tin thật sự hay không. Lúc đó, nếu hồi tâm phản tỉnh, nhiều người sẽ khám phá ra mình hành xử chẳng khác gì người không có đức tin. 

Thông thường, người Kitô hữu nào cũng tuyên xưng mạnh mẽ vào sự quan phòng đầy tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, thậm chí rao giảng rất hùng hồn về niềm tin ấy. Chính vì tuyên xưng và rao giảng như thế, ta cứ ngỡ rằng mình tin rất vững vào sự quan phòng của Ngài. Nhưng khi tình yêu hay lương tâm ta đòi buộc phải hành động, phải hy sinh, phải chấp nhận nguy hiểm, hay khi gặp những giông tố của cuộc đời, bấy giờ ta mới thấy mình lo sợ đủ thứ và hành động y hệt như những kẻ không tin. Ta không dám phó thác vận mệnh của mình trong tay Thiên Chúa để có thể an tâm làm theo đòi hỏi của tình yêu hay lương tâm mình. Lúc ấy ta mới thấy niềm tin của ta rất mong manh, chỉ mong nó lớn «bằng hạt cải» thôi cũng không chắc đã được.

Như cụ Nguyễn Công Trứ nói: «Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?» thì cũng vậy, nếu không có những thử thách, khó khăn trong cuộc sống, người có đức tin và người không có đức tin chẳng khác nhau bao nhiêu. Nhưng chính trong những thử thách, giông tố của cuộc đời, người có đức tin đích thực sẽ chứng tỏ được đức tin của mình.


Nguyễn Chính Kết

Bấm vào đây để trở về bài chia sẻ:
Tin thật trong lòng quan trọng hơn tuyên xưng ngoài miệng



Share:

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

PS2 - Tin thật trong lòng quan trọng hơn tuyên xưng ngoài miệng




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Phục Sinh

(8-4-2018)


Tin thật trong lòng quan trọng hơn tuyên xưng ngoài miệng



ĐỌC LỜI CHÚA

  Cv 4,32-35: (33) Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng.

  1Ga 5,1-6: (4) Điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta. Nguồn mạch đức tin (5) Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?

  TIN MỪNG: Ga 20,19-31

Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ

(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: «Bình an cho anh em!» (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: «Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em». (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: «Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ».

 (24) Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. (25) Các môn đệ khác nói với ông: «Chúng tôi đã được thấy Chúa!» Ông Tôma đáp: «Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin». (26) Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: «Bình an cho anh em». (27) Rồi Người bảo ông Tôma: «Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin». (28) Ông Tôma thưa Người: «Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!» (29) Đức Giêsu bảo: «Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!» 


 (30) Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. (31) Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người. 



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Việc Tôma đòi hỏi những chứng cứ để tin như thế có gì quá đáng không? Có gì tích cực, đáng khen trong sự đòi hỏi đó không? Để tin cho vững chắc đến mức có thể dấn thân hết mình cho niềm tin ấy, việc đòi hỏi những chứng cứ chắc chắn có cần thiết không? 
2. Trong Kitô giáo, đức tin là yếu tố quan trọng hàng đầu để được cứu rỗi. Nhưng đức tin ấy có cần phải có chất lượng không? hay chỉ cần một đức tin xoàng xoàng là đủ? Đức tin có chất lượng là gì? 
3. Một người tuyên xưng đức tin mạnh mẽ có chắc chắn là một người có đức tin mạnh mẽ không? Tuyên xưng thật mạnh mẽ nhưng lòng thì không tin được như vậy, đó có phải phần nào là giả dối không?

Suy tư gợi ý:

1. Thái độ của Tôma: đòi hỏi bằng chứng mới chịu tin

Bài Tin Mừng hôm nay nói đến thái độ của tông đồ Tôma. Ông đòi buộc phải thấy dấu đinh trong tay Đức Giêsu, xỏ ngón tay vào lỗ đinh ấy rồi đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, thì ông mới tin. Lý trí thiên về thực nghiệm và có chiều hướng khoa học của ông đòi buộc ông phải làm như thế, nếu không, ông không thể chấp nhận rằng Đức Giêsu đã sống lại, vì việc sống lại quả hết sức khó tin. Nhưng rất có thể là sau khi được thỏa mãn những đòi hỏi ấy, Tôma xác tín việc Chúa sống lại hơn nhiều tông đồ khác. 

Người ta vẫn nói: «đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ!» (nghi ngờ lớn thì giác ngộ lớn, nghi ngờ nhỏ thì giác ngộ nhỏ!). Các tông đồ khác – với bản tính đơn sơ, dễ tin hơn – không cảm thấy phải có những bằng chứng rõ ràng như Tôma mới tin được. Các ông chỉ dựa vào một số những biến cố thấy được nơi Thầy mình trước đây, như cuộc hiển dung trên núi Tabor, khả năng làm phép lạ như hóa bánh ra nhiều, làm sóng gió ngoài biển phải im lặng, thậm chí làm được cho kẻ chết sống lại nhiều lần, v.v… là các ông đã đủ để tin rồi.

Đòi hỏi hay không đòi hỏi bằng chứng để tin không phải là chuyện quan trọng. Điều này tùy thuộc vào bản tính Trời cho của mỗi người. Điều quan trọng là phải làm sao để tin cho chắc, tin cho vững, tin tới mức có thể dám dấn thân hết mình cho niềm tin ấy

Có những người rất dễ tin, vì thế niềm tin ấy không được xây dựng trên cơ sở vững chắc để có thể giúp họ dấn thân hết mình cho điều mình tin, nên khi gặp những giông tố thử thách, nghe những lý thuyết ngược lại, thì đức tin đâm ra bị chao đảo. Vì thông thường là: nếu dễ tin trong trường hợp này thì cũng sẽ dễ tin trong những trường hợp khác! Hay dễ được thì cũng dễ mất! 

Cũng có những người đòi hỏi phải đầy đủ chứng cớ mới chịu tin. Có thể họ không tin nếu chưa đủ chứng cớ. Nhưng một khi đã có chứng cớ làm cơ sở để tin, thì họ lại tin rất vững chắc tới mức độ có thể dấn thân hết mình cho niềm tin ấy. Hạng người sau sẽ ích lợi cho Thiên Chúa, Giáo Hội và nhân loại hơn. 

Cũng có thể có những người tuy dễ tin, nhưng vẫn tin vững chắc và không thay đổi được. Điều này theo lý luận thì khá nghịch lý, nhưng vẫn có thể xảy ra, vì trong thực tế vẫn có những điều rất nghịch lý!

Trong Kitô giáo, đức tin là một yếu tố quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, tin hay không tin không quan trọng bằng phẩm chất của đức tin. Người tin hời hợt cũng là tin, và người tin một cách xác tín cũng là tin. Nhưng giá trị của hai thứ đức tin ấy khác hẳn nhau.



2. Trong Kitô giáo, đức tin là yếu tố quan trọng hàng đầu

Người Kitô hữu coi việc rỗi linh hồn, tức hạnh phúc vĩnh cửu, là điều quan trọng nhất. Họ có thể hy sinh tất cả mọi thứ khác trên đời cho hạnh phúc vĩnh cửu ấy, và đó chính là sự khôn ngoan căn bản của họ. Vì như Đức Giêsu nói: «Được lời lãi cả thế gian mà mất sự sống đời đời thì ích lợi gì?» (Lc 9,25)

Nhưng muốn được sự sống đời, thì phải tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu-Kitô, hay vào Tin Mừng của Ngài như một điều kiện không thể không có: «Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án» (Mc 16,16); «Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ» (Rm 10,9).


3. Nhưng điều quan trọng là phẩm chất của đức tin?

Nhưng thế nào là tin đúng với ý nghĩa của chữ «tin»? Nhiều người tưởng rằng mình tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu, nhưng thật ra họ chẳng tin hay chỉ tin rất ít! Chỉ cần Chúa gửi đến cho họ một vài thử thách là họ sẽ thấy ngay họ có tin hay không, hoặc tin ở mức độ nào.

Thật vậy, trong những điều kiện bình thường không có gì đe dọa, có biết bao người tuyên xưng đức tin rất mạnh mẽ, rao giảng đức tin hùng hồn không ai bằng. Thậm chí để bảo vệ nội dung đức tin (các tín điều chẳng hạn), họ không ngần ngại lên tiếng kết án những kẻ xem ra yếu đức tin hoặc tin khác với mình. Nhưng khi có thử thách xảy tới, chẳng hạn khi tình thế đòi buộc phải lên tiếng bảo vệ đức tin, bảo vệ Giáo Hội, bảo vệ công lý, và việc lên tiếng bảo vệ này đòi hỏi phải trả một cái giá nào đấy, thì họ lại sẵn sàng im lặng bất động, bỏ mặc Giáo Hội, mặc kệ chân lý hay công lý bị chà đạp ra sao thì ra. Hay khi đức tin đòi hỏi phải dấn thân hy sinh, chịu thiệt thòi một cách cụ thể mà trước mắt không được bù đắp lại, lúc đó họ mới nhận ra đức tin của họ – mà họ vẫn tưởng rất mạnh mẽ – hóa ra chỉ là thứ đức tin tuyên xưng mạnh mẽ ngoài miệng mà thôi!



4. Tin thật trong lòng quan trọng hơn tuyên xưng ngoài miệng

Phải nói rằng nhiều người trong chúng ta chú tâm vào việc tuyên xưng đức tin hơn là sống đức tin, chúng ta quan tâm chứng tỏ đức tin bằng miệng, bằng lời nói nhiều hơn bằng hành động. Chúng ta có khuynh hướng chọn cái dễ hơn, cái «rẻ tiền» hơn để thực hiện, chứ không chọn cái thật sự cần thiết dù là «đắt giá», vì thế, đời sống đức tin và việc truyền giáo của chúng ta không đi đến kết quả mong muốn. 

Theo thánh Phaolô thì «tin thật trong lòng mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng mới được ơn cứu độ» (Rm 10,10). Chúng ta có vẻ coi việc xưng ra ngoài miệng quan trọng hơn việc tin thật trong lòng. Có phải chúng ta coi việc «được ơn cứu độ» quan trọng hơn việc «được nên công chính»? Nhưng cần xét lại xem: có ai không trở nên công chính mà được ơn cứu độ nhờ «xưng ra ngoài miệng» không? Lời ấy của thánh Phaolô đòi hỏi chúng ta phải làm cả hai, và điều trước (tin thật trong lòng) thì quan trọng và cần thiết hơn điều sau (xưng ra ngoài miệng)! Điều sau chỉ là hiệu quả chứng tỏ điều trước mà thôi. Vì theo tự nhiên thì «lòng có đầy, miệng mới nói ra» (Mt 12,34; Lc 6,45). Lòng không đầy mà ngoài miệng lại nói ra thật hùng hồn mạnh mẽ thì chắc chắn là đã có phần nào giả dối trong đó!

Thật vậy, thứ đức tin chỉ được tuyên xưng ngoài miệng chứ không được chứng tỏ bằng hành động chỉ là đức tin giả dối, hay «đức tin chết» như thánh Giacôbê đã xác định: «Đức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,17.26). Liệu người ta có thể được cứu rỗi với thứ «đức tin chết» ấy không?



5. «Phúc thay những người không thấy mà tin!»

Quả thật, nếu thấy rồi thì đâu còn là tin nữa, mà là thấy, biết! Như vậy, tin khác với thấy, biết. Tin chỉ có ý nghĩa khi đối tượng tin còn mù mờ, chưa sáng tỏ, nó vừa đòi hỏi lý trí nắm được một số chứng cứ để tin, vừa đòi hỏi ý chí chấp nhận một kết luận vượt khỏi giới hạn mà những chứng cứ ấy chứng tỏ. Chẳng hạn bố mẹ tôi nói với tôi rằng lúc nhỏ tôi bị một chứng bệnh rất nguy hiểm mà tôi đã thoát được. Tôi tin điều ấy, chứ không phải tôi biết hay thấy điều ấy. Để tin điều ấy, trong tôi có tác động của lý tríý chí. Lý trí tôi dựa trên những điều xác thực này: 

– bố mẹ tôi sinh ra tôi và nuôi tôi nên biết rõ điều đó.
– bố mẹ tôi là một người chân thật, không hay nói dối
– tôi thấy bố mẹ tôi không có lợi gì khi dối gạt tôi điều này.

Những điều vừa kể theo tinh thần khoa học thì chưa đủ sáng tỏ để tôi có thể kết luận chắc chắn điều tôi tin ấy. Nhưng dựa trên những điều tôi biết về bố mẹ tôi, tôi xác định rằng điều bố mẹ nói về chứng bệnh lúc tôi còn nhỏ ấy là sự thật. Xác định điều ấy khi chưa hoàn toàn sáng tỏ là việc làm của ý chí tự do.

Lời của Đức Giêsu: «Phúc thay những người không thấy mà tin!» (Ga 20,29) đặc biệt áp dụng cho chúng ta hơn là cho các tông đồ. Tất cả chúng ta chẳng ai thấy Đức Giêsu, chẳng ai thấy Ngài sống lại. Nhưng chúng ta tin điều ấy. Niềm tin ấy được xây dựng trên những lời chứng phải trả giá bằng máu, bằng mạng sống của các tông đồ, là những người đã sống với Đức Giêsu và đã chứng kiến Ngài sống lại: «Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng» (Cv 2,32; x. 3,15; 4,33; 10,39.42; 13,31). Không ai lại sẵn sàng chết để làm chứng một điều gian dối chẳng đem lại lợi lộc gì cho mình.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin củng cố đức tin cho con, đồng thời giúp con luôn thành thật với niềm tin của mình. Đừng để cho con trở nên giả dối: tin thì không mạnh, nhưng tuyên xưng ngoài miệng thì rất là mạnh.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây để đọc bài đào sâu:
Đức tin làm nên sức mạnh 


Share: