Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

Đừng hỏi vì sao!



Đừng hỏi vì sao!

Ngô Trường An

Ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặt câu hỏi: «Tại sao người Việt thông minh, rất thông minh; nhưng, đất nước còn nhiều người khổ, rất khổ»?


Đây là một câu hỏi hay, nhưng chẳng biết với cương vị của ông, ông đặt ra câu hỏi này để hỏi ai? Hỏi Bộ chính trị? Hỏi Trung ương đảng? Hay hỏi nhân dân??

Nếu câu thắc mắc này ông dùng để hỏi nhân dân, thì, với tư cách là một người dân, tôi sẽ nêu lên ý kiến giải đáp thắc mắc của ông. Tất nhiên, đây là quan điểm của cá nhân tôi, chứ tôi không dám đại diện cho toàn dân.

Ông hỏi: «tại sao dân tộc Việt thông minh, nhưng nước Việt lại nghèo?» Cả 2 vế này đều đúng. Bởi, khi ta vào google gõ cụm từ người Việt thành công ở hải ngoại, hoặc các chính khách gốc Việt ở nước ngoài, thì google sẽ cho ra hàng trăm kết quả. Trong đó có đầy đủ các nhân tài gốc Việt trong mọi lĩnh vực, như: chế tạo thành công bom áp nhiệt; đóng mới Hàng Không Mẫu Hạm tối tân nhất thế giới; nghiên cứu ngăn, không cho bệnh ung thư phát triển; phát hiện thêm các thiên hà trẻ nhất trong vũ trụ, phát minh ra máy ATM.... Nói chung, từ khoa học, y học, thiên văn học, toán học, hội họa...lĩnh vực nào cũng có người Việt. Ngoài ra, còn rất nhiều nhà chính trị, tướng lĩnh, chính khách... nắm giữ các chức vụ ở những quốc gia hùng mạnh như Mỹ, Đức, Úc....

Đấy, người Việt ở hải ngoại họ thông minh, giỏi giang như thế. Còn trong nước thì sao? Với phương châm ngầm trong giới lãnh đạo từ trung ương xuống tận địa phương là: giỏi hơn ai, tài hơn ai cũng được. Nhưng, «không được tài giỏi hơn lãnh đạo»?!

Chính phương châm hẹp hòi, nhỏ nhen, ích kỷ này đã gieo họa và hành hạ biết bao nhiêu nhân tài trong nước. Điển hình như cha con ông Trần Quốc Hải đã mày mò nghiên cứu chế tạo thành công máy bay trực thăng để xử dụng trong lĩnh vực phun thuốc trừ sâu, sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng, cha con ông cầm dự án xin cấp bằng sáng chế, chạy tới, chạy lui cầu xin các cơ quan công quyền cả hàng chục năm trời, nhưng cuối cùng, chẳng ma nào đồng ý. Uất ức, cha con ông cầm bản vẽ qua bán cho bộ quốc phòng Campuchia, được chính phủ Campuchia ưu ái trọng dụng và họ lập tức tặng thưởng cho cha con ông huân chương Đại Tướng Quân (loại huân chương danh giá nhất của hoàng gia Cam).

Vậy đấy! Không chấp nhận người tài hơn mình đã đẩy biết bao nhiêu tinh hoa dân tộc bỏ xứ ra đi, và các tinh khôi của olympic đi du học cũng chẳng ai muốn trở về phục vụ đất nước.

Một đất nước mà lãnh đạo không muốn ai tài giỏi hơn mình thì đất nước đó làm sao có cơ hội phát triển?

Một đất nước mà bọn tội phạm đứng lên rao giảng đạo đức, in sách ca tụng băng nhóm của mình. Còn bác sỹ, kỹ sư, luật sư, nhà giáo, nhà báo, cha đạo, thầy chùa và những tri thức nhiệt huyết với đất nước đều bị tống vào tù vì họ muốn góp ý xây dựng chính sách, chủ trương để đưa đất nước phát triển?

Một đất nước mà lãnh đạo đòi chống ngập bằng Lu; đòi kéo đám mây điện toán của xứ khác về nhà mình làm của hồi môn; đòi kéo não người Việt ở lại trong ao làng; đòi áp dụng tư tưởng người đã chết cách đây hơn nửa thế kỷ làm mô hình phát triển kinh tế cho thời đại công nghệ 4.0; đòi nơi này giống Paris, nơi kia như Kyoto, nơi nọ thành Singapore... toàn mơ mộng thành bọn tư bản, trong khi đó mình quyết đi theo con đường cộng sản....

Một đất nước mà lãnh đạo không có lập trường ổn định, lúc ngã bên này, lúc dựa bên kia, đu giây, chàng hảng, ngã ngớn như con đĩ. Xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nó giống như nửa thiên đàng, nửa địa ngục chẳng giống ai, thì đất nước phát triển theo hướng nào?

Tóm lại, đất nước giàu mạnh không hẳn nhờ dân tộc đó thông minh. Hoặc, đất nước nghèo nàn không hẳn là dân tộc đó bạc nhược! Cùng là người Hoa, nhưng dân Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc trình độ nhận thức khác nhau, mức sống khác nhau. Cùng là người Triều Tiên, nhưng dân Nam Hàn và Bắc Hàn có mức sống giàu nghèo khác nhau. Điều này chứng minh rõ rằng, dân tộc đó giàu hay nghèo, mức sống thấp hay cao đều do lãnh đạo và đường lối chính trị của đất nước đó. Dù rằng, dân tộc họ không thông minh, nhưng đất nước họ biết trọng dụng nhân tài của nước khác để làm giàu cho họ như trường hợp của Campuchia xử dụng nhân tài VN, đó mới là điều đáng nói.

Mỹ, biết tận dụng trí tuệ của bà Dương Nguyệt Ánh để giải quyết thành công chiến trường Trung Đông; biết xử dụng chất xám của bà Giao Phan để sở hữu Hàng Không Mẫu Hạm tối tân nhất thế giới; biết trọng dụng các nhân tài bất kể màu da, sắc tộc trong nhiều lĩnh vực để đem lại sự vững mạnh toàn diện cho đất nước họ.

Kết: đất nước phát triển, dân tộc ấm no hoặc, đất nước tụt hậu dân tộc đói nghèo đều do ở đường lối chính trị và trí tuệ của người lãnh đạo ở đất nước đó. Vậy, ông thủ tướng đừng có có đặt câu hỏi VÌ SAO nữa nghe. Dị* lắm ông ạ!
Ngô Trường An




-----------------------------------------------
*Dị (tiếng Quảng Nam đồng nghĩa với xấu hổ)

Share:

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

Người của đảng cộng sản VN làm gián điệp cho Trung Quốc



Người của đảng cộng sản Việt Nam
làm gián điệp cho Trung Quốc

Luật sư Nguyễn văn Đài

Tôi bị cầm tù ở nhà tù Nam Hà, xã Ba Sao, Kim bảng, tỉnh Hà Nam từ tháng 1 năm 2008 tới tháng 3 năm 2011. Thời điểm tôi ở đó, nhà tù Nam Hà có khoảng 50 người Việt Nam làm gián điệp cho Trung Quốc, họ bị kết án từ 6 năm tù tới chung thân.


Một số người làm gián điệp cho Trung cộng là cán bộ cao cấp ngành công an, quan chức cấp tỉnh, cấp bộ,... của chế độ cộng sản Việt Nam. Ví dụ như có 4 người từng là trưởng phòng tình báo của các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng trước khi họ bị bắt, có người làm ở Tổng cục tình báo Bộ công an, Văn phòng Bộ công an, Bộ ngoại giao,....


Họ cho biết họ được Cục tình báo Hoa Nam tuyển mộ thông qua các chương trình giao lưu, học tập,... giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và đảng Cộng sản Trung Quốc.

Họ cho biết Cục tình báo Hoa Nam và chính quyền Trung cộng muốn khống chế VN bằng nhiều phương pháp khác nhau như kinh tế, thương mại, chính trị, ngoại giao, quân sự,.... Nhựng Trung cộng cho rằng việc khống chế bằng mạng lưới điệp viên được cài cắm trong nội bộ của hệ thống chính trị cộng sản Việt Nam là hiệu quả và ít tốn kém, mà lại không bị người dân Việt Nam và quốc tế biết đến.


Cho nên Cục Tình Báo Hoa Nam không tiếc tiền bạc để lôi kéo, mua chuộc rồi tuyển mộ các cán bộ Cộng sản Việt Nam khi tham gia giao lưu, học tập,... tại Trung Quốc.

Có thể nói là tới 60% số cán bộ Cộng sản Việt Namsang Trung Quốc là bị mua chuộc làm gián điệp. Một số có thể làm việc theo cách bán các tài liệu mật mà Hoa Nam Cục mong muốn có, một số thì làm việc trọn thời gian cho Hoa Nam Cục.

Những cựu điệp viên Hoa Nam Cục này kể rằng, đối với những tài liệu tuyệt mật về quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... của Việt Nam thì bất cứ giá nào cũng mua. Không mua được bằng ít tiền thì phải mua được bằng rất nhiều tiền.


Ngay ở thời điểm năm 2008, những cựu điệp viên Hoa Nam Cục đã cho rằng chỉ ít năm nữa là mạng lưới điệp viên của Hoa Nam Cục sẽ có mặt ở mọi cấp, mọi ngành của hệ thống trị cộng sản Việt Nam.

Tới lúc đó thì Trung Quốc có thể điều khiển, điều hành mọi chính sách, mọi công việc của chế độ cộng sản Việt Nam.

Hôm trước, tôi sang London, nói chuyện với một nghệ sĩ có tiếng, cô ấy thường hay về Việt Nam và có quan hệ với nhiều quan chức cộng sản Việt Nam tầm trung. Cô ấy kể rằng các quan chức cộng sản này cho biết rằng hiện nay họ bị khủng hoảng niềm tin với đồng nghiệp của họ. Họ nói:

«Người đồng nghiệp ngồi cạnh mình cũng không dám tin vì không biết người đó là Việt cộng hay Trung cộng».

«Nói xấu đảng thì ít nguy hiểm hơn nói xấu hay phê phán Trung cộng.»

Họ cho rằng các quan chức cộng sản Việt Nam hiện nay không ai dám công khai chỉ trích Trung Quốc về mọi vấn đề. Bởi các điệp viên của Hoa Nam Cục có thể đang ở ngay cạnh họ mà họ không biết. Các điệp viên này sẽ âm thầm tác động trực tiếp hay gián tiếp loại những người này ra khỏi những vị trí quan trọng trong cơ quan, hoặc không được vào diện qui hoạch để tiến thân nếu những người này còn trẻ.

Dưới sức ép của toàn diện của Trung Quốc, hàng năm chế độ cộng sản Việt Namvẫn gửi hàng trăm đoàn với hàng nghìn cán bộ đảng viên sang Trung Quốc giao lưu, học tập. Kết quả là rất nhiều trong số đó không vượt qua được sự cám dỗ của tiền bạc, sự mua chuộc,... mà bán rẻ lợi ích của Tổ quốc, cam tâm làm tay sai cho Trung Quốc.

Có thể nói bởi sự nhu nhược, hèn nhát và yếu kém của chế độ cộng sản mà họ đã đẩy đất nước, dân tộc Việt Nam vào tình trạng vô cùng nguy hiểm. Bên ngoài thì chủ quyền quốc gia bị xâm phạm, bên trong thì bị mạng lưới điệp viên của Trung Quốc phá hoại và khống chế toàn diện.
Luật sư Nguyễn văn Đài

Share:

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019

Tây Tạng: 1951, Việt Nam: 2020?



Tây Tạng: 1951,
Việt Nam: 2020?

Nguyễn Dân
(Danlambao)


Trong những ngày cuối năm 2019, hầu như ở đất nước ta, đảng cầm quyền (CSVN) đang chạy nước rút. Bao sự việc cần phải làm để được kịp lúc, kịp thời: - Chuẩn bị cho kỳ đại hội 13 sắp tới. - Hoàn tất những gì đã ký kết và hứa hẹn để phải thực thi: Các vùng «tự trị» với ngụy danh là «đặc khu kinh tế» - Đường vận chuyển (cho nước đàn anh): từ Vân Nam qua Lào Cai, Hà nNội, Hải Phòng -Tuyến đường cao tốc Bắc-Nam theo (đại kế hoạch) «vành đai, một con đường» mà «Tập» (thiên triều) đang xúc tiến...

Trong nước, thì bao cơ sở (đang làm, chưa làm - làm xong, chưa xong) của người bạn (4 tốt, 16 vàng) vẫn phải được hổ trợ, thực thi cho đúng hạn kỳ, suông sẻ... Nói chung, phải thực hiện (theo chỉ thị hợp tác, hợp đồng) mà dù bất cứ trở lực, khó khăn nào (đảng ta) cũng phải hoàn thành kịp lúc.

Ai có thể bảo rằng: Việt Nam tụt hậu, VN bước tiến đi lùi... VN trên con đường «lệ thuộc» mà một đảng vì yếu hèn, nhu nhược, cúi lòn...? Hãy đợi đó. Chờ xem!

Xin được trở lại chủ đề: Qua dòng lịch sử 68 năm, tìm hiểu về đất nước Tây Tạng - từ 1951 - một đất nước cũng đã có thời vàng son rực rỡ, lừng lẫy, tiếng tăm. Vậy mà đã phải «bẩy sập» từ anh bạn tốt láng giềng để trở thành... nô lệ.

«Giải phóng hòa bình», họp nhất Tây Tạng vào Trung Quốc: năm 1951

Đất nước Tây Tạng (Tibet), trong thời thế chiến 2 cũng không tránh khỏi các liệt cường tranh giành xâu xé: Anh, Nga, Mỹ, Ấn đều muốn chiếm cứ vùng đỉnh điểm địa cầu. Tuy nhiên, người bạn láng giềng Trung quốc (Trung Hoa Dân Quốc) vẫn là chỗ dựa tin cậy để được bảo bọc, sẻ chia cùng thân thiện. Thế rồi, từ sau khi THDQ thua trận chạy ra đảo, thì kẻ «thắng trận» Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa do Mao Trạch Đông cầm quyền với đầy tham vọng, thay thế chiếm cứ bằng phương thức «giải phóng hòa bình». Nghĩa là (nhẹ nhàng) lấn chiếm, nếu không chịu thì «giải phóng vũ lực», bằng sức mạnh xâm lăng. Kêu cứu, không được quốc tế quan tâm can thiệp, vì Liên Hiệp Quốc mới thành lập còn phôi thai. Lại nữa, đang lúc chiến tranh xôi động Triều Tiên (1950-1953), các «anh hùng» (Mỹ và một số đồng minh) còn phải cố mà ngăn chận «làn sóng đỏ» xâm lăng.

Sức yếu, thế cô, chính quyền Tibet (Kashag lúc bấy giờ) cam đành ký kết «Hiệp Định 17 Điểm» chấp nhận CS Trung Hoa tiếp thu Tây Tạng. Vô hình chung, coi như Tây Tạng trở thành một «vùng tự trị» thống thuộc Tàu cộng với mọi chính sách (cai trị) xếp đặt tiếp tục sau này.

Và ai có còn lạ gì đường lối chủ trương của Tàu cộng. Những tháng năm kế tiếp là đàn áp, cướp đoạt và giết chóc... cố tâm đưa đất nước (tự trị) vào vòng trui rèn «sắt máu» của lò lửa bá quyền. Người dân phản kháng, và bao lần tàn sát, giết hại diễn ra, để đến 1959 là cực điểm: Một cuộc nổi dậy của người Tây Tạng bùng phát, và kết cuộc là chết chóc thảm thương. Và đức Đạt Lai La Ma (thứ 14) cùng hàng trăm ngàn người dân trốn chạy, lìa bỏ quê hương di cư sang Ấn Độ, tạo lập một khu định cư hải ngoại, vùng Dharamsala, cho đến ngày nay. (Chi tiết: bao nổi tan thương, thống khổ vô ngần, phạm vi bài viết, chi xin vắn tắt đôi điều). Từ ấy, 1959 cho đến nay (2019), 60 năm trải qua, dưới sự cai trị của TC, đất nước, dân tộc Tây Tạng đã như thế nào? Mọi người đều đã rõ.

Trở về đất nước VN ta:

Hiệp ước Thành Đô là một «mật ước», dù rằng không bao giờ được đảng CSVN có tiếng nói xác nhận hoặc phủ nhận. Đối với CS thì bao giờ vẫn là bí mật và che dấu. Tuy nhiên, tin tức vẫn được rò rĩ, phổ biến. Mà dù có mật ước (Thành Đô) hay không, người ta cũng được hiểu là có vô vàn: ký kết, thỏa ước, thỏa hiệp... đã được «đảng ta» ký nhận, hợp tác, hợp đồng (tự ý và tự nguyện) với Tàu cộng. Bao sự việc xãy ra qua mấy mươi năm, và nhất là thời gian gần mới đây là những gì đang được xác định: đảng CSVN đã bán nước, dâng nạp lãnh thổ, và đưa dân tộc dần lệ thuộc, nô lệ Tàu cộng. Việt Namđang sắp trở thành «Tây Tạng thứ hai», và mức thảm hại có thể còn tồi tệ, khủng khiếp hơn thế nữa?

Tất cả đều có sự chuẩn bị:

- Mười năm về trước là Bô Xít Tây Nguyên, một «chủ trương lớn» của nhà nước để rước «giặc» vào chiếm lĩnh vùng đỉnh điểm yết hầu của đất nước. Cho đến hôm nay càng thấy rõ là bao nhiêu vạn (Tàu cộng) trá hình vào xâm nhập, lưu trú hợp pháp công khai?

- Khu gang thép Formosa: tác hại cho đất nước thế nào từ mấy năm qua, và dài lâu thêm nữa, hẳn đảng đều biết rõ? Vì lợi quyền và vinh sang của đảng - một đảng chỉ biết tham tàn vô độ, mà không nghĩ gì đến thống khổ người dân. Hậu quả chết chóc đầy dẫy, thảm thương. Chống đối ư? Đã có bọn «quỉ dữ» sai nha trấn áp. Người dân lén lúc bỏ đi tìm đường sống, mà điển hình là 39 cái xác chết cóng (ở Anh), mấy ngày nay được đưa về «làm quà» cho đảng.

- Bao nhiêu triệu người Tàu (một hình thức Hán hóa) tự do vào đất nước VN từ bao năm qua. Đương nhiên là đảng có biết? Trong số này, không ít đám «tội phạm» cướp của giết người, tự tung tự tác, hoành hành trên đất nước VN. Đảng biết, đảng hay, nhưng mà đảng vẫn cứ tai ngơ mắt lắp, phải chấp nhận thực thi theo đề nghị, yêu cầu?

- Chất độc, đồ độc... bao nhiêu độc hại giết người lan tràn đất nước. Được đảng đồng tình vì đảng ta luôn chủ trương «đầu độc»: đầu độc cho cả một dân tộc qua từng thế hệ, qua bao nhiêu năm, biến con người trở nên «đần độn» để dễ bề khiến sai, cai trị?

- Nước mất, nhà tan, đảng vẫn cứ «im lặng là vàng», «ngậm miệng là quyết sách»? Lãnh đạo các cấp cho rằng: sức ta yếu, lực ta nhỏ, dân ta ít. Trước kẻ mạnh, giặc đông, ta cần khôn khéo cúi lòn, thần phục? Ngày trước, cũng là lúc thế giặc mạnh, quân giặc đông, vua tôi hợp toàn dân xin thỉnh ý. Ngày nay, đảng tự quyền quyết định, không cần ý dân, mà còn ngăn trở trấn áp mọi sự phản kháng từ dân. Vậy thì đảng là ai? Là gì? Đối với quốc gia, dân tộc?

Và đất nước, dân tộc Việt Nam: Năm 2020?

Hơn 44 năm, độc đoán, độc quyền (cả độc ác), đảng CSVN cai trị toàn dân, dựng xây đất nước: không đến «thiên đường» mà đi vào «địa ngục»? Đất nước hôm nay chẳng bằng ai.

Bao tài nguyên cạn kiệt, kinh tế suy sụp, một đất nước, mọi thứ, lệ thuộc ngoại bang. Chỉ vì một đảng yếu hèn, khiếp nhược. Âm thầm lặng lẽ ký bao hiệp ước dâng đất, nhượng biển. Và tệ hại hơn nữa là vì lợi quyền, sự sống còn của đảng mà hèn mạt khuất phục kẻ thù: «Dẫu biết rằng theo Tàu, sẽ mất nước, nhưng mà còn đảng. Thà mất nước hơn là mất đảng». TBT Nguyễn văn Linh đã từng nói như vậy, sau khi ký kết mật ước Thành Đô? Hứa hẹn thời hạn 30 năm (kể từ 1990) đất nước VN sáp nhập TQ. Thời điểm: năm 2020?

Và hôm nay, thời hạn cận kề, người dân đã thấy: lần lượt bao sự việc xãy ra là: Rước giặc vào nhà, dâng nạp non sông:

- Từng đoàn người Tàu lũ lượt sang đất nước VN tự do không hạn chế. Và mới đây: miễn cấp visa cho khách «nước ngoài», quốc hội vừa chuẩn phê là một sự xác nhận?

- Bao nhiêu vùng, khu nghỉ dưỡng, tụ điểm du lịch, mà có bản «dành riêng người Tàu», ưu tiên cho Tàu đến sinh sống, ăn, ở, ỉa, và xả rác... trên khắp nước ta, đã nói lên điều gì? Nhượng, thuê, hay dâng hiến? Và cũng (mới đây), ba đặc khu trọng yếu: Vân Đồn, Phú Quốc, Bắc Vân Phong (đã một thời toàn dân chống đối), thì lại được TT Phúc Niễng cho xúc tiến thực thi (bán cho Tàu?) Theo bao sư kiện vừa nêu, đã nói lên điều gì? Đất nước ta còn hay mất?

- Đường vận chuyển: Vân Nam, Lào Kai, Hà Nội, Hải Phòng... để làm gì? Nếu không phải là phục vụ vận chuyển cho... nhà nước thiên triều?

- Tuyến đường cao tốc Bắc-Nam, hứa hẹn với sự quyết tâm xây dựng (tốn kém hàng 50 tỉ đô la), chả lẻ không là kế hoạch cho «vành đai, một con đường»? Mà là để phát triển kinh tế cho một đất nước đói nghèo, đang mang nợ ngập đầu không cách nào trả nổi, phải «đợ» con dân lao động xứ người kiếm tiền... trả nợ? Trên Google, nếu ai chịu để ý: đường cao tốc Bắc-Nam ( VN sẵn sàng xúc tiến) được mang tên đề: «China National Hight Way», National 1A Road?

- Chưa hết! Bộ giáo dục có lệnh cho học sinh ngử chánh: Tiếng Tàu (thay vì là Anh ngữ) để tiện cho giao dịch phát triển tương lai? Tiền tệ sẽ được trao đổi xài bằng «nhân dân tệ» thay thế cho VN đồng. v.v... và v.v...

Việt Nam, trước sự thể mất nước, lệ thuộc ngoại bang, một dân tộc sắp trở thành «nô lệ» là điều khó tránh? Vì một đảng (CSVN) ham bã sang giàu, mờ mắt «quang vinh» mà trở nên đớn hèn, nhu nhược. Và một khi đất nước này lệ thuộc ngoai bang, thì dân tộc sẽ ra sao?

«Giải phóng hòa bình» - Trước kia, năm 1951, vì yếu đuối, lẻ loi cô độc (LHQ không giúp), đất nước Tây Tạng phải lệ thuộc Tàu cộng. Và một dân tộc trở thành nô lệ, dần dà tiêu mất? Dù rằng vẫn có số người bất khuất kiên cường, vùng dậy chống xâm lăng (những năm sau đó).

Đất nước VN, không cần phải «giải phóng hòa bình». Mà vì yếu hèn khiếp nhược, tự nguyện dâng nạp giang sơn. Lãnh đạo chỉ biết «khấu đầu», tướng tá (các cấp chỉ huy) chỉ là «thần phục», chỉ lo ăn cho sướng, sống cho sang, cướp đoạt cho nhiều mà hưởng thụ... Cũng mới đây, trước giặc Tàu lấn lướt, đảng ta cho phổ biến «sách trắng quốc phòng», đường lối giữ nước (khôn khéo?) với chính sách «4 không»: -Không chủ trương tham gia liên minh quân sự - Không liên kết với nước này để chống nước kia – Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, hoặc sữ dụng lãnh thổ VN để chống lại nước khác – Không sữ dụng vũ lực hoặc đe dọa sữ dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Thì dân tộc VN cần phải làm gì? Cứ ăn (không cần no), đắp chiếu, trùm chăn ngủ kỹ? Nếu có tiền thì chè chén say sưa? Cứ yên tâm mà chờ, mà đợi? Mọi việc có đảng và nhà nước lo?...

Cái giá để phải trả:

Trên 80 năm: chết chóc không màng, hy sinh không ngại. Cả dân tộc một lòng theo đảng đánh thực dân, đế quốc mong giành lấy độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc. Qua 2 cuộc chiến, dai dẵng 30 năm với núi xương, sông máu, chết chóc dẫy đầy. Giành được thắng lợi sau cùng: Mỹ cút, Ngụy nhào. Rồi cũng 44 năm sau, tin đảng, theo đảng, ngụp lặn tìm kiếm «thiên đường», thì lại bị dẫn dắt đi vào «địa ngục». «Đất nước ta có bao giờ được thế này chăng?». Tự hào, tự sướng, tự ngu, để hoang tưởng, mộng du... đi vào tự diệt?

Mấy mươi năm, dựa vào dân tộc để sống còn tồn tại. Mấy mươi năm, nhờ dân, do dân chăm sóc dưỡng nuôi. Đến lúc lớn khôn, đến khi công thành danh toại, thì một mực lừa dối, gian manh, phản trắc: Một đảng chỉ biết vinh sang hưởng thụ cho bè nhóm riêng tư, không màng đến khổ đau, đói nghèo cả dân tộc... Thì đảng CSVN có còn xứng đáng một đảng lãnh đạo, trị vì? Có đáng được gia hình, phân thây đền tội?

«Quân nhất thời, Dân vạn đại». Chớ nghĩ rằng gian manh lừa lọc, quỹ quyệt tinh ma, khôn khéo, phỉnh phờ, là vững vàng tồn tại? Tránh khỏi lưới Trời?

Một dân tộc, truyền thống trên 2000 năm, chưa bao giờ yếu hèn khuất phục! Nhất định – cho dù thế hệ nào - vẫn phải quyết tâm vùng lên diệt lũ tham tàn.

01.12.2019
Nguyễn Dân

Share:

Vong2b - Cốt yếu nhất của việc sám hối là chỉnh lại quan niệm của mình theo quan điểm của Đức Giêsu trong Tin Mừng




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ Thường Niên

(08-12-2019)


Bài đào sâu

Cốt yếu nhất của việc sám hối là chỉnh lại quan niệm của mình theo quan điểm của Đức Giêsu trong Tin Mừng


  TIN MỪNG: Mt 3,1-12

Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng


Câu hỏi gợi ý:
1. Gioan Tẩy Giả kêu gọi chúng ta sám hối để đón Chúa đến. Nhưng để sám hối một cách hữu hiệu và nền tảng, chúng ta cần thay đổi cái gì?

2. Ðể đón Chúa đến và để được cứu rỗi thì việc lãnh nhận bí tích rửa tội để trở thành Kitô hữu đã đủ chưa? Còn thiếu điều gì nữa?

3. Gioan yêu cầu mọi người sửa lối cho thẳng. Chúng ta phải thực hiện lời yêu cầu ấy một cách cụ thể như thế nào?

Suy tư gợi ý:

1.  Ðiều căn bản nhất trong việc sám hối là điều chỉnh lại quan niệm của mình theo Tin Mừng

«Hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần» (Mt 3,2). Câu nói ấy của Gioan Tẩy Giả cho thấy: nếu Nước Trời sắp đến thì con người cần phải sám hối. 

Sám hối là gì? Sám hối trước tiên là nhận ra mình đã phạm sai trái, lầm lỗi hay có tội, đồng thời hối tiếc vì thấy được hậu quả tai hại của chúng, sau đó quyết tâm thay đổi, sửa chữa, không tái phạm nữa. Nhưng điều quan trọng cần sám hối và sửa sai chính là quan niệm của mình. Quan niệm sai lầm sẽ dẫn đến tư tưởng và hành động sai lầm. Nhưng nhận ra quan niệm hiện có của mình là sai lầm là một điều hết sức khó: ai cũng cho quan niệm của mình là đúng. Vì có cho là đúng thì mình mới dùng nó làm căn bản để tư tưởng và hành động. Tuy nhiên, có một tiêu chuẩn để biết quan niệm của mình đúng hay sai, đó là đối chiếu nó với quan niệm của Thiên Chúa, được bầy tỏ trong Tin Mừng qua Ðức Giêsu.

Chẳng hạn, rất nhiều Kitô hữu quan niệm sai lầm về đạo đức, về sự thánh thiện. Họ nghĩ đạo đức thánh thiện là siêng năng làm các việc đạo đức. Ðối với họ, các việc đạo đức chủ yếu là tham dự thánh lễ, xưng tội, rước lễ, đọc kinh (chung hoặc riêng), lần chuỗi, bỏ tiền vào nhà thờ, v.v. Và khi siêng năng làm các việc ấy, họ cảm thấy an tâm về phần rỗi của mình vì nghĩ rằng mình là một người đạo đức, mặc dù họ thường cư xử thiếu tình nghĩa với những người chung quanh, mặc dù những việc đạo đức ấy chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến cách sống và cách hành xử của họ.

Quan niệm như thế quả rất khác với quan niệm của Tin Mừng. Theo Tin Mừng, người đạo đức là người biết quên mình, biết coi nhẹ cái tôi và quyền lợi riêng của mình, biết vượt thắng bản năng ích kỷ để yêu Chúa và thương tha nhân hữu hiệu hơn, sẵn sàng hy sinh, chịu thiệt chịu khổ vì tình yêu ấy

Ðạo đức thật sự phải được thể hiện cụ thể qua cách sống, cách cư xử đầy công bình và bác ái với mọi người. Các việc đạo đức như tham dự thánh lễ, lãnh nhận các bí tích, v.v... chỉ là những phương tiện đem lại ơn Chúa và sức mạnh để ta thật sự yêu Chúa và tha nhân bằng những hành động cụ thể

Nếu ta không nhắm thực hiện sự yêu thương ấy như là điều cốt yếu nhất của việc sống đạo, mà lại coi những việc đạo đức kia là chính yếu, thì những việc đạo đức ấy trở nên phản tác dụng. Chúng có thể thành cớ để ta tự mãn và lên mặt với mọi người, đang khi thực tế trước mặt Chúa ta chẳng có giá trị gì. Còn biết bao nhiêu quan niệm sai lầm khác ảnh hưởng tai hại đến đời sống tâm linh của ta.

Vì thế, để sám hối, không gì quan trọng và nền tảng bằng lấy ánh sáng Tin Mừng để chỉnh đốn lại những quan niệm sai lầm đang chi phối tư tưởng và cách hành động của ta. Tư tưởng và hành động mà sai trái chính là vì quan niệm chưa đúng. Khi đã sửa đổi quan niệm cho đúng, tự khắc tư tưởng và hành động cũng sẽ đúng theo. Ðiều này đòi hỏi ta phải dành nhiều thì giờ đặt mình trước mặt Chúa để suy nghĩ, phản tỉnh và tự xét.



2.  Ðừng tự hào mình là người Kitô hữu

Biết bao người cảm thấy an tâm về phần rỗi đời đời của mình, đồng thời tự hào trước mặt mọi người vì mình là Kitô hữu, là tín đồ của một tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập. Nhưng Gioan Tẩy Giả đã cảnh cáo bọn kinh sĩ: «Ðừng tưởng có thể bảo mình rằng: "Chúng ta đã có tổ phụ Ápraham". Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham. Ðiều quan trọng là hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối, cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa» (Mt 3,9-10). Như vậy, điều quan trọng và cần thiết để được cứu rỗi không phải là chuyện có là Kitô hữu hay không, mà là có sống tinh thần Kitô hữu, tức tinh thần yêu thương của Ðức Kitô hay không (x. Mt 25,40.45; Ga 13,34-35).

Nếu «Thiên Chúa có thể biến những hòn đá thành con cháu Ápraham» (Mt 3,9b), thì cũng có thể biến chúng thành những Kitô hữu. Ðiều Thiên Chúa đòi hỏi ta chính là tình yêu, là hoa quả tất yếu của lòng sám hối (x. Mt 3,8). Và tình yêu ấy cũng phải sinh hoa kết trái thành hành động, để đem lại bình an, hạnh phúc và những điều tốt đẹp khác cho những người chung quanh ta, cho Giáo Hội và xã hội. 

Tôi rất thích tư tưởng sau đây của Raoul Follereau: «Thiên Chúa không thích những bàn tay tinh sạch nhưng trống rỗng cho bằng những bàn tay tuy không tinh sạch bằng, nhưng lại đầy quà dâng lên Ngài». Ngài đòi hỏi chúng ta nếu có 5 nén thì phải làm lợi thành 10 nén, nếu chỉ có 2 thì cũng phải làm thành 4 (x. Mt 25,14-30, Lc 19,12-27). Nếu không sinh hoa kết trái, chúng ta chỉ là những Kitô hữu hữu danh vô thực. Chúng ta cần phải tỏ ra mình là người Kitô hữu qua cách hành xử của chúng ta trong mọi tình huống và qua cách cư xử của chúng ta đối với mọi người. Phải làm sao để người khác nhìn thấy Chúa Kitô và tinh thần của Ngài trong cách sống của chúng ta.



3.  Sứ điệp của Gioan: «Hãy sửa lối cho thẳng để Ngài đi»

Gioan dùng lời của ngôn sứ Isaia để nói lên sứ điệp của mình: «Hãy dọn sẵn con đường cho Ðức Chúa, hãy sửa lối cho thẳng để Ngài đi» (Mt 3,3). Ðường và lối ở đây chắc chắn không hiểu theo nghĩa vật chất, mà chủ yếu theo nghĩa tâm linh. Nghĩa là tâm hồn chúng ta phải thật thẳng, không quanh quéo. Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa của Công Lý, Ngài ưa thích sự công minh chính trực, đường đường chính chính, luôn luôn sáng tỏ. Ngài rất ghét sự quanh co, mờ ám, dối trá. Tuy rất ghét sự xấu, sự ác, nhưng Ngài vẫn sẵn sàng tha thứ cho người xấu người ác khi họ hối cải. Ðiều Ngài ghét thậm tệ là sự xấu ác được che đậy bằng cái vỏ thánh thiện, đạo đức. Ta thấy: Ðức Giêsu cũng như Gioan Tẩy Giả không hề kết án hay chửi rủa những người tội lỗi như bọn đĩ điếm, thu thuế. Ðối tượng để các Ngài kết án và chửi rủa là:

Những hạng đạo đức giả hình kiểu khẩu Phật tâm xà: «bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong thì toàn là giả hình và gian ác» (Mt 23,28), «rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ» (Mt 23,25).

Những người có chức có quyền trong đạo Do Thái nhưng đã dùng những chức quyền ấy chẳng phải để bênh vực người nghèo, người bị áp bức, mà trái lại để hà hiếp bóc lột họ: «Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ» (Mt 23,14). Những người này đã coi tôn giáo như một cơ hội thuận lợi giúp mình thăng quan tiến chức hầu có thể sống trên đầu trên cổ người khác.

Các Ngài chửi rủa họ một cách thậm tệ, có thể nói là cạn tàu ráo máng: nào là «Nòi rắn độc kia!» (Mt 3,7), nào là «Mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế» (Mt 23,27), v.v.

Vì thế, để đón Chúa đến, người Kitô hữu phải tránh tất cả mọi thứ quanh quéo trong tâm hồn, lời nói và hành động. Không dùng những xảo thuật như treo đầu dê bán thịt chó, lập lờ đánh lận con đen, tráo trở, có nói không không nói có, nói một đằng làm một nẻo. Trái lại, cần phải có tâm hồn ngay thẳng: «hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ» (Mt 5,36). Khi phải lên tiếng thì cứ theo công tâm mà nói, không thiên lệch bên nào, không nói lấy được cho mình, cho phe của mình, cho tôn giáo của mình. 

Ðiều chúng ta phải bênh vực là công lý và tình thương, chứ không phải một đối tượng nào khác. Nếu có bênh vực người nghèo thì không phải vì họ nghèo, mà vì họ thường là nạn nhân của bất công. Ðừng để cho quyền lợi cá nhân hay tập thể chi phối lời nói và hành động của ta, làm ta mất đi sự trong sáng và công tâm của mình. Ðừng nói quá nhiều quá hay, mà làm thì quá ít quá dở; đó cũng là một thứ thiếu thẳng thắn.

Là người Kitô hữu, môn đệ của Ðức Giêsu, chúng ta phải hành xử làm sao để mọi người có thể tin vào lương tâm, vào lời nói của chúng ta, nhất là những người chính thức mang danh theo Chúa. Nếu không, chúng ta sẽ làm ô danh Ðức Giêsu và tôn giáo mà chúng ta theo. Ðó là cách tốt nhất để đón Chúa đến trần gian, nhất là đến trong tâm hồn mình.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, chúng con đang đón chờ Ðức Giêsu trở lại trần gian lần thứ hai. Xin cho chúng con biết đón Ngài đến bằng sự sám hối, bằng một sự thay đổi hữu hiệu, mà quan trọng nhất là thay đổi quan niệm. Xin cho chúng con quan niệm mọi sự giống như Ðức Giêsu đã quan niệm, được bày tỏ trong các sách Tin Mừng. Xin cho chúng con biết yêu những gì Ngài yêu như sự ngay thẳng, công bình, trong sáng, và ghét những gì Ngài ghét như sự giả hình, quanh co, che đậy. Ðể càng ngày chúng con càng nên hoàn hảo, giống Ngài hơn. Amen.


Share:

Vong2a - Sám hối đích thực đòi hỏi sự thay đổi toàn diện




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ Thường Niên

(08-12-2019)


Sám hối đích thực đòi hỏi sự thay đổi toàn diện



ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 11,1-10: (3) Người sẽ không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói, (4) nhưng xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng, và phán quyết vô tư bênh kẻ nghèo hèn.

  Rm 15,4-9: (4) Mọi lời xưa đã chép trong Kinh Thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy.

  TIN MỪNG: Mt 3,1-12

Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng

(1) Hồi ấy, ông Gioan Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giuđê rằng: (2) «Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần». (3) Ông chính là người đã được ngôn sứ Isaia nói tới: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

(4) Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. (5) Bấy giờ, người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giuđê, cùng khắp vùng ven sông Giođan, kéo đến với ông. (6) Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan. 

(7) Thấy nhiều người thuộc phái Pharisêu và phái Xađốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: «Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? (8) Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối. (9) Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: “Chúng ta đã có tổ phụ Ápraham”. Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham. (10) Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. 

(11) Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa. (12) Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi».




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Sứ điệp chính của Gioan Tẩy giả là gì? Là sám hối? Nhưng phải hiểu sám hối thế nào? Dựa trên điều gì để biết được một người thật lòng sám hối?

2. Người Pharisêu và Xađốc là những người nắm giềng mối của tôn giáo, được dân chúng coi là gương mẫu về đạo đức, tại sao Gioan Tẩy giả lại gọi họ là «nòi rắn độc»? Ông có quá đáng không?

3. Cách đánh giá của Đức Giêsu và Gioan Tẩy giả về đạo đức và thánh thiện có khác cách thường tình của chúng ta không? Các Ngài đánh giá dựa trên tiêu chuẩn nào? Chúng ta thường dựa trên tiêu chuẩn nào?

Suy tư gợi ý:

1.  Gioan Tẩy giả kêu gọi sám hối

Gioan Tẩy giả xuất hiện để dọn đường cho Đức Giêsu. Ông chuẩn bị tâm hồn dân chúng để họ xứng đáng đón nhận Nước Trời do Đức Giêsu sắp đến khai mạc. Theo ông, điều tiên quyết phải làm để đón nhận Nước Trời là sám hối: «Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần» (Mt 3,2).

Sám hối là nhận ra sự sai trái của mình đối với đường lối của Thiên Chúaquyết tâm sửa sai. Sám hối đích thực phải dẫn đến một sự thay đổi toàn diện, một đời sống mới, với quan niệm mới, nhìn mọi sự và suy nghĩ mọi vấn đề theo cung cách mới, phù hợp với cách nhìn và đường lối của Thiên Chúa. Người nào nói mình sám hối mà đời sống không hề thay đổi, người ấy là người nói dối.



2.  Coi chừng! những người tưởng mình là công chính nhiều khi lại cần sám hối hơn ai hết

Điều khiến ta phải lấy làm lạthái độ của Gioan Tẩy giả đối với những người Pharisêu và Xađốc. Họ là những người dạy dỗ dân chúng về tôn giáo, về lề luật của Chúa. Họ nắm giữ những giềng mối của tôn giáo Do Thái, và được coi là mô phạm, là gương mẫu cho dân chúng. Họ là những người giữ lề luật một cách rất nhiệm nhặt, chi ly đến từng chi tiết. Vì thế, dưới con mắt loài người, họ rất có lý khi tự hào về sự đạo đức, thánh thiện của mình.

Ta không hề thấy Gioan Tẩy giả nặng lời với bọn gái điếm, thu thuế, vốn bị coi là hạng tội lỗi. Nhưng ông lại rất nặng lời với những người thuộc hai phái đạo đức này. Ông gọi họ là: «nòi rắn độc!» Sự kiện này rất đáng cho chúng ta suy nghĩ. Thông thường, mọi người đều nghĩ: nếu phải dùng từ «nòi rắn độc» để chỉ ai đó, thì bọn thu thuế và gái điếm xứng đáng với từ này nhất. Nhưng Gioan Tẩy giả không nghĩ như vậy. Ông dùng từ độc địa này để gọi chính những người được mọi người coi là đạo đức nhất trong dân chúng. Ông sai lầm chăng? 

Nếu cho rằng Gioan sai lầm, thì cũng phải cho rằng Đức Giêsu sai lầm luôn khi Ngài nói thẳng với hai nhóm người đạo đức này: «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31). Rõ ràng hai vị đồng quan điểm với nhau!



3.  Đức Giêsu nhìn và đánh giá con người dựa trên tình yêu

Đức Giêsu –cũng như Gioan Tẩy giả– không đánh giá con người theo cách của chúng ta. Ngài nhìn thẳng vào chính tâm hồn con người để đánh giá, chứ không chỉ nhìn vào chức vụ, vào những việc làm tốt đẹp, những nhân đức được tỏ lộ ra bên ngoài ai cũng thấy như chúng ta. Vì thế, rất có thể những người bị chúng ta cho là tội lỗi vì những hành động xấu xa bên ngoài, lại được Ngài đánh giá cao hơn những con người được chúng ta cho là thánh thiện, đạo đức vì những nhân đức hay việc làm tốt lành của họ. Chính vì Ngài đánh giá khác con người, nên Ngài mới báo trước một sự đảo lộn không ngờ vào ngày chung cuộc: «Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên đầu» (Mc 10,31; xem thêm Mt 7,22-23; 8,11-12).

Đức Giêsu đánh giá con người như thế nào? Tiêu chuẩn đánh giá của Ngài chính là tình yêu, tình yêu đích thực, vì bản chất của Ngài chính là tình yêu (x.1Ga 4,8.16). Ai càng có nhiều tình yêu thì càng giống Ngài và càng có giá trị trước mặt Ngài. Do đó, sự thánh thiện hệ tại tình yêu mà con người có trong lòng mình, chứ không hệ tại những nhân đức hay những việc tốt đẹp mà con người làm được. Những thứ này chỉ là biểu hiện tất yếu của tình yêu chứ không phải là tình yêu. Nếu là tình yêu đích thực thì đương nhiên phải được thể hiện thành những nhân đức hay việc làm tốt đẹp. Thánh Giacôbê viết: «Đức tin không có việc làm là đức tin chết» (Gc 2,17.26). Cũng vậy, tình yêu không được thể hiện thành hành động cụ thể là tình yêu giả hiệu, tình yêu môi mép (x. Mt 15,8-9). Ai nghĩ hay nói rằng mình có tình yêu, nhưng lại không hề thể hiện tình yêu ấy thành việc làm, thành nhân đức, thì đó là kẻ nói dối hay ảo tưởng.



4.  Không có tình yêu, mọi việc tốt đẹp đều vô giá trị trước mặt Thiên Chúa

Tuy nhiên người ta vẫn có thể có những nhân đức hay việc làm hết sức tốt đẹp mà chẳng hề có tình yêu ở bên trong. Những nhân đức hay việc làm tốt đẹp ấy có thể phát xuất:

từ tham vọng cá nhân: một người có tham vọng làm tổng thống, bộ trưởng hay làm một chức sắc cao cấp trong một tôn giáo vẫn có thể tập luyện để có những nhân đức, hay làm được những việc rất tốt đẹp chủ yếu để đạt được những địa vị cao cả đó.

từ chức năng: một cán sự xã hội, một nhân viên tiếp thị, một đại lý bảo hiểm… phải có những lời nói thật dễ thương, đầy vẻ khiêm nhường và vị tha, phải có thái độ sẵn sàng giúp đỡ… (mà bình thường mình không có) thì mới có thể thành công trong nghề nghiệp mình. Làm chức sắc tôn giáo cũng phải ăn nói hay hành động thế nào để tỏ ra có tình yêu đúng như chức vụ mình đòi hỏi. Tình yêu này là thứ «tình yêu do chức năng» hay «tình yêu vì mục vụ» không hẳn là tình yêu đúng nghĩa.

từ tính sĩ diện, ham được ca tụng, thích được bái phục, hoặc sợ bị chê cười, trách móc: biết bao hành động tốt đẹp trên đời được thành tựu do sự thúc đẩy của động lực rất phổ biến này.

Như vậy, «yêu thật sự» và «có vẻ yêu» thì bề ngoài rất giống nhau đến nỗi con người nhiều khi không thể phân biệt được, nên trước mặt con người, giá trị của chúng có thể như nhau, nhưng trước mặt Thiên Chúa lại rất khác nhau. Thánh Phaolô cho chúng ta biết về sự vô giá trị trước mặt Thiên Chúa của những hành động tốt đẹp nhưng không phát xuất từ tình yêu, cũng như những đặc sủng không phục vụ cho tình yêu: «Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và các thiên thần (…) có ơn nói tiên tri và biết hết mọi bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có đức tin chuyển núi dời non (…) có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,1-3)

Không có tình yêu, thì trước mặt Thiên Chúa, mọi nhân đức, đặc sủng, việc làm tốt đẹp, thậm chí đức tin, chỉ là một dãy số không với chữ số to nhỏ khác nhau mà thôi. Có ai hãnh diện vì số không của mình to hơn, đẹp hơn, hay dãy số không của mình dài hơn của người khác không? Đã là số không, thì dù to hay nhỏ, dù đẹp hay xấu, dù là một chữ số hay nhiều chữ số kết hợp lại, thì cũng đều có giá trị bằng không.

Dãy số không – tượng trưng cho những nhân đức hay việc làm tốt đẹp – dù dài hay ngắn, dù to hay nhỏ, đều không có giá trị gì. Nhưng nếu thêm vào đầu dãy số ấy con số 1, thì giá trị của dãy số hoàn toàn biến đổi. Tình yêu chính là số 1 đứng ở đầu dãy số không ấy, biến tất cả những số không vô giá trị kia thành một giá trị lớn lao.

tình yêu đích thực lại đặt nền tảng trên tinh thần tự hủy, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi» của mình. Đấy chính là ý nghĩa đích thực và chủ yếu của hai chữ «từ bỏ» trong Tin Mừng. Mọi công trình của con người mà bị đổ bể thường chỉ vì thiếu tinh thần «từ bỏ» này của Tin Mừng. Một người coi «cái tôi» của mình quá quan trọng khó có thể có được tình yêu đích thực.

Vậy, để sám hối hầu đón Chúa đến trong tâm hồn mình, thiết tưởng ta cần nghiêm túc xét xem sự thánh thiện và đạo đức của chúng ta xây dựng trên nền tảng nào: trên tình yêu? hay trên tham vọng cá nhân, trên chức vụ, trên sĩ diện? Nếu sự đạo đức thánh thiện ấy không được xây dựng trên tình yêu, thì chính chúng ta mới là những người phải sám hối trước tiên. Vì rất có thể những kẻ có vẻ tội lỗi hơn chúng ta lại có nhiều tình yêu hơn chúng ta, họ đối xử với tha nhân có tình có nghĩa hơn chúng ta. Nên trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không giá trị bằng họ.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi con cầu nguyện nhiều hơn người khác, nhưng chính trong khi cầu nguyện, con lại tỏ ra ích kỷ, kiêu ngạo và thiếu tình yêu hơn lúc nào hết, khiến việc cầu nguyện của con làm cho Cha chán ngán. Nhiều khi chúng con giống như những người Pharisêu, cầu nguyện nhiều để được mọi người coi là đạo đức (x. Mt 6,5), hoặc tự hào về mình trước mặt Cha khi cầu nguyện (x. Lc 18,11-12). Xin cho con hiểu rằng chỉ có tình yêu chứ không phải bất cứ điều gì khác làm cho con trở nên giống Cha, nghĩa là nên thánh thiện thật sự.


Share: