Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Hiển Linh (1): Dân ngoại đón tiếp ơn cứu độ của Đức Kitô


CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa nhật Lễ Hiển Linh
(8-1-2016)
(Bài 1)


Dân ngoại đón tiếp ơn cứu độ của Đức Kitô.


ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 60,1-6: (2) Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi. (3) Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.

  Ep 3,2-3a.5-6: (6) Mầu nhiệm Đức Kitô là: trong Đức Kitô, nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Dothái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.

  TIN MỪNG: Mt 2,1-12

Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giêsu Hài Nhi.


(1) Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, (2) và hỏi: «Đức Vua dân Dothái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người». (3) Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. (4) Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. (5) Họ trả lời: «Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: (6) 'Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời». (7) Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. (8) Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: «Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người. » (9) Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. (10) Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. (11) Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. (12) Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình. 


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Các kinh sư Do Thái có tôn giáo chân chính do chính Thiên Chúa thiết lập, còn các nhà chiêm tinh là dân ngoại, bị dân Do Thái coi là theo tà giáo. Nhưng trong bài Tin Mừng này, ai là người gặp được Đấng Cứu Thế Hài Nhi? Tại sao lại như vậy? Có phi lý không?
2.   Có tôn giáo chân chính có phải là điều bảo đảm sẽ gặp Thiên Chúa, sẽ được vào Nước Trời không? Không có tôn giáo chân chính có phải là không thể gặp Thiên Chúa hay không thể vào Nước Trời không? Vấn đề chính yếu hệ tại điều gì
Suy tư gợi ý:

1.   Một sự kiện xảy ra cách oái oăm, nghịch lý

Điều đáng lưu ý trong bài Tin Mừng lễ Hiển Linh chính là việc Thiên Chúa mặc khải chân lý – ở đây là việc giáng sinh của Đấng Cứu Thế – một cách không chính thức cho dân ngoại, là những người không thuộc tôn giáo chính thống mà Ngài đã thiết lập, nhưng họ đã đạt được chân lý hay đã gặp được Đấng Cứu Thế.

Trong bài Tin Mừng này, ta thấy có hai hạng người:

a) Dân Do Thái, cụ thể là giới lãnh đạo xã hội và tôn giáo, là dân được Thiên Chúa tuyển chọn và có tôn giáo chính thống của Thiên Chúa. Dân Do Thái đã được Thiên Chúa chính thức mặc khải việc Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra qua các ngôn sứ trước đó hàng mấy trăm năm, mặc khải này đã được ghi lại trong Kinh Thánh, và toàn dân đều mong đợi Đấng Cứu Thế đến. Có Thánh Kinh trong tay, giới lãnh đạo xã hội và tôn giáo của Do Thái biết Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra tại Bêlem (x. Mt 2,4-6 [a*]).

b) Dân ngoại, mà đại diện là «mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông» (Mt 2,1). Họ không có tôn giáo chính thống của Thiên Chúa, cũng không có Kinh Thánh trong tay, vì thế họ không biết chính xác Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra và sinh ra ở đâu. Nhưng Thiên Chúa cho họ biết Đấng Cứu Thế đã sinh ra nhờ một phương tiện khác, có thể là kiến thức khoa học, khoa chiêm tinh, hay tôn giáo riêng của họ.

Kết quả là những người có tôn giáo chính thống, có Kinh Thánh trong tay, biết được chính xác nơi sinh ra của Đấng Cứu Thế lại không gặp được Ngài vì họ không thèm đi tìm. Còn những người không có tôn giáo chính thống, chỉ biết được Ngài sinh ra một cách rất mơ hồ, lại gặp được Đấng Cứu Thế, vì họ đã quyết tâm tìm kiếm Ngài. Sự kiện này phải làm chúng ta suy nghĩ và rút ra bài học.

2.   Biết xuông không đủ, phải biến cái biết thành hành động, thành cuộc sống

Sự kiện trên cho chúng ta thấy: việc có tôn giáo chính thống hay biết được những mặc khải chính thức của Thiên Chúa là một điều rất thuận lợi để đạt được chân lý hay để gặp được Thiên Chúa. Nhưng có đạt được chân lý hay có gặp được Thiên Chúa hay không, còn tùy thuộc vào thiện chí và nỗ lực tìm kiếm của con người. Những người Do Thái – cụ thể nhất là giới lãnh đạo Do Thái giáo – tuy biết được chính xác Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra tại Bêlem (x. Mt 2,4-6 [a*]), nhưng họ chỉ biết để mà biết, để rao truyền, để thông tin cho người khác, chứ không phải để sống hay để thực hiện điều mình biết. Nên cuối cùng những thuận lợi hay kiến thức ấy trở thành vô ích cho họ. Còn dân ngoại – mà các nhà chiêm tinh là một điển hình – tuy được Thiên Chúa mặc khải chân lý một cách mù mờ không chính xác, nhưng nếu họ có thiện chí, và nỗ lực tìm kiếm để đạt đến chân lý, để gặp Thiên Chúa, thì cuối cùng Ngài cũng giúp họ đạt được điều họ tìm kiếm. Đúng như lời của Đức Giêsu: «Ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì cửa sẽ mở cho họ» (Mt 7,8). Vậy vấn đề quan trọng là: ta có nỗ lực đi tìm hay thực hiện điều mình biết hay không.

Nếu các nhà chiêm tinh cũng có não trạng như giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, thì khi «thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông» (Mt 2,2), họ cũng sẽ chỉ coi đó như một kiến thức như bao kiến thức khác chẳng ảnh hưởng gì đến họ, và họ sẽ chẳng gặp được Đấng Cứu Thế. Nhưng trong thực tế họ đã quyết tâm lên đường tìm kiếm Ngài. Và Thiên Chúa đã giúp họ bằng cách cho ngôi sao dẫn đường đến nơi Đấng Cứu Thế sinh ra. Điều khiến họ hơn hẳn những người được chính thức mặc khải là việc dấn thân tìm kiếm. Kết quả cho thấy nỗ lực tìm kiếm chân lý hay Thiên Chúa có giá trị hơn việc biết được những mặc khải chính thức rất nhiều.

3.   Đừng vội tự mãn về việc mình có tôn giáo chân chính

Vì thế, chúng ta đừng vội tự hào rằng tôn giáo của chúng ta là tôn giáo chân chính, và cứ thế mà an tâm vì chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho những chân lý bảo đảm nhất. Nếu chúng ta quyết tâm lợi dụng tôn giáo chính thống hay những mặc khải chính thức để tìm gặp Thiên Chúa, thì chúng ta có lợi thế hơn người ngoại giáo rất nhiều. Nhưng nếu chúng ta ỷ lại vào lợi thế đó để khỏi phải cố gắng sống đúng theo những mặc khải đó thì coi chừng chúng ta sẽ chẳng đạt được gì cả. Chuyện ngụ ngôn thỏ và rùa chạy đua là một bài học rất đích đáng cho những người có tôn giáo chính thống như chúng ta. Thỏ có nhiều thuận lợi để thắng cuộc hơn rùa rất nhiều, nhưng chính vì ỷ lại vào những thuận lợi đó mà thỏ đã thua cuộc. Cũng vậy, người đi bộ hay đi chiếc xe đạp cọc cạch mà quyết tâm tới đích thì vẫn bảo đảm sẽ tới đích hơn là người có chiếc xe hơi thật tốt, thật nhanh, nhưng lại không quyết tâm đi tới đích ấy.

Qua bài Tin Mừng về lễ Hiển Linh, ta thấy để gặp được Thiên Chúa, cần có hai yếu tố: về phía Thiên Chúa, ta cần phải được Thiên Chúa soi sáng, chỉ dẫn, mời gọi và giúp sức; về phía ta, chính ta phải đáp lại lời mời gọi và nỗ lực tìm kiếm Ngài. Thiếu một trong hai yếu tố đó, việc gặp Thiên Chúa không thể thành tựu được. 

Yếu tố về phía Thiên Chúa luôn luôn là yếu tố khởi động: Ngài mời gọi ta trước, và Ngài để ta được hoàn toàn tự do trong việc đáp lại hay từ chối lời mời gọi của Ngài. Yếu tố về phía ta vẫn là yếu tố chủ động mang tính quyết định. Đối với các kinh sư Do Thái, qua Kinh Thánh, Thiên Chúa đã cho họ biết Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra. Họ được mặc khải rõ ràng, được mời gọi một cách ưu tiên hơn và trân trọng hơn các nhà chiêm tinh rất nhiều, nhưng họ lại không chủ động đáp lại lời mời gọi ấy. Còn đối với các nhà chiêm tinh, Thiên Chúa đã cho họ thấy vì sao của Đấng Cứu Thế. Họ tuy được mặc khải rất ít, và không được ưu tiên mời gọi, nhưng lại chủ động đáp lại lời mời gọi và lên đường tìm kiếm. Thiên Chúa đã giúp họ tìm kiếm bằng ngôi sao dẫn đường, và họ đã tìm được Đấng Cứu Thế.

Từ đó, ta có thể kết luận: yếu tố quan trọng để gặp Chúa không nằm ở việc có tôn giáo chính thống cho bằng ở chính nỗ lực của con người có quyết tâm đáp lại lời mời gọi của Ngài và có tìm Ngài hay không. Người không có tôn giáo chân chính vẫn có thể gặp được Ngài nếu quyết tâm và nỗ lực tìm kiếm Ngài. Ngược lại, người có tôn giáo chân chính mà thiếu nỗ lực đó thì tôn giáo chân chính trở nên vô ích đối với họ. Chính vì thế, Đức Giêsu mới nói: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12).

Thánh Phaolô quảng diễn ý tưởng ấy rõ ràng hơn: «Phép cắt bì hẳn là có ích nếu bạn thi hành Lề Luật. Nhưng nếu bạn vi phạm Lề Luật, thì bạn có được cắt bì cũng kể như không cắt bì» (Rm 2,25). Câu này cho thấy phép cắt bì hay rửa tội, dấu chứng của người có tôn giáo chân chính, sẽ trở nên vô ích nếu ta không tuân giữ luật của Thiên Chúa. Thánh Phaolô viết tiếp: «Trái lại, nếu người không được cắt bì mà giữ những điều Luật dạy, thì tuy họ không được cắt bì, Thiên Chúa lại chẳng coi họ như đã được cắt bì sao? Người không được cắt bì trong thân xác mà vẫn chu toàn Lề Luật, người ấy sẽ lên án bạn, vì bạn có Lề Luật ghi chép hẳn hoi và bạn đã được cắt bì, mà vẫn vi phạm Lề Luật» (Rm 2,26-27). Lời này cho thấy người không được cắt bì hay rửa tội, nếu sống đúng thánh ý Thiên Chúa, tuân giữ luật Chúa được ghi khắc trong lương tâm họ (x. Rm 2,15 [b*]) – nghĩa là yêu mến Thiên Chúa bằng đời sống yêu thương tha nhân, sống trọn tình trọn nghĩa – thì họ cũng được Thiên Chúa coi như đã được cắt bì hay rửa tội. 

Vì thế, điều quan trọng đối với chúng ta, người Kitô hữu, là phải làm theo thánh ý Thiên Chúa, giữ đúng giới luật mới và cũng là duy nhất của Đức Kitô là «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13,34-35). Không giữ luật của Ngài thì việc theo Chúa hay có tôn giáo chân chính của ta chẳng những trở nên vô ích, mà còn là lý do để Thiên Chúa kết án ta nữa. Cũng tương tự, cho dù ta có đức tin, nhưng ta không thể hiện đức tin ấy thành hành động yêu thương, thì đức tin ấy cũng trở thành vô ích: «Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì» (1Cr 13,2).


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha đã mặc khải chân lý cho con qua Đức Giêsu. Đó là một thuận lợi đặc biệt cho con hơn những người ngoài Kitô giáo để sống đúng là con cái Cha và đáng được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mà Cha dành cho con cái mình. Xin giúp con ý thức hồng ân cao cả ấy để con sống đúng là con cái hiếu thảo của Cha, sống đúng thánh ý Cha là sống có tình có nghĩa với Cha và với tất cả mọi người chung quanh con. Nếu không, tất cả những chân lý mà Cha mặc khải cho con đều trở nên vô ích và còn nên cớ cho con bị lên án trong ngày phán xét cuối cùng nữa.


_________________________

Một số câu Kinh thánh được giới thiệu nhưng không trưng dẫn trong bài. Xin trưng ra đây để tiện cho những ai muốn đào sâu thêm:

[a*] Mt 2,4-6 => «Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Ðấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời”» .

[b*] Rm 2,15 => «Điều gì Luật đòi hỏi, thì đã được ghi khắc trong lòng họ. Lương tâm họ cũng chứng thực điều đó, vì họ tự phán đoán trong lòng, khi thì cho mình là trái, khi thì cho mình là phải».




Share:

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

Lễ Đêm Giáng Sinh (Bài 2)


CHIA SẺ TIN MỪNG


Lễ Đêm Giáng Sinh
(24-12-2016)

(bài 2)


Vì yêu thương con người, Đức Giêsu xuống thế
để chia sẻ thân phận đau khổ với con người


ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 9, 1-6: (5) Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta.

  Tt 2, 11-14: (12) Chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian.

  TIN MỪNG: Lc 2, 1-20

Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem


(1) Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.  (2) Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri.  (3) Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi.  (4) Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đavít.  (5) Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai.  (6) Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.  (7) Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.

 (8) Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.  (9) Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.  (10) Nhưng sứ thần bảo họ: «Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:  (11) Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa.  (12) Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ».  (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:  (14) «Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương». 

(15) Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: «Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết».  (16) Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.  (17) Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.  (18) Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.  (19) Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.  (20) Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ. 


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.  Đức Giêsu có gặp nhiều nghịch cảnh như chúng ta không? Giữa Ngài và ta, ai nhiều nghịch cảnh hơn ai? Ta có thể rút ra kết luận gì về điều này? 
2. Có cha mẹ nào yêu thương con mà lại bắt con phải chịu đau khổ một cách vô ích hoặc không cần thiết không? Nếu các ngài cứ bắt ép con mình phải chịu khổ, thì người con phải hiểu đau khổ ấy thế nào? có cần thiết hay không? 
3. Vì yêu con người, Thiên Chúa muốn chia sẻ đau khổ với con người. Nếu ta yêu tha nhân, ta sẽ phải làm gì khi thấy họ phải đau khổ? 
Suy tư gợi ý:

1.   Đức Giêsu cũng gặp bao nghịch cảnh như chúng ta

Đức Giêsu chính là Thiên Chúa nhập thể, mặc lấy thân phận con người y hệt như chúng ta, chỉ khác với chúng ta ở chỗ không có tội lỗi mà thôi. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Ngài cũng gặp biết bao nghịch cảnh như chúng ta, thậm chí ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ và khi vừa mới sinh ra. 

Gần tới ngày Ngài chào đời thì cha mẹ Ngài phải lên đường đến một nơi cách nhà mình trên 120 cây số vì lệnh kiểm tra dân số của chính quyền. Tại nơi xa lạ này, gia đình Ngài đã không kiếm được một chỗ trọ để Ngài chào đời một cách xứng với phẩm giá một con người. Vì thế, hai ông bà đã phải chấp nhận cảnh sống bụi đời là tìm một chuồng chiên bò nào đó ở ngoài đồng để sinh con và tạm trú qua ngày. Và Đức Giêsu đã sinh ra trong một chuồng chiên bò. Ôi, thật là nhục nhã! 

Nghịch cảnh đâu đã hết, nó còn theo Ngài suốt cuộc đời: nào là phải trốn sang Ai Cập, rồi trở về Nadarét, nào là cảnh nghèo khổ, nào là tình trạng bị giới lãnh đạo tôn giáo ghen ghét và bách hại, bị dân chúng và cả môn đệ mình phản bội, bị đánh đòn, bị xỉ vả nhục nhã, bị chết thảm thương, v.v… 

Xét về hoàn cảnh, chúng ta may mắn hơn Ngài rất nhiều. Ngài vốn là Thiên Chúa, giầu sang quyền quí vô cùng, thế mà phải chịu như vậy. Chúng ta là ai mà lại mong muốn được ưu đãi hơn Ngài? Suy nghĩ điều ấy sẽ phát sinh một niềm an ủi rất lớn cho chúng ta.

2.   Đau khổ và nghèo khó có giá trị của nó

Thân phận con người là một thân phận đau khổ và nghèo khó như một hậu quả tất yếu của tội nguyên tổ. Nếu đau khổ hoàn toàn không có ích lợi gì cho chúng ta, chắc chắn vì yêu thương chúng ta vô hạn, Thiên Chúa sẽ dùng quyền năng vô biên để giải phóng chúng ta hoàn toàn khỏi mọi đau khổ. Nhưng nếu Thiên Chúa vẫn để chúng ta phải đau khổ, và chính Ngài cũng sẵn sàng đau khổ cùng với chúng ta, tất nhiên đau khổ ấy phải có ích lợi rất lớn cho chúng ta. Nếu không như thế, thì phải kết luận rằng: một là Ngài là người tàn ác, không yêu thương gì chúng ta, hai là Ngài không toàn năng, nghĩa là không đủ khả năng để giải phóng chúng ta khỏi đau khổ. Nếu Ngài yêu thương ta vô cùng lại toàn năng, mà lại để chúng ta đau khổ, ắt nhiên đau khổ ấy phải rất cần thiết và rất ích lợi cho chúng ta.

Một minh họa tuy què quặt nhưng giúp ta dễ hiểu điều ấy: Cha mẹ yêu thương con không bao giờ muốn con phải khổ, dù chỉ là khổ một chút xíu. Nhưng nếu cha mẹ bắt con cái mình phải uống một thứ thuốc rất đắng, hay phải chịu roi vọt rất đau đớn, và chính cha mẹ cũng phải vất vả vô cùng mới kiếm được thứ thuốc đắng ấy, hay phải quặn ruột nhìn con khóc thét dưới lằn roi, tất nhiên thuốc đắng hay roi vọt ấy phải là cần thiết hoặc ích lợi cho đứa con. Thật vậy, thà bắt con khổ vì uống thuốc, đau vì roi vọt, còn hơn để con phải bệnh hoạn tật nguyền suốt đời, hay trở nên người hư hỏng hoặc vô giá trị sau này.

3.   Đau khổ rất cần thiết và ích lợi để nên thánh, để hạnh phúc

Kinh nghiệm cho ta thấy đau khổ nhiều khi rất cần thiết để đạt được những ích lợi lớn hoặc để tránh những tổn thất nặng nề, chẳng hạn như: «quân trường thấm mồ hôi, chiến trường ít đổ máu», «gieo trong nước mắt thì sẽ gặt giữa vui mừng» (Tv 126,5-6). Kinh điển Phật giáo cũng nói: «Tất cả các phiền não đau khổ đều là hạt giống Như Lai. Tương tự như nếu mình chẳng lặn xuống biển sâu thì không thể tìm thấy châu báu vô giá. Cũng vậy, nếu mình chẳng chịu ngụp lặn trong bể cả phiền não, ắt mình không thể tìm được của báu là cái trí tuệ biết hết tất cả» (Kinh Duy-Ma-Cật, Phẩm 8: Phật Đạo). Theo Phật giáo, phiền não đau khổ là hạt giống Như Lai, sinh ra trí tuệ giải thoát. 

Ta thấy: trên đời, những người có bản lãnh đều là những người phải kinh qua rất nhiều đau khổ, đều được đào luyện trong đau khổ. Đau khổ dạy cho chúng ta – thậm chí cả Đức Giêsu – nhiều bài học quí giá: «Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục» (Dt 5,8). Ngay cả đối với Đức Giêsu, thì đau khổ cũng rất cần thiết để Ngài trở nên vị lãnh đạo hoàn hảo: «Quả thế, Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích mọi loài, Người đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giêsu trải qua gian khổ để trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa con người tới nguồn ơn cứu độ» (Dt 2,10). Muốn sử dụng ai, Thiên Chúa thường dùng đau khổ để sửa dạy, để thánh hóa, để huấn luyện người ấy nên hoàn hảo: «Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt» (Dt 12,6). Gương của các thánh chứng minh điều ấy. 

Như vậy, đau khổ có giá trị của nó, và chịu đựng đau khổ không phải là một chuyện vô ích. Nếu đau khổ và nghèo khó cần thiết và ích lợi cho chúng ta, mà Thiên Chúa lại không bắt chúng ta đau khổ và nghèo khó, thì chắc chắn Ngài chưa phải là người yêu thương chúng ta đích thực: vì «yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi». Hoặc Ngài chỉ yêu chúng ta một cách thuần túy tình cảm và điều ấy sẽ làm chúng ta hư hỏng, tương tự như: «con hư tại mẹ, cháu hư tại bà».

4.   Thiên Chúa cùng chịu đau khổ và nghèo khó với con người

Dù đau khổ và nghèo túng là cần thiết cho chúng ta chứ không phải cho Thiên Chúa, nhưng nếu Ngài để chúng ta phải quằn quại trong đau khổ một mình, còn Ngài chẳng biết một chút gì về đau khổ, thì chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng cô đơn trong đau khổ, và chúng ta khó có thể tin được rằng Ngài yêu thương chúng ta. Nhưng nếu Ngài đã cùng muốn chịu đau khổ với chúng ta, và còn muốn chịu đau khổ hơn cả chúng ta nữa, thì điều đó chứng tỏ rằng Ngài đã yêu thương chúng ta đích thực: «Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu» (Ga 15,13).

Qua cuộc giáng sinh của Đức Giêsu, Thiên Chúa đã đích thân xuống thế làm người để cùng chịu đau khổ và nghèo nàn với chúng ta. Ngài đã dùng đau khổ của chính mình để xoa dịu những đau khổ của con người, đã dùng thương tích của chính Ngài để chữa lành những vết thương của con người (xem 1Pr 2,24b). Điều ấy làm chúng ta nhận ra tình yêu của Ngài đối với chúng ta là vô bờ bến, đồng thời cũng nhận ra giá trị của đau khổ và sự nghèo khó.

5.   Hãy bắt chước Ngài chia sẻ đau khổ với những người chung quanh ta, nhất là những người nghèo túng, bị áp bức bất công

Nếu tình yêu đích thực đã thúc đẩy Thiên Chúa phải chia sẻ thân phận đau khổ và nghèo nàn của chúng ta, thì ta có thể rút ra một kết luận cho việc thể hiện tình yêu của chúng ta đối với tha nhân. Nếu chúng ta nói mình yêu ai, mà khi người ấy gặp đau khổ, chúng ta không hề cảm thấy phải làm điều gì để giảm bớt đau khổ cho người ấy, hoặc không tìm cách cùng chia sẻ đau khổ với người ấy, thì chúng ta chỉ là kẻ nói dối, tình yêu ấy chỉ là tình yêu ngoài môi miệng. Hễ yêu ai, mà khi thấy người ấy đau khổ, ta không thể khoanh tay đứng nhìn mà không làm gì. Nếu không làm giảm được đau khổ với người ấy, thì cũng có thể làm một việc gì để tỏ ra thông cảm. Chúng ta nghèo, Thiên Chúa cũng đã trở nên nghèo cùng với chúng ta. Vậy, làm sao chúng ta có thể nói rằng mình yêu thương người nghèo, khi chúng ta vẫn vui vẻ sống trên nhung lụa, và không hề quan tâm làm một điều gì cho người nghèo bớt nghèo. Làm sao ta có thể nói rằng mình yêu quê hương, trong khi mà quê hương đang đau khổ, đang tuột dốc xuống bờ vực thẳm, với bao nhiêu người bị bắt bớ, bị đàn áp một cách bất công, ta vẫn thản nhiên như người ngoài cuộc, chỉ biết hưởng thụ cuộc sống an vui mà may mắn đã dành cho ta?



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha đã cho Đức Giêsu nhập thể thành người để chia sẻ thân phận làm người với chúng con: cũng đau khổ, cũng nghèo khó, cũng đói cũng khát như chúng con. Qua sự nhập thể ấy, xin cho con nhận ra tình thương vô biên của Cha và sự cần thiết của những đau khổ trong đời sống của con. Con tin rằng Cha yêu thương con vô cùng và khôn ngoan vô biên, không bao giờ để con phải chịu đựng đau khổ một cách vô lý và không cần thiết. Con biết rằng hễ Cha để đau khổ xảy đến với con, ắt nhiên đau khổ ấy phải có ích lợi cho con, dù con không hiểu được ích lợi thế nào. Xin cho con biết chấp nhận đau khổ như Đức Giêsu, đồng thời biết yêu thương và cảm thông với đau khổ của mọi người chung quanh con. Amen.


_________________________

Một số câu Kinh thánh được giới thiệu nhưng không trưng dẫn trong bài. Xin trưng ra đây để tiện cho những ai muốn đào sâu thêm:





Share:

Lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa


CHIA SẺ TIN MỪNG


Lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa

(Chúa nhật, 1-1-2016)



Tại sao Maria được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế?


ĐỌC LỜI CHÚA

  Ds 6,22-27: (22) Đức Chúa phán với ông Môsê : (23) «Khi chúc lành cho con cái Ítraen, anh em hãy nói thế này : (24) “Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! (26) Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!” (27) Chúc như thế là đặt con cái Ítraen dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng.

  Gl 4,4-7: (4) Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, (5) để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.

  TIN MỪNG: Lc 2,16-21

Các mục đồng đến thăm Hài nhi Giêsu


(16) Khi ấy, các người chăn chiên hối hả ra đi đến Bêlem. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. (17) Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. (18) Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. (19) Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. (20) Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ. (21) Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu ; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ. 


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.    Não trạng của các phụ nữ Do Thái xưa là mong ước lấy chồng để được làm mẹ Đấng Cứu Thế. Não trạng ấy có tồn tại dưới hình thức khác trong cộng đồng Kitô hữu Việt Nam hiện nay không? Não trạng ấy có lành mạnh về mặt tâm linh không? Tại sao? 
2.   Tại sao thiếu nữ Maria được Thiên Chúa chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế? Cô có những đặc điểm gì xứng đáng với thiên chức ấy? 
3.   Là người Kitô hữu, chúng ta có thể rút ra những bài học nào cho đời sống tâm linh mình từ những đặc điểm của cô Maria?

Suy tư gợi ý:

1.   Đức Maria không mơ ước cao sang

Thời của Maria, người ta tin tưởng rằng Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra là người Do Thái và sẽ trở nên một vị vua oai hùng, Ngài sẽ giải phóng dân Do Thái và sẽ trị vì cả thế giới. Vì thế, qua bao thế hệ phải sống dưới ách bạo tàn của dân ngoại bang, như đế quốc Rôma thời của Maria, dân Do Thái luôn mong chờ Đấng Cứu Thế đến để Ngài giải thoát dân tộc khỏi ách thống trị bạo tàn của đế quốc. Song hành với sự chờ mong ấy, có biết bao phụ nữ Do Thái hằng mơ ước mình được diễm phúc làm mẹ hoặc làm bà nội hay bà ngoại của Đấng Cứu Thế. Ôi, còn diễm phúc nào ở trần gian này sánh bằng! Rất nhiều phụ nữ háo hức lấy chồng, hy vọng may ra mình sẽ được làm mẹ hay làm bà của một vị vua cao sang. Hy vọng đó xuất phát từ lòng khao khát được hơn người, được trọng vọng, được hưởng vinh hoa phú quí trên đời.

Còn Maria là một thôn nữ bình dị, cô không mơ ước gì cao xa, không mộng tưởng trở nên bà này bà kia. Mơ ước hay mộng tưởng đó hoàn toàn xa lạ đối với cô. Tâm hồn cô luôn hướng về Thiên Chúa, chỉ muốn sống vì Ngài và cho Ngài. Nguyện vọng lớn lao nhất của cô là sống làm sao cho đẹp lòng Thiên Chúa, luôn làm tốt đẹp tất cả những gì Ngài muốn cô làm. Và cô muốn hiến trọn cuộc đời để phụng sự Ngài, trở nên nữ tỳ của Ngài.

2.   Maria được Thiên Chúa chọn vì đơn sơ khiêm nhượng

Đối với Thiên Chúa, tiêu chuẩn quan trọng và cốt yếu nhất để có thể làm Mẹ của Đấng Cứu Thế – là Con của Ngài sẽ nhập thể làm người – chính là sự sẵn sàng tuân phục thánh ý Thiên Chúa. Về sau chính Đức Giêsu đã nói lên ý tưởng đó: «Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi» (Mc 3,35). Câu này hàm nghĩa: «Ai không thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì không thể là anh em chị em tôi, là mẹ tôi được». Việc tuân phục thánh ý Chúa đòi hỏi con người phải bỏ ý riêng mình, coi nhẹ «cái tôi» của mình, và đó chính là điều cốt tủy nhất của đức khiêm nhượng.

Lucifer và hai ông bà nguyên tổ loài người đã muốn coi «cái tôi» của mình quan trọng hơn cả Thiên Chúa, coi ý riêng mình quan trọng hơn thánh ý Thiên Chúa. Vì thế, hai ông bà đã sa ngã, trở thành tội lỗi, từ đó phải đau khổ và phải chết. Vì thế, phương thuốc hữu hiệu để cứu nhân loại khỏi tội lỗi, đau khổ và sự chết chính là phản ứng ngược lại cách suy nghĩ và hành động trên. Nghĩa là khiêm nhượng, coi nhẹ «cái tôi» và ý riêng của mình để hoàn toàn tuân phục ý muốn của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã thực hiện phương thuốc ấy để cứu loài người. Và Thiên Chúa đòi hỏi người Mẹ sinh ra Đức Giêsu – là người cộng tác thân thiết nhất trong công việc cứu chuộc nhân loại – cũng phải thực hiện phương thuốc ấy một cách hoàn hảo. Vì thế, Ngài đã chọn Maria vì cô hội đủ những điều kiện ấy.

Là người Kitô hữu, thiết tưởng chúng ta cần ý thức điều cốt yếu nhất của đời sống tâm linh Kitô hữu là coi nhẹ «cái tôi» và ý riêng của mình, để luôn sẵn sàng làm theo thánh ý Thiên Chúa. Mà thánh ý Thiên Chúa, theo người viết bài này, chủ yếu nằm trong ba câu Kinh Thánh căn bản nhất theo thứ tự cần thiết và ưu tiên là:

a) «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24),

b) «Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng thành thật» (Mt 23,23),

c) «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34).

Trong đời sống tâm linh, ta phải biết rõ đâu là những điều cốt yếu nhất, và đâu là những điều phụ thuộc. Cứ quan tâm giữ những điều phụ thuộc mà coi nhẹ những điều cốt yếu, thì chẳng khác gì bắt rắn mà chỉ cố nắm chặt cho được cái đuôi.

3.   Mẹ Đấng Cứu Thế phải có tình yêu bao la và lòng khiêm nhượng thẳm sâu để chịu đau khổ và nhục nhã

Nguyên nhân thẳm sâu của tội lỗi chính là «cái tôi» mà con người ai cũng muốn đề cao, muốn làm nổi bật hay quan trọng hóa lên. Để cứu chuộc nhân loại, Đức Giêsu đã dùng con đường ngược lại là hạ thấp «cái tôi» của mình xuống, đó là con đường tự xóa mình (kenosis). Để xóa mình hay «từ bỏ chính mình», không có cách hữu hiệu nào bằng chấp nhận đau khổ và nhục nhã, tức sẵn sàng «vác thập giá mình». Đức Giêsu đã tự xóa mình bằng cách «hạ mình, vâng lời đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự» (Pl 2,8). Chấp nhận đau khổ không chỉ là một hình thức tự xóa mình, mà còn là phương cách biểu hiện tình yêu cụ thể nhất. Tình yêu được chứng tỏ bằng việc chấp nhận đau khổ hoặc chết cho người mình yêu là tình yêu chân thật và lớn lao: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13).

Để làm Mẹ Đức Giêsu hầu chia sẻ và cộng tác với công cuộc cứu chuộc của ngài, Đức Maria cũng phải đồng lao cộng khổ với Ngài. Điều đó đòi hỏi Mẹ phải có rất nhiều tình yêu đối với Thiên Chúa và đồng loại, phải có tinh thần tự xóa mình cao độ mới có thể tự nguyện đón nhận những đau khổ lớn lao. Vì thế, Thiên Chúa không thể chọn ai làm Mẹ cho Con của mình trong số những người mơ ước được làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Niềm mơ ước đó xét cho cùng hoàn toàn ngược lại tinh thần tự xóa, khiêm hạ, là điều tối cần thiết để đem lại ơn cứu chuộc. Khi không màng đến chức tước làm Mẹ Đấng Cứu Thế mà chỉ muốn làm tôi tá Thiên Chúa, chỉ muốn thi hành ý muốn của Ngài, thì Maria trở nên người có nhiều điều kiện và khả năng nhất để trở nên Mẹ của Đấng Cứu Thế.

Như chúng ta đã biết, cuộc đời Đức Maria đầy đẫy đau khổ. Nếu không có tinh thần tự hủy, nếu cứ thích mọi sự xảy ra theo ý muốn của mình, nếu cứ coi ý riêng của mình là quan trọng chứ không phải là thánh ý Thiên Chúa, làm sao Mẹ có thể chịu đựng được biết bao đau khổ lớn lao như thế?

4.   Tài đức và địa vị phải tương xứng với nhau

Qua việc Thiên Chúa chọn lựa cho Đấng Cứu Thế một người Mẹ xứng đáng như trên, ta thấy địa vị và tài đức phải tương xứng với nhau. Một học giả nọ nói: «Đừng sợ mình không có địa vị, hãy sợ mình không có đủ tài đức xứng với địa vị mà mình sẽ lãnh nhận». Người không có đủ tài đức xứng với địa vị mình, thường sẽ làm hại hoặc làm trì trệ cho tập thể. Thế nhưng biết bao người Kitô hữu chỉ mong có được địa vị hay chức vụ cho cao, hoặc đã từng đạt được những thứ ấy mà không hề quan tâm đến việc trau dồi nhân cách và tài đức để xứng đáng với những địa vị hay chức vụ cao cả ấy.

Vậy điều quan trọng trong cuộc đời là cố gắng trau dồi nhân đức, tài năng để trở nên một người giá trị, chứ đừng màng tới địa vị. Địa vị hay chức vụ sẽ tự động đến với mình sau, cho dù mình không màng tới. «Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho» (Mt 6,33). Qua việc Đức Maria được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, ta nhận thấy: càng ít tham vọng cá nhân, càng không màng tới những địa vị cao cả, nhất là càng muốn xóa mình để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, thì ta càng xứng đáng hơn với những địa vị ấy.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi con cũng mơ ước trở nên một nhân vật nổi tiếng với một địa vị thật cao, một chức vụ thật quan trọng. Nghĩ cho cùng, không phải vì con muốn phục vụ tha nhân cho bằng muốn cho «cái tôi» của mình được đề cao, được phình to. Và con đã tìm đủ mọi cách, kể cả việc hạ người khác xuống một cách bất công, để đạt cho được những địa vị ấy. Nên nếu có đạt được, con sẽ chỉ làm hại xã hội hay giáo hội mà con mang danh là phục vụ. Xin cho biết bắt chước Mẹ Maria, không màng đến những danh vọng hão huyền ấy, mà trước hết cố gắng sống cho thật xứng đáng là người Kitô hữu tốt, biết yêu thương và phục vụ tha nhân. Nhờ đó, nếu sau này con có được giao phó một địa vị hay chức vụ nào, thì con sẽ không hổ thẹn vì thấy mình bất xứng, và con sẽ thật sự phục vụ Cha và tha nhân đúng như lòng Cha mong ước.

Nguyễn Chính Kết



Share:

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Lễ Thánh Gia 2: Quên mình & chấp nhận hy sinh, bí quyết xây dựng hạnh phúc gia đình


CHIA SẺ TIN MỪNG


Lễ THÁNH GIA THẤT
(30-12-2016)
(bài 2)

Quên mình & chấp nhận hy sinh
là bí quyết xây dựng hạnh phúc gia đình


ĐỌC LỜI CHÚA

  Hc 3,3-7.14-17a: (3) Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, (4) ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. (5) Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. (6) Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Ðức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng.

  Cl 3,12-21: (18) Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. (19) Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ. (20) Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. (21) Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng.

  TIN MỪNG: Mt 2,13-15.19-23


Đức Giêsu trốn sang Ai Cập và các anh hài bị giết

(13) Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: «Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!» (14) Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. (15) Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai Cập. 

Từ Ai Cập về đất Ítraen

(19) Sau khi vua Hêrôđê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Ai Cập, (20) báo mộng cho ông rằng: «Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi». (21) Ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen. (22) Nhưng vì nghe biết Áckhêlao đã kế vị vua cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđê, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilê, (23) và đến ở tại một thành kia gọi là Nadarét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Người sẽ được gọi là người Nadarét.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Qua bài Tin Mừng, bạn thấy Giuse có những nỗi khó khăn nào? Và ông đã có thái độ nào khi giải quyết những khó khăn ấy? 
2.   Hạnh phúc gia đình tùy thuộc vào ai nhiều nhất? Tại sao? 
3.   Ðể gia đình được hạnh phúc, mọi người trong gia đình cần có tinh thần nào? 

Suy tư gợi ý:

1.   Giuse, người chủ gia đình gương mẫu

Bài Tin Mừng hôm nay chủ yếu nói về thánh Giuse với tư cách chủ của gia đình Nadarét. Ngài đã phải hết sức cực nhọc vất vả vì gia đình của mình, nhất là vì con trẻ Giê-su, kể từ khi thấy Ðức Maria mang thai, một cái thai không phải là của mình, nhưng trước mắt mọi người thì lại chính thức là của mình. Thử đặt mình vào địa vị Giuse, ta sẽ thấy vai trò của ngài không phải dễ dàng.
Ðối với con trẻ Giêsu, cho đến lúc lìa đời, thánh nhân luôn luôn phải dùng con mắt đức tin, tin vào lời sứ thần hiện ra trong giấc mơ, để khỏi nghĩ rằng mình đang phải nuôi đứa con của người đàn ông khác. Cuộc đời đâu phải lúc nào cũng phẳng lặng để Giuse có thể yên ổn với niềm tin ấy. Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ, đức tin của Giuse chắc chắn bị thử thách nhiều phen, nhất là những lúc phải vượt thắng những khó khăn vượt quá sức mình như tình huống của bài Tin Mừng hôm nay.

Từ khi nhận Maria về nhà mình đến giờ, khó khăn cứ dồn dập xảy tới. Chưa yên thân với Maria tại nhà mình, thì có lệnh phải đưa Maria - đang mang thai đã đến thời sinh nở - từ miền Bắc vào miền Nam, từ Nadarét xứ Galilê đến Bêlem xứ Giuđê theo lệnh kiểm tra dân số của Hoàng Ðế Augústô (x. Lc 2,1-5 [a*]). Cuộc hành trình mà theo đường chim bay đã dài tới 120km, và đương nhiên phải đi bằng một phương tiện rất thô sơ của những người nghèo thời đó, có thể chỉ là một con ngựa hay con la. Người nghèo đi tới đâu cũng gặp khó khăn, chẳng mấy ai giúp đỡ. Và Maria đã bị buộc phải sinh hạ con trẻ Giêsu - mà Giuse tin là đấng Thiên Sai - trong một chuồng bò lừa (x. Lc 2,6 [b*]). Là chủ gia đình, chắc chắn Giuse không tránh khỏi đau lòng và nhục nhã trước sự nghèo nàn và bất lực của mình! Nhưng nào đã hết! Con trẻ mới sinh chưa được bao lâu, đang chuẩn bị đưa hai mẹ con hồi hương, thì lại có lệnh của thiên thần - cũng lại trong giấc mơ - buộc phải đưa cả hai mẹ con trốn sang Ai-Cập (x. Mt 2,13-15 [c*]). Chỉ thẳng đường chim bay từ Bêlem tới biên giới Ai Cập thôi đã phải là 100km. Hành trình lần này chắc chắn vất vả hơn lần trước, vì có thêm con trẻ Giêsu hết sức yếu đuối, dễ nhiễm bệnh. Ở nơi đất khách quê người, Giuse phải tìm cho ra chỗ ở, việc làm tạm thời để nuôi sống cả gia đình, chắc hẳn điều ấy không luôn luôn dễ dàng. Rồi cuối cùng lại phải đưa cả gia đình về Nadarét (x. Mt 2,19-23 [d*]). Tại đây Giuse phải bao bọc, che chở và nuôi sống gia đình, đồng thời giáo dục con trẻ Giêsu nên người. Ðối với Ðức Giêsu, câu «công Cha như núi Thái Sơn» chắc chắn cũng rất đúng khi áp dụng cho cha nuôi của mình.

Tất cả những khó nhọc vất vả ấy đòi hỏi Giuse phải có rất nhiều tình yêu và nhiều đức tính mới có thể vượt qua một cách tốt đẹp. Nếu Giuse và Maria sống đời vợ chồng bình thường, thì những khó nhọc của Giuse sẽ được bù đắp bởi những giây phút hạnh phúc thân mật bên Maria. Nhưng theo niềm tin Công giáo, Giuse bảo vệ cho Maria sống đồng trinh trọn đời, nên tình yêu đầy tính thiên thần và hết sức cao thượng của Giuse đối với Maria phải hết sức lớn lao. Ngài thật là một người đàn ông cao cả, và là một người chủ gia đình hết sức gương mẫu. Thiết tưởng bất kỳ người chủ gia đình nào bắt chước Giuse cũng sẽ làm cho gia đình mình yên vui hạnh phúc.

2.   Hạnh phúc gia đình tùy thuộc người chồng rất nhiều

Hạnh phúc gia đình có hay không, và đến mức nào, tùy thuộc vào tất cả mọi thành viên trong gia đình, nhất là vào cách đối xử của hai vợ chồng đối với nhau. Muốn gia đình hạnh phúc, mọi thành viên phải thực hiện những điều Thánh Phaolô đề nghị trong bài đọc 2: «Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ. Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng» (Cl 3,18-21).

Nhưng nếu so sánh giữa hai vợ chồng, thì theo sự thường, nghĩa là trong đa số các trường hợp, hạnh phúc và sự êm ấm trong gia đình tùy thuộc vào người chồng nhiều hơn. Câu nói trên của thánh Phaolô hàm ẩn những điều kiện trong đó. Muốn vợ phục tùng chồng, thì trước đó, người chồng cần phải tỏ ra yêu thương vợ một cách cụ thể, qua việc đối xử độ lượng, không cay nghiệt với vợ, biết thông cảm, hy sinh, thường xuyên giúp đỡ vợ trong mọi việc, nỗ lực bao bọc che chở vợ mình trong mọi hoàn cảnh. Người vợ có cảm thấy được chồng yêu thương, có cảm phục chồng vì tính quảng đại, cao thượng, biết bỏ qua mọi lầm lỗi nhỏ nhặt, thì mới dễ dàng phục tùng chồng. Nói chung, tâm lý của mọi người là chỉ tự nguyện phục tùng những ai mình nể phục và yêu mến mà thôi. Người vợ không thoát ra ngoài tâm lý chung ấy. Người chồng không nên lấy quyền làm chồng, hoặc dùng bạo lực hay áp lực kinh tế để ép buộc vợ phải phục tùng mình. Làm như thế thì có khác gì mình đang thực hiện một chế độ độc tài nho nhỏ trong gia đình. Người vợ cảm thấy mình bị áp bức một cách bất công, tất nhiên - như một định luật - là sẽ có ngày nổi loạn, nhất là khi người chồng trở nên yếu thế, không còn khả năng về kinh tế hay thể chất nữa. Lúc đó người chồng không thể chỉ biết trách vợ, mà trước tiên hãy nhận ra lầm lỗi của mình.

Ngược lại, muốn được chồng yêu thương, người vợ cũng cần phải tỏ ra mình là một người dễ thương, nghĩa là nói năng dịu dàng, ngọt ngào, biết chiều ý chồng, biết hy sinh tận tụy phục vụ gia đình, làm tròn mọi bổn phận của mình trong gia đình, nhất là biết tỏ ra nể phục chồng. Mình không dễ thương thì dù là chồng mình cũng chẳng thể thương mình được.

Tâm lý chung của mọi người đàn ông là dễ đem lòng yêu thương những phụ nữ tỏ ra nể phục mình, và tâm lý chung của mọi phụ nữ là dễ yêu thương những người mà mình nể phục. Nhưng làm sao người phụ nữ có thể yêu thương một người mà mình khinh thường vì thấy không có gì đáng nể phục? Và làm sao người đàn ông có thể yêu thương được người vợ không kính nể mình? Do đó, để gia đình hạnh phúc, yếu tố rất quan trọng là người chủ gia đình phải có một điều gì đấy, một đức tính nào đấy khiến người vợ cũng như con cái trong nhà nể phục. Có thể chỉ cần một đức tính nào đó thật nổi bật, không cần nhiều. Nhưng càng nhiều thì càng tốt! Nhưng đức tính không thể thiếu được là lòng độ lượng, bao dung, và sự hy sinh quả cảm.

Gia đình thánh gia rất dễ có hạnh phúc, một phần rất lớn là vì Giuse, người chủ gia đình, có rất nhiều đức tính đáng để Maria kính phục. Có thể nói bản lĩnh, cách hành xử cao thượng, và sự quảng đại trong yêu thương của người đàn ông là nền tảng và là yếu tố đầu tiên cần thiết cho hạnh phúc của cả gia đình. Thiếu nó, gia đình khó có hạnh phúc.

3.   Quên mình để yêu thương hữu hiệu, là bí quyết gây hạnh phúc gia đình

Một trong những trở ngại lớn nhất của hạnh phúc gia đình là «cái tôi» và ý riêng của mỗi thành viên. Nói chung, ai cũng coi «cái tôi» của mình là quan trọng và ý riêng của mình là đúng, thậm chí đúng nhất, và tỏ ra rất bực mình khó chịu khi thấy «cái tôi» và ý muốn của mình bị coi thường, hoặc không được ai để ý tới. Ai cũng bị «cái tôi» và ý riêng của mình thu hút đến độ quên đi «cái tôi» và ý muốn của người khác vốn cũng thu hút hết tâm trí của họ. Ai cũng muốn «cái tôi» và ý kiến của mình được mọi người quan tâm chú ý, nhưng chẳng mấy ai muốn quan tâm đến «cái tôi» và ý kiến của kẻ khác. Chính vì thế, chẳng ai được thỏa mãn, cuộc sống chung do đó chẳng hạnh phúc, thậm chí biến thành hỏa ngục. 

Muốn làm cho người khác hạnh phúc, nghĩa là làm cho họ được thỏa mãn vì cảm thấy «cái tôi» và ý kiến của họ được tôn trọng, thì chính tôi phải quên «cái tôi» và ý riêng của mình đi để đặt nặng «cái tôi» và ý kiến của họ lên. Như thế họ cảm thấy hạnh phúc khi ở bên cạnh tôi. Nếu người ấy cũng biết làm như thế đối với tôi, thì tôi cũng cảm thấy hạnh phúc khi ở bên cạnh họ, và thế là cả hai đều hạnh phúc. Nhưng cách tốt nhất và bảo đảm nhất để được hạnh phúc là tôi lấy hạnh phúc của người tôi thương làm hạnh phúc của mình. Như thế tôi sẽ hạnh phúc khi làm cho họ được hạnh phúc.

Đức Giêsu đã cho người Kitô hữu, những người theo Ngài, hai bí quyết để tạo hạnh phúc gia đình, đó là: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, và vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24). Ngài nhấn mạnh bí quyết thứ hai: «Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy» (Mt 10,38). «Từ bỏ chính mình» chính là biết coi nhẹ «cái tôi» của mình và ý muốn của mình. Còn «vác thập giá mình» là chấp nhận đau khổ, thiệt thòi, mất mát, nguy hiểm, khó khăn khi tình yêu đòi hỏi. «Vác thập giá mình» chính là thể hiện cụ thể bí quyết thứ nhất «từ bỏ chính mình». Không chấp nhận «vác thập giá mình» thì cũng đồng nghĩa với chưa «từ bỏ chính mình» một cách đích thực.

Hạnh phúc gia đình luôn luôn đòi hỏi phải có một ai đó trong nhà biết quên mình, biết quên «cái tôi» của mình đi, để quan trọng hóa «cái tôi» của người khác lên. Thái độ ấy như một cái ngòi khởi động, làm cho những người khác trong nhà cũng hành động như vậy, và nhờ đó, hạnh phúc gia đình mới bùng lên. Thái độ khởi động ấy phải được lập lại hàng ngày hàng giờ trong đời sống gia đình. Ai sẽ khởi sự thái độ quan trọng ấy nếu không phải là chính bạn, là người ý thức được bí quyết hạnh phúc đó, bất kể bạn là vợ hay chồng? Thật vô phúc cho gia đình nào không có ai tự nguyện làm cái ngòi khởi động tình yêu thương ấy hàng ngày trong cuộc sống!


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha đã chọn thánh Giuse là người đứng đầu gia đình Nadarét với những đức tính rất cần thiết của một người làm chủ gia đình để gia đình ấy được hạnh phúc. Xin cho tất cả những người làm chủ trong các gia đình Kitô hữu biết noi gương bắt chước Ngài, biết coi nhẹ «cái tôi» của mình để thường xuyên quan tâm đến hạnh phúc của mọi thành viên khác trong gia đình. Xin cho những người làm vợ và làm mẹ noi gương Ðức Maria biết luôn tỏ ra dễ thương, dịu dàng, và biết hy sinh ý riêng của mình cho hạnh phúc gia đình. Và xin cho mọi con cái trong gia đình Kitô hữu biết noi gương Ðức Giêsu luôn kính trọng và vâng phục cha mẹ mình. Amen


_________________________

Một số câu Kinh thánh được giới thiệu nhưng không trưng dẫn trong bài. Xin trưng ra đây để tiện cho những ai muốn đào sâu thêm:

[a*] Lc 2,1-5 => «Thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Ðây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê, lên thành Bêlem, miền Giuđê, là thành vua Ðavít, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Ðavít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã đính hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai.»

[b*] Lc 2,6 => « Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.»

[c*] Mt 2,13-15 => « Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì kìa sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Aicập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” Ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Aicập. Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai cập.»

[d*] Mt 2,19-23 => «Sau khi vua Hêrôđê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Aicập, báo mộng cho ông rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi.” Ông liền chỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen. Nhưng vì nghe biết Áckhêlao đã kế vị vua cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđê, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilê, và đến ở tại một thành kia gọi là Nadarét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: "Người sẽ được gọi là người Nadarét".»


Một số câu Kinh thánh liên quan đến đời sống gia đình hay vợ chồng. Xin trưng ra đây để tiện cho những ai muốn đào sâu thêm:

1Cr 7,1-6 => «Đàn ông không gần đàn bà là điều tốt. Nhưng để tránh hiểm hoạ dâm ô, thì mỗi người hãy có vợ có chồng. Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng ; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện ; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Xatan lợi dụng để cám dỗ. Điều tôi nói đó là một sự nhân nhượng chứ không phải là một mệnh lệnh.»

1Cr 7,10-11 => «Với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa : vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân hoặc phải làm hoà với chồng ; và chồng cũng không được rẫy vợ.»

Ep 5,21-25 => «Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh.»

Ep 5,28-32 => «Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách Thánh có lời chép rằng : Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng.»

Ep 5,25 => «Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh.»

Cl 3,18-19 => « Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ.»

Tt 2,2-5 => (Lời Thánh Phaolô khuyên Titô, đồ đệ của mình) «Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. Như vậy, họ sẽ dạy cho người vợ trẻ biết yêu chồng, thương con, biết sống chừng mực, trong sạch, chăm lo việc nhà, phục tùng chồng, để lời Thiên Chúa khỏi bị người ta xúc phạm.»

1Pr 3,1-6 => «Chị em là những người vợ, chị em hãy phục tùng chồng, như vậy, dù có những người chồng không tin Lời Chúa, thì họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ở của chị em mà không cần chị em phải nói lời nào, vì họ thấy cách ăn nết ở trinh tiết và cung kính của chị em. Ước chi vẻ duyên dáng của chị em không hệ tại cái mã bên ngoài như kết tóc, đeo vòng vàng, hay ăn mặc xa hoa; nhưng là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng là tính thuỳ mị, hiền hoà : đó chính là điều quý giá trước mặt Thiên Chúa. Xưa kia, các phụ nữ thánh thiện là những người trông cậy vào Thiên Chúa, cũng đã trang điểm như thế ; họ đã phục tùng chồng. Như bà Xara, bà đã vâng phục ông Ápraham, và gọi ông là "ông chủ". Chị em là con cái của bà, nếu chị em làm điều thiện và không sợ hãi trước bất cứ nỗi kinh hoàng nào.»

1Pr 3,7 => «Anh em là những người chồng, trong cuộc sống chung, anh em nên hiểu rằng đàn bà thuộc phái yếu ; hãy tỏ lòng quý trọng vì họ cũng được hưởng sự sống là hồng ân Chúa ban.»

Share: