Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2017

TN26a - Điều quan trọng là xác định được thánh ý Chúa và thực hiện




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 26 Thường Niên

(1-10-2017)

Điều quan trọng là xác định được thánh ý Chúa là gì và thực hiện thánh ý Ngài



ĐỌC LỜI CHÚA

  Ed 18,25-28: (25) Hỡi nhà Ítraen, hãy nghe đây: Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?

  Pl 2,1-11: (3) Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. (4) Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.


  TIN MỪNG: Mt 21,28-32

Dụ ngôn hai người con

(28) Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: «Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho». (29) Nó đáp: «Con không muốn đâu!» Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. (30) Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: «Thưa ngài, con đây!» nhưng rồi lại không đi. (31) Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?» Họ trả lời: «Người thứ nhất». 

Đức Giêsu nói với họ: «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. (32) Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy».




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Giữa người nói thật hay về Chúa, khấn hứa thật nhiều điều tốt đẹp, và người sống đúng thánh ý Ngài, ai mới là người làm đẹp lòng Ngài? 
2.   Thời Đức Giêsu, có ai dám đánh giá bọn thu thuế và đĩ điếm cao hơn các tư tế, luật sĩ và Pharisêu không? Tại sao Ngài lại đánh giá ngược đời như vậy? Nếu Ngài sống ở thời đại này, Ngài đánh giá thế nào? Có khác với cách đánh giá của mọi người không? Ngài đánh giá theo tiêu chuẩn nào vậy? 
3.   Qua dụ ngôn hai người con và cách đánh giá của Đức Giêsu, ta thấy tiêu chuẩn để đánh giá của Ngài là gì?

Suy tư gợi ý:

1.   Bối cảnh bài Tin Mừng

Dụ ngôn hai người con của bài Tin Mừng hôm nay là câu trả lời của Đức Giêsu cho các tư tế và kỳ mục trong dân khi họ đến hỏi Ngài: «Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?» (Mt 21,23). Sở dĩ họ hỏi Ngài như vậy vì Ngài vừa mới «đuổi tất cả những người đang mua bán trong Đền Thờ, lật bàn của những người đổi bạc và xô ghế của những kẻ bán bồ câu» (Mt 21,12). Họ hạch hỏi Ngài vì họ thấy quyền bính và quyền lợi của họ bị va chạm. Chính họ cho phép hay chấp thuận cho người ta buôn bán thú vật cúng tế trong đền thờ, vì dân càng cúng tế nhiều con vật vào đền thờ thì họ càng có lợi. Thế mà Đức Giêsu lại dám ngang nhiên dẹp bỏ, không phải chỉ kêu gọi dẹp bỏ, mà Ngài dùng bạo lực buộc những người buôn bán trong đền thờ phải dẹp bỏ. Vì thế, họ phải bảo vệ quyền bính và quyền lợi của họ. Đức Giêsu đã không trả lời trực tiếp câu hỏi đó, mà đưa ra dụ ngôn hai người con để cảnh tỉnh họ.

Ngài muốn ám chỉ dân chúng, cách riêng những người thu thuế và gái điếm là những người bị các tư tế và luật sĩ cho là tội lỗi, giống như người con thứ nhất: tuy nói rằng không làm vườn nho cho cha, nhưng cuối cùng lại hối hận và đi làm. Vì những người này tuy mang danh là tội lỗi, nhưng khi Gioan Tẩy Giả và Ngài đến, thì họ đã ăn năn sám hối và sống theo lời hai Ngài dạy, là lời diễn đạt thánh ý của Thiên Chúa.

Và Ngài ám chỉ chính họ – giới lãnh đạo tôn giáo, giới giảng dạy đạo lý cho dân chúng – giống như người con thứ hai: tuy nói rằng sẽ đi làm vườn nho cho cha, nhưng cuối cùng lại chẳng làm gì cả. Vì họ, tuy mang danh là đạo đức, nhưng khi Gioan Tẩy Giả và Ngài là người của Thiên Chúa đến, họ đã không thèm nghe và làm theo. Trái lại họ còn mưu hại và giết cả hai Ngài nữa. Đức Giêsu còn dùng dụ ngôn các tá điền sát nhân (x. Mt 21,33-44) để ám chỉ họ.

Ngài nói: dù tin, nghe, rao giảng hay dạy người khác về lời của Ngài, nhưng nếu không đem lời ấy ra thực hành, không sống lời của Ngài, thì chẳng lợi ích gì. Ngài đã từng nói: «Ai nghe lời Thầy nói mà chẳng đem ra thực hành, thì ví như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ tan tành» (Mt 7,26-27). Ngài nhấn mạnh sự cần thiết phải thực thi ý Thiên Chúa: «Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào Nước Trời thôi» (Mt 7,21). Vì thế, Ngài nói với họ: «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31).



2.   Điều quan trọng là sống đúng thánh ý Thiên Chúa

Qua bài dụ ngôn hai người con của Đức Giêsu, ta thấy vấn đề quan trọng không phải là chỉ nói cho phù hợp, cho đúng với ý nghĩa của Lời Chúa (như người con thứ hai nóikhông làm), mà là thực hành ý muốn của Ngài (như người con thứ nhất không nóilàm).

Trong cộng đồng Kitô hữu, có những người nói về Thiên Chúa và thánh ý của Ngài rất tuyệt vời, nhưng chính bản thân họ thì chẳng sống điều họ nói. Có những người khấn hứa với Thiên Chúa nhiều điều tốt đẹp một cách rất long trọng, nhưng trong thực tế họ chẳng thực hành những điều đã khấn hứa ấy. Cũng có những người mang danh theo Chúa, được cả Giáo Hội công nhận là những người chính thức theo Chúa, nhưng đời sống thực tế của họ lại chứng tỏ rằng họ chẳng theo Chúa chút nào. Họ đối xử với mọi người ngay cả với nhau thiếu tình thiếu nghĩa, cách hành xử của họ chứng tỏ lòng họ cũng đầy tham sân si như những người tội lỗi, nhưng lại được ngụy trang khéo léo bằng cái vỏ bên ngoài thật tốt lành thánh thiện… Vì cái vỏ hào nhoáng bên ngoài ấy, họ lầm tưởng hay tự cho họ đã là người thánh thiện, rất đẹp lòng Thiên Chúa. Họ tự xếp mình vào thành phần ưu tú trong cộng đồng. Một cách vô tình hay cố ý, họ tự dối mình, dối mọi người, và dối cả Thiên Chúa!

Trái lại, có những người chẳng có danh phận gì trong cộng đồng, chính họ cũng tự đánh giá mình thuộc thành phần thấp kém, vì họ hiểu biết rất ít, chẳng biết nói gì nhiều về Thiên Chúa, về thánh ý của Ngài. Tuy nhiên họ vẫn cố gắng sống những gì họ nghe biết về đạo lý, về Thiên Chúa. Cụ thể nhất là họ biết đùm bọc nhau, sống có tình có nghĩa với nhau, với mọi người, biết hy sinh và chấp nhận đau khổ vì người khác, không coi «cái tôi» của mình quá quan trọng. Tuy không mang danh là người theo Chúa, nhưng họ đã sống đúng hai yếu tố cốt yếu trong câu định nghĩa chính thức của Đức Giêsu về những người theo Chúa: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24)

Qua dụ ngôn về hai người con này, ta thấy giữa hai hạng người trên, Thiên Chúa vẫn đánh giá hạng người sau cao hơn, và họ là đối tượng ưu tiên của Nước Trời hơn hạng người trước. Vì thế, Đức Giêsu tiên báo về ngày sau cùng: «Kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót» (Lc 13,30). Do đó ta cần phải cảnh giác, vì cách đánh giá của Thiên Chúa rất khác với cách đánh giá của chúng ta. Người thời Đức Giêsu, có ai dám nghĩ rằng Thiên Chúa lại đánh giá những người thu thuế và gái điếm thời ấy cao hơn cả những tư tế, luật sĩ và người Pharisêu, thuộc hàng vị vọng trong tôn giáo thời ấy không? «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31, xem thêm 'Dụ Ngôn người Pharisêu và người thu thuế', Lc 18,9-14)



3. Bài học cho chúng ta trong việc sống đạo

Thông thường, chúng ta có thói quen đánh giá và xếp hạng giữa mình và người khác, giữa người này với người kia. Ta tự cho mình là hơn người này, kém người kia. Tiêu chuẩn mà ta dựa vào để đánh giá hơn kém nhiều khi rất chủ quan, hoặc theo cách đánh giá thông thường của con người, hoặc dựa vào chức vụ cao thấp trong Giáo Hội. Cũng có khi ta dựa vào cách đánh giá của dư luận, của đa số: ta hay ai đó được mọi người ca tụng, lập tức ta tưởng rằng mình hay người ấy là đúng nhất, tốt nhất. Thế là ta bắt đầu tự tôn khi được mọi người ca tụng. Hoặc bắt đầu tự ty và ganh tỵ khi người khác được đánh giá cao hơn mình. Nhưng dù tự ty hay tự tôn, ta đều chỉ quy về «cái tôi» của mình. Cả hai thái độ ấy đều xuất phát từ tính kiêu ngạo.

Thật ra, cách đánh giá của Thiên Chúa rất khác với cách đánh giá của ta hay của trần gian. Tốt nhất là ta đừng tự đánh giá mình hay đánh giá người khác, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới có khả năng xét đoán đúng theo tiêu chuẩn của Ngài mà thôi (x. Gc 4,12; Rm 14,4). Nếu cần phải xét đoán, ta nên theo lời thánh Phaolô khuyên trong bài đọc II: «Hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình» (Pl 2,3).

Điều quan trọng không phải là xét đoán ai hơn ai, mà là sống làm sao cho đúng với ý muốn của Thiên Chúa. Vì thế, thay vì xét đoán, so sánh, ta hãy tự xét xem: 

a) Mình đã coi việc sống theo ý muốn của Thiên Chúaquan trọng nhất trong việc sống đạo chưa? 

b) Kế đến là xét xem: ta đã xác định được ý muốn của Thiên Chúa đối với mình là gì chưa? 

c) Và cuối cùng là xét xem: mình đã thật sự sống đúng theo ý của Ngài chưa? 

Đó là điều quan trọng nhất trong việc sống đạo, nhưng rất nhiều khi ta coi nhẹ. Ta thường sống theo truyền thống người đời (x. Mt 15,3), theo ý riêng mình mà ta tưởng là ý Chúa, theo một số thói quen mà ta vẫn tưởng là tốt lành.

Thiết tưởng người quan tâm sống theo ý của Thiên Chúa cần phải xác định được thánh ý của Thiên Chúa là gì. «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16), nên thánh ý của Ngài đối với ta là làm sao để đời sống của ta phản ảnh được bản tính yêu thương của Thiên Chúa, để chính ta trở thành hiện thân của tình yêu Thiên Chúa giữa xã hội, giữa những người đang sống chung quanh ta. Tất cả những thứ khác – nghi thức, bí tích, lề luật, cầu nguyện, v.v… – đều chỉ là phương tiện giúp ta thực hiện mục đích ấy. Nếu những phương tiện ấy không giúp ta đạt được mục đích ấy thì chúng đã trở nên vô dụng đối với ta. Rất nhiều khi ta chỉ lo thực hiện những phương tiện ấy mà quên hẳn mục đích của chúng. Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi ta ý thức lại vấn đề.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, trong đời sống đạo của con, nhiều khi con chưa xác định được điều cốt yếu nhất là phải thực hiện thánh ý của Cha, và cũng chẳng quan tâm tìm hiểu xem thánh ý của Cha cốt yếu nhất là gì. Vì thế, con cứ lo thực hiện những điều phụ thuộc mà con tưởng là cần thiết nhất. Còn điều cần thiết nhất là thể hiện tình yêu của Chúa đối với những người chung quanh con thì con lại cho là việc phụ thuộc. Xin giúp con ý thức và xác định lại vấn đề để sống đúng với thánh ý của Cha.


Share:

Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

TN25b - Phần thưởng cho 3 hạng người sống đạo

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 25 Thường Niên

(24-9-2017)

Bài đào sâu

Phần thưởng cho 3 hạng người sống đạo



  TIN MỪNG: Mt 20, 1-16a

Dụ ngôn thợ làm vườn nho



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Bạn nghĩ gì về cách hành xử của ông chủ trong bài Tin Mừng này? Ông có đối xử bất công hoặc thiếu hợp lý không? Tại sao? 
2.   Trong việc xây nhà để gia đình ta ở, người thợ xây nhà cho ta và con cái của ta trong nhà, ai làm được nhiều việc hơn? Ta đối xử với thợ xây thế nào? Nay mai, khi ta mất, ta sẽ nhường căn nhà lại cho thợ xây hay cho con cái ta? Tại sao? 
3.   Ta đối xử với Thiên Chúa thế nào? Như những người thợ làm công hay như những đứa con trong nhà? Cách Thiên Chúa đối xử với hai loại người này có khác nhau không?


Suy tư gợi ý:

1. Ba loại người làm việc cho ông chủ

Một người chủ thật giàu có và rất phóng khoáng sẽ đối xử thế nào với những người làm việc cho mình? Để trả lời, ta tạm chia những người làm việc cho ông chủ thành ba loại người:

● Loại 1 là những người làm việc cho ông chủ hoàn toàn với tư cách làm công. Người làm công làm việc là để kiếm tiền, nếu không được trả tiền thì họ sẽ không làm việc. Điều họ yêu cầu là tiền công được trả thật sòng phẳng đúng như đã thỏa thuận khi nhận việc. Giữa họ với ông chủ có hợp đồng rõ rệt: tôi làm việc cho ông, và ông phải trả tiền cho tôi. Sau khi ông chủ trả tiền công thì đôi bên không mắc nợ nhau điều gì.

● Loại 2 là những người làm việc cho ông chủ với tư cách tình bạn. Họ làm vì tình cảm bạn bè. Anh có việc thì tôi giúp, mai mốt nếu tôi có việc thì anh giúp, nếu tôi không có việc thì thôi. Giữa hai bên không có hợp đồng rõ rệt, không có sự ràng buộc, nhưng có sự trao đổi qua lại về tình cảm.

● Loại 3 là những người làm việc cho ông chủ với tư cách con cháu trong nhà, họ làm vì yêu mến ông chủ và làm việc hết mình, không so đo tính toán. Họ không đòi hỏi ông chủ điều gì như một điều kiện phải có thì mới làm việc. Điều họ mong muốn là làm sao cho ông chủ mà họ yêu mến được thành công, hài lòng và hạnh phúc.



2. Cách đối xử của ông chủ đối với 3 loại người ấy

Đặt mình vào địa vị ông chủ, ta có thể suy ra cách ông ta đối xử với 3 hạng người ấy thế nào.

– Trước hết, đối với loại 1, ông chủ sẽ trả công sòng phẳng đúng theo hợp đồng, không hề lỗi công bằng hay làm gì khiến họ bị thiệt thòi. Vì họ đối xử với ông như người làm công, nên ông cũng đối xử với họ như với người làm công. Người làm công có thể làm được nhiều việc hơn những người thuộc loại 2 và 3, nhưng động lực để họ làm việc là tiền công chứ không phải là tình nghĩa. Vì thế, ông chủ chỉ phải trả họ tiền công cho sòng phẳng là đủ, chứ không có bổn phận phải biểu hiện tình nghĩa đối với họ.

– Với loại 2, ông tỏ ra hào phóng hơn. Ông đối xử với họ như đối với những người bạn, vì họ đã lấy tình bạn để đối xử với ông. Ông không trả công cho những việc họ làm, nhưng tỏ ra rất rộng lượng đối với họ, chiêu đãi họ những bữa tiệc thịnh soạn. Khi họ cần ông giúp gì, ông sẵn sàng giúp họ một cách hào phóng gấp bội những gì họ đã làm cho ông. Ông không tính toán với họ, vì họ chẳng hề tính toán với ông bao giờ. Tuy dù họ không làm cho ông được nhiều việc, nhưng những việc họ làm cho ông, họ đều vì tình nghĩa bạn bè mà làm. Ông quý họ là ở điểm ấy.

– Với loại 3, ông coi họ như con cái trong nhà. Những người này đã coi công việc của ông như chính công việc của họ. Họ làm việc cho ông cứ như là làm cho chính họ, bất kể có được trả công hay không. Chẳng những họ không mong được trả công mà còn sẵn sàng chịu thiệt thòi miễn sao công việc của ông hoàn tất tốt đẹp là họ thỏa mãn. Vì thế, ông đã coi họ như con cháu trong nhà, tất cả những tài sản ông có, ông muốn họ cứ việc sử dụng như của họ. Ông dự định nay mai ông có mệnh hệ nào, thì toàn bộ tài sản của ông sẽ thuộc về họ. Nếu so sánh những việc họ làm cho ông thì có thể chẳng là bao so với những việc mà những người làm thuê đã làm cho ông. Những người làm thuê đã làm cho ông rất nhiều việc, nhưng họ làm là để có tiền chứ chẳng phải vì yêu thương ông. Còn những người này tuy làm cho ông chẳng bao nhiêu việc, nhưng tất cả những gì họ làm thì họ đều làm vì ông, vì yêu thương ông. Vì thế, ông muốn họ được hưởng từ lòng hào phóng của ông nhiều gấp bội những gì mà những người làm công được hưởng.

Suy nghĩ về những loại người làm việc cho ông chủ và cách xử sự của ông chủ, ta dễ hiểu dụ ngôn mà Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng về những người thợ làm vườn nho. Những người làm việc từ đầu ngày tuy làm nhiều giờ hơn ai hết, nhưng họ đã làm như những người làm công: họ đã thỏa thuận với ông chủ số tiền ông phải trả. Những người đến làm càng về sau càng không đặt vấn đề tiền công, họ làm theo lời mời của ông chủ, và có thể họ đã làm việc với tất cả lòng nhiệt tình hăng say của họ mà không cần nghĩ đến tiền công. Vì thế, ông đã tỏ ra rất hào phóng đối với những người đến sau, vì họ làm không phải vì tiền. Còn với những người đến trước, ông đã trả công đúng như họ đã thỏa thuận với ông.



3. Ba loại người giữ đạo Chúa

Trong số những người theo Chúa, giữ đạo Chúa, ta cũng có thể tạm phân làm ba loại:

· Loại 1 là những người theo đạo Chúa để được Ngài thưởng công trên thiên đàng. Làm được việc gì tốt lành họ cũng đều làm với ý hướng được Chúa ghi công vào sổ để mai sau Ngài trả công bội hậu cho họ. Họ làm những điều tốt lành là vì hạnh phúc của họ ở đời này hay đời sau, hoặc vì phần thưởng mà Ngài đã hứa cho những ai làm như thế. Chứ không phải họ làm vì tình thương của họ đối với tha nhân, với xã hội hay Giáo Hội, hoặc họ làm vì thấy những việc ấy là tốt đẹp, nên làm hay đáng làm. Giả như làm những điều tốt đẹp ấy mà không có lợi gì cho họ hay không được trả công thì họ sẽ không thèm làm.

Những người này Thiên Chúa sẽ trả công cho họ vì những việc tốt đẹp hay những hy sinh của họ, thậm chí bội hậu, đúng như lẽ công bằng đòi hỏi. Nhưng đó chỉ là phần thưởng Ngài dành cho những kẻ «làm công» cho Ngài thôi. Nó sẽ rất nhỏ so với phần thưởng Ngài dành cho những người hành xử như những đứa con hiếu thảo của Ngài, cho dù những việc họ làm được cho Ngài còn nhiều hơn những người này bội phần.

· Loại 2 là những người theo đạo vì thấy đạo là tốt lành, nên theo, không nhắm lợi ích cho mình. Khi làm những việc tốt lành, họ làm vì thấy đó là điều đáng làm, vì hợp với thánh ý của Thiên Chúa. Họ sống rất lương thiện, nhưng không tích cực hoặc không sống chết với việc của Thiên Chúa là xây dựng Nước Trời tại trần gian.

Do họ không làm vì lợi ích của họ mà vì lợi ích của Ngài, nên Ngài cũng sẽ tỏ ra rất hào phóng với họ. Phần thưởng Ngài dành cho họ sẽ rất lớn lao tương tự như những món quà mà một ông chủ hào phóng dành cho bạn bè của mình.

· Loại 3 là những người thật sự yêu mến Thiên Chúa và hết lòng với công việc của Ngài. Họ nhận ra Thiên Chúa chính là cái gì cốt tủy nhất và sâu thẳm nhất của bản thân họ, là người Cha rất mực yêu thương họ. Vì thế, họ yêu mến Thiên Chúa là Cha mình, và yêu tha nhân là hiện thân của Ngài như yêu chính bản thân họ. Họ coi công việc của Ngài ở trần gian cũng là công việc của chính họ, như một đứa con thảo trong gia đình coi mọi việc trong nhà là việc của mình. Vì thế họ dấn thân hết mình cho công việc của Ngài mà không hề mong được Ngài trả công hay được một phần thưởng nào của Ngài. 

Có người con hiếu thảo nào trong gia đình lại trông đợi cha mẹ thưởng công cho mình khi họ làm những việc chung trong nhà hay làm theo ý cha mẹ mình? Thấy cha mẹ mình vui, anh em trong nhà ấm no hòa thuận thì đó chính là hạnh phúc của họ và đã là phần thưởng cho họ rồi, cần gì một phần thưởng nào khác nữa? Tình thương đã trở thành yếu tố quan trọng nhất trong bản chất của họ. Chính tình thương đã thúc đẩy họ làm tất cả những gì đem lại lợi ích cho gia đình trong đó có lợi ích của họ, chứ họ không làm vì lợi ích riêng của họ.

Vì họ đã hành xử với Ngài như những đứa con thảo đối với Cha, nên phần thưởng Ngài dành cho họ là sản nghiệp của Cha để lại cho con. Tất cả những gì Ngài có và Ngài là, đều thuộc về họ. Đó là một phần thưởng vô cùng vĩ đại mà những kẻ «làm công» cho Ngài dù có làm được nhiều việc vĩ đại tới đâu cũng không dám mơ ước.

(Ở đây không nói đến những người mang danh làm cho Thiên Chúa, cho Giáo Hội, nhưng thật ra họ là những người làm để được tiếng khen, được nổi danh, được lợi lộc ở trần gian này. Những người này thì Thiên Chúa không cần thưởng nữa, vì họ đã được trần gian thưởng công rồi − x. Mt 6,1-2.5.16).




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha chính là người Cha đã sinh ra con và yêu thương con vô cùng. Con muốn đáp lại tình thương vô bờ bến ấy bằng cách luôn yêu thương và làm tất cả những gì có thể làm được cho đồng loại ở chung quanh con, mà con luôn luôn coi như hiện thân của Cha. Hạnh phúc và sự tốt lành mà con làm được cho họ chính là hạnh phúc và niềm vui của con. Xin Cha giúp con thực hiện được điều ấy.



Share:

TN25a - Hai thứ công bằng: kiểu trần gian và kiểu Nước Trời




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 25 Thường Niên

(24-9-2017)

Hai thứ công bằng:
công bằng kiểu trần gian
và công bằng kiểu Nước Trời



ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 55, 6-9: (6) Hãy tìm Ðức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên. (7) Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Ðức Chúa - và Người sẽ xót thương -, về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ.

  Pl 1, 20c-24. 27a: (20c) Ðức Kitô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết: (21) vì đối với tôi, sống là Ðức Kitô, và chết là một mối lợi.

  TIN MỪNG: Mt 20, 1-16a

Dụ ngôn thợ làm vườn nho

(1) Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. (2) Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. (3) Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. (4) Ông cũng bảo họ: Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng. (5) Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. (6) Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết? (7) Họ đáp: Vì không ai mướn chúng tôi. Ông bảo họ: Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho! 

(8) Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất. (9) Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. (10) Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. (11) Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: (12) Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt. 

(13) Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao? (14) Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. (15) Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức? 

(16) Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót (Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít).




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Bạn có đồng ý với cách xử sự của ông chủ vườn nho không? Tại sao? Lý do khiến bạn đồng ý hay không đồng ý dựa trên lòng ích kỷ của con người hay dựa trên lòng yêu thương? 
2. Bạn nghĩ sao về chủ trương Làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu ? Bạn có áp dụng chủ trương này trong gia đình bạn không? 
3. Bạn có phân biệt 2 thứ công bằng: công bằng có tình thương, và công bằng không có tình thương không? Bạn thích thứ công bằng nào?


Suy tư gợi ý:

Theo cách giải thích truyền thống, bài Tin Mừng này muốn nói tới tính nhưng không của Nước Trời: người ta được vào Nước Trời hoàn toàn do ân sủng của Thiên Chúa ban nhưng không, chứ không phải do công lao của họ, mặc dù người ta vẫn phải có sự cộng tác của riêng mình. Vì thế, sẽ có những người theo Chúa từ khi vừa chào đời, những người này được cứu rỗi là một điều dễ hiểu. 

Nhưng cũng sẽ có những người đã sống suốt cả một cuộc đời tội lỗi hoặc không biết Chúa, mãi tới cuối đời mới giác ngộ, mới biết Chúa và theo Chúa. Cuộc đời họ chỉ theo Chúa vào những giây phút cuối cùng, có thể một vài năm, mà cũng có thể chỉ một vài phút trước khi chết (như trường hợp người trộm lành cùng chịu đóng đinh với Ðức Giêsu trong Lc 23,39-43). Những người này cũng được ơn cứu rỗi y như những người đã theo Chúa suốt cuộc đời. Rất có thể những người sống đạo tốt đẹp suốt cả đời sẽ ganh tỵ với những người ấy. Dụ ngôn này trả lời cho những người ganh tỵ ấy.

Tuy nhiên, ta có thể giải thích dụ ngôn này theo một kiểu khác, để áp dụng tinh thần yêu thương một cách vô vị lợi, ít vị kỷ và bớt tính toán, so đo, hơn thiệt với mọi người. Nhất là để tập quan niệm, suy nghĩ theo cách của Thiên Chúa, cách vị tha, khách quan, không qui về mình.



1. Hai thứ công bằng: công bằng của trần gian và công bằng của Nước Trời

Mới đọc bài Tin Mừng, ai cũng cảm thấy ông chủ làm vườn nho đối xử như thế với những người làm thuê là không công bằng: người làm ít cũng như người làm nhiều đều nhận một mức lương bằng nhau. Vì theo suy nghĩ bình thường của người đời, người làm nhiều phải hưởng lương cao hơn người làm ít. Nghĩ như thế là hoàn toàn đúng và hợp lý. Nhưng với tình thương, người ta có thể suy nghĩ khác, cao hơn, mà vẫn hoàn toàn hợp lý.

Thật vậy, nhân loại sau này có một lý tưởng rất cao cả mà cho tới nay vẫn chưa thực hiện được, đó là làm theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu. Nghĩa là hưởng lương nhiều hay ít tùy theo nhu cầu của mình nhiều hay ít, chứ không tùy theo mình đã làm nhiều hay ít. Lý tưởng này ai cũng cho là hợp lý và đầy tình thương hơn lối hành xử thường tình là làm và hưởng thụ theo khả năng. Biết bao người đã say mê và sống chết cho lý tưởng ấy: Làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu. Trong lịch sử con người, nếu lý tưởng này có được thực hiện, thì nó đã được thực hiện trong cộng đồng Kitô hữu nguyên thủy, một cộng đồng hữu kiểu mẫu cho mọi cộng đồng Kitô hữu về sau.



2. Công bằng của Nước Trời: công bằng có tình thương

Dụ ngôn này diễn tả Nước Trời, vì nó khởi đầu bằng câu: «Nước Trời giống như...» (Mt 20,1a), chứ không phải nó áp dụng cho thế gian này. Nước Trời là nước của tình thương, trong đó mọi người đều đối xử với nhau bằng tình thương, và có như thế Nước Trời mới là nước của hạnh phúc. Do đó, sự công bằng ở trong Nước Trời là một thứ công bằng có tình thương, chứ không phải là thứ công bằng vô tâm như ở trần gian. Sự công bằng kiểu trần gian này nếu được thực hiện thì cũng là phúc cho trần gian, nhưng ngay cả thứ công bằng này nhiều xã hội cũng chẳng thực hiện được.

Tuy nhiên, dẫu được thực hiện, sự công bằng trần gian vẫn gây nên biết bao nhiêu chênh lệch. Những người có tài năng, có sức khỏe thì luôn luôn làm được nhiều hơn nên được hưởng lương cao hơn những người yếu đuối, kém tài năng, bất chấp những người yếu đuối này có thể có nhu cầu lớn hơn hay nhiều hơn. Vì thế, người có tài có sức thường giàu có, còn người ít tài kém sức thường nghèo khổ. Như thế, nhu cầu của tôi dù có lớn đến đâu, nhưng nếu tôi làm được ít, thì tôi chỉ được hưởng ít, cho dù hưởng ít như thế thì tôi sẽ rất thiếu thốn và đau khổ. Còn nhu cầu của anh dù rất ít, nhưng nếu anh làm được nhiều, thì anh vẫn được hưởng nhiều, cho dù hưởng nhiều như thế anh sẽ dư thừa một cách vô ích. Ðó là điều hợp lý theo lẽ thường của trần gian, và ở trần gian này dường như không thể nào làm khác hơn được.

Còn công bằng theo kiểu có tình thương kia, nếu áp dụng ở trần gian đầy ích kỷ này thì sẽ có cái dở là làm cho nhiều người đâm ra lười biếng: vì có làm chăm thì cũng chỉ được hưởng bằng người lười. Cứ nghĩ như thế thì sẽ chẳng còn ai hứng thú trau giồi tài năng của mình làm gì, vì có tài thì chẳng ích lợi gì cho mình hơn không có tài. Ai cũng có tính ích kỷ, không ai muốn hy sinh một cách vô vị lợi cho ai cả. Ai cũng muốn dùng tài năng hay những lợi thế mình có được để phục vụ mình, để làm lợi cho mình trước đã, không mấy ai muốn ưu tiên cho tha nhân, cho những kẻ hèn kém, yếu thế, dù họ có nhu cầu nhiều hơn mình. Nếu có tài năng mà không đem lại ích lợi cho mình, thì tài năng để làm gì?

Nhưng Nước Trời không phải là nước trần gian, hay ít ra không phải là trần gian như đang có trong hiện tại. Nước Trời được định nghĩa như một xã hội hoàn hảo, trong đó mọi người đều được hạnh phúc. Ðể được hạnh phúc như thế thì mọi người phải yêu thương nhau, và yêu thương một cách cụ thể là phải quên mình đi để lo cho tha nhân. Khả năng hay tài năng của mỗi người là để phục vụ tha nhân, để lo cho lợi ích chung, chứ không ai dùng tài năng chỉ để vun quén cho mình.

Một gia đình hạnh phúc - vì mọi người trong nhà đều yêu thương lo lắng cho nhau - là một hình ảnh rất cụ thể và sống động về Nước Trời. Những người lớn, có nhiều khả năng, thì đi làm kiếm tiền nuôi gia đình. Những em nhỏ tuy không đi làm, nhưng vẫn phải ăn, học, và do đó phải tiêu một món tiền không nhỏ. Nếu trong nhà có một người đau yếu, bệnh tật, thì người bệnh này có thể không làm ra được một đồng nào, nhưng lại có thể tiêu một số tiền lớn nhất trong nhà vì tiền thuốc, tiền bác sĩ rất mắc. Trái lại, người làm ra nhiều tiền nhất trong nhà có thể lại tiêu xài tiền ít nhất, vì có ít nhu cầu nhất. Nhưng anh ta vẫn không lấy thế làm bất công, mà cảm thấy như thế là hợp lý. Anh cho rằng số tiền trong gia đình phải được chia tỷ lệ với nhu cầu của mỗi người chứ không phải tỷ lệ với số tiền mà mỗi người kiếm được.

Chỉ những gia đình sống theo tiêu chuẩn hưởng thụ theo nhu cầu mới có hạnh phúc. Còn những gia đình chủ trương theo tiêu chuẩn hưởng thụ theo số tiền mình làm ra thì sẽ phát sinh nhiều đau khổ ê chề.



3. Bạn thích sống theo thứ công bằng nào?

Trong dụ ngôn người chủ vườn nho trả tiền theo nhu cầu chứ không theo giờ làm, điều này thật là hợp lý nếu xét theo lý luận của tình thương. Những người làm từ sáng sớm hay những người chiều mới vào làm, người nào cũng đều có vợ con phải nuôi, một gánh gia đình phải cưu mang. Người vào làm sau, sở dĩ họ vào làm trễ chỉ vì họ không có may mắn có việc để làm từ sáng sớm, cho dù họ rất muốn có. Trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn cho thấy một đặc tính của Nước Trời, cũng là lý tưởng của mọi xã hội trần gian, là tình thương. Sự công bằng trong Nước Trời không dựa trên tính vị kỷ của con người, mà dựa trên tình thương phải có đối với nhau. Và sự công bằng dựa trên tình thương ấy mới là sự công bằng đẹp lòng Chúa, sự công bằng mà Chúa muốn làm gương mẫu cho chúng ta trong xã hội.

Ðương nhiên sự công bằng ấy chưa thể áp dụng một cách phổ biến trong một xã hội mà các thành viên còn quá ít tình thương. Nhưng ít ra nó có thể áp dụng và cần phải áp dụng trong các gia đình Kitô hữu, trong các cộng đoàn Kitô giáo, nhất là trong các cộng đoàn cơ bản. Gia đình bạn, cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé của bạn đã nỗ lực trở thành một nước trời nho nhỏ chưa? Sự công bằng được áp dụng trong đó là thứ công bằng nào? Của thế gian hay của Nước Trời?



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, thế giới này chưa thể áp dụng một cách đại trà thứ công bằng có tình thương theo kiểu Nước Trời được. Nhưng trong những cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé như gia đình Kitô hữu của con, trong cộng đoàn cơ bản của con, trong đó mọi người coi nhau như anh chị em ruột thịt, con sẽ cố gắng cổ võ việc áp dụng sự công bằng ấy, để mọi người trong đó phần nào hưởng nếm trước hạnh phúc của Thiên Ðàng, một thứ hạnh phúc được xây dựng trên tình thương và do tình thương tạo nên. Amen.



Share:

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

TN24b - Tha thứ để được tha thứ



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 24 Thường Niên

(17-9-2017)

Bài đào sâu

Tha thứ để được tha thứ



  TIN MỪNG: Mt 18,21-35

Anh em hãy tha thứ cho nhau
Dụ ngôn tên mắc nợ không biết thương xót


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Bạn nghĩ sao về người không chịu tha nợ cho bạn mình một món nợ nhỏ khi cha mẹ của người bạn ấy đã tha cho mình một món nợ lớn gấp ngàn lần? Chúng ta có xử sự giống như vậy không khi không chịu tha thứ cho tha nhân chung quanh chúng ta? 
2.   Tại sao ta lại phải tha thứ mãi như thế? Ta có bao giờ phạm lỗi với ai giống như người đã phạm lỗi với ta không? Lúc đó ta có mong được thông cảm, tha thứ không? 
3.   Giữ lòng hận thù chứ không chịu tha thứ thì có hại gì cho ta không? Nếu hai đứa bé cứ trả thù nhau bằng cách đánh qua đánh lại thì ai là người bị đau đớn và thiệt hại? Bị đau mà không trả thù thì bị thiệt hại ít hay nhiều hơn trả thù?

Suy tư gợi ý:

1.   Phải tha thứ mãi, tha thứ hoài, tha thứ vô giới hạn

Luật Cựu ước chủ trương «mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết thương đền vết thương, vết bầm đền vết bầm» (Xh 21,24-25; x. Lv 24,20; Đnl 19,21). Các rabbi Do Thái dạy rằng phải tha thứ cho những người xúc phạm mình, nhưng chỉ ba lần thôi. Phêrô nghĩ rằng Đức Giêsu chủ trương rộng lượng hơn, nghĩa là số lần tha thứ phải đạt tới con số trọn vẹn hay hoàn hảo là 7 (người Do Thái quan niệm số 7 là con số trọn hảo). Nhưng ông không ngờ Ngài đòi hỏi ông tha thứ không giới hạn: «Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy» (Mt 18,22).

Lý do Ngài đưa ra – qua dụ ngôn người đầy tớ mắc nợ mà không biết thương xót – là vì: ta đã từng mắc nợ Thiên Chúa những món nợ lớn lao vô cùng, và Ngài đã tha cho ta. Thế mà tha nhân bên cạnh ta – là hiện thân của Ngài ở bên ta – nợ ta chẳng bao nhiêu, chẳng lẽ ta lại không sẵn sàng tha cho họ? 

Nếu đứa con ông chủ của ta nợ ta một món tiền nhỏ mà ta cứ nằng nặc đòi trả cho bằng được, trong khi chính ta đã nợ ông chủ gấp triệu lần món tiền ấy và đã được ông tha cho ta tất cả, thì hành động như ta có phải là bất trung bất nghĩa và dại dột vô cùng không? Ta hành động như thế, làm sao ông chủ có thể tiếp tục tha nợ cho ta được? Cũng vậy, nếu ta không tha thứ lỗi lầm cho những người sống chung quanh ta, là những người mà Đức Giêsu đã tự đồng hóa với chính ngài (x. Mt 25,40.45; 10,40; 18,5; Lc 10,16), thì Thiên Chúa cũng sẽ không tha thứ tội lỗi cho ta.

Trong kinh Lạy Cha ta thường đọc nhiều lần mỗi ngày, ta xin Thiên Chúa cứ dựa theo cách ta tha tội cho tha nhân mà tha tội cho ta. Lời kinh này không khéo sẽ trở thành rất bất lợi cho ta, vì nếu ta không quảng đại tha thứ cho tha nhân thì Ngài cũng căn cứ theo cách ấy mà đối xử với ta, vì ta đã cầu xin Ngài như vậy. 

Ngược lại, nếu lúc nào ta cũng tha thứ cho anh em mình vô điều kiện, không đòi họ phải xin lỗi mới tha, thì Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ cho ta cách vô điều kiện như vậy, vì Ngài không thể kém quảng đại hơn ta. Vì thế, sẵn sàng tha thứ cho tha nhân vô điều kiện là một thái độ hết sức khôn ngoan. 

Khi ta tha thứ cho anh em thật nhiều lần, ta sẽ có thói quen tha thứ, nhân đức tha thứ, nhất là bản tính hay tha thứ, rất ích lợi cho sự phát triển tâm linh, sự bình an và hạnh phúc của ta trong cuộc đời.



2.   Tại sao ta nên tha thứ cho tha nhân?

Nếu ta nhận ra mọi sự ta có được đều là hồng ân Chúa ban cho ta, ta sẽ thông cảm với những người nhận được ít ơn Chúa hơn ta. Được ít ơn Chúa hơn ta, đương nhiên họ dễ phạm lầm lỗi hơn ta. Xét lại bản thân, chính ta cũng đã từng phạm lỗi tương tự như vậy với họ hoặc với một ai đó, khi đó ta mong họ thông cảm, tha thứ cho ta. Thử nghĩ xem, nếu ta ở trong tình trạng y như họ: hoàn cảnh éo le ít nhiều buộc họ phải xử tệ với người khác, thêm vào đó là trình độ tâm linh, văn hóa hay khả năng suy nghĩ của họ còn kém, tâm hồn còn yếu đuối, còn nhiều tính ích kỷ chưa vượt thắng được… thì chắc hẳn ta cũng sẽ hành động không khác gì họ.

Người thánh thiện thường rất dễ thông cảm với những người yếu đuối, tội lỗi hơn mình, và chính vì thế họ mới là người thánh thiện. Họ thường nghĩ như Phaolô: «phải hiền hoà, luôn luôn tỏ lòng nhân từ với mọi người, vì xưa kia ta cũng ngu xuẩn, không vâng lời, lầm lạc, làm nô lệ cho đủ thứ đam mê và khoái lạc, sống trong gian ác và ganh tị, đáng ghét và ghen ghét lẫn nhau» (Tt 3,2-3), nên họ cảm thấy phải rất thông cảm với những ai yếu đuối giống như họ xưa kia.

Người cảm thấy mình còn yếu đuối, còn hay lầm lỗi, thì càng có lý do mạnh hơn để thông cảm với những người cùng yếu đuối và hay lầm lỗi như mình. Nếu ta hay lầm lỗi mà lại không thể thông cảm được với những người hay lầm lỗi như ta thì ta thật quá ích kỷ và đáng bị trừng phạt biết bao!



3. Tai hại của giận hờn, thù hận

Một lý do rất nhân bản và tự nhiên để ta dễ dàng tha thứ cho tha nhân, đó là khi ta để lòng giận hờn, phiền trách ai, thì tâm hồn ta sẽ nặng trĩu u buồn, bực bội, tức giận. Cảm xúc tiêu cực này khiến ta không thoải mái, máu ta sinh ra nhiều chất độc, lục phủ ngũ tạng của ta cũng bị thương tổn. Nếu ta thường xuyên ở trong tình trạng u uất này, ta dễ sinh ra những bệnh nan y, khó chữa, như cao huyết áp, tiểu đường, ung thư… 

Khi tha nhân xúc phạm hay làm hại ta, nếu ta buồn giận họ và không tha thứ cho họ, thì chẳng những ta bị thiệt hại hay mất mát vì những gì họ trực tiếp gây ra, mà ta còn tự làm cho chính ta bị thiệt và mất mát nhiều hơn thế bội phần. Do đó cứ nuôi giận hờn mà không chịu tha thứ quả là thiếu khôn ngoan. Nếu ta không tiêu diệt giận hờn thù oán, thì hờn oán sẽ tiêu diệt ta.

Nếu ta tìm cách trả thù người hại ta bằng cách gây đau khổ lại cho họ, thì ta càng tự làm thiệt hại ta bội phần hơn nữa. Khi ta thù hận, ta dễ lâm vào tình trạng mất sáng suốt. Tục ngữ có câu: «cả giận mất khôn». Trong tình trạng mất sáng suốt ấy mà lại muốn gây đau khổ cho người khác, ta rất dễ lâm vào tình trạng phạm pháp, và hậu quả tai hại nhiều khi không lường được. Nhiều người tức giận quá đã đi đến chỗ đả thương hay giết người, để sau đó bị tù tội hay phải sạt nghiệp vì đền mạng. 

Người bị ta trả thù gây khổ thường là sẽ trả thù lại ta khiến ta còn phải chịu khổ nhiều hơn nữa. Và nếu cứ thế tiếp tục – người trả thù qua, người trả thù lại – thì oán thù sẽ chồng chất, thậm chí đời này sang đời khác. Đức Phật nói: «Lấy oán báo thù, oán thù chồng chất. Lấy đức báo oán, oán tự tiêu tan». Không thể dùng oán thù mà giải quyết được oán thù. Chỉ có tình thương mới tiêu diệt được oán thù mà thôi. Cũng như không thể lấy một cái sai để giải quyết một cái sai khác, vì hai cái sai cộng lại không thể thành cái đúng mà thành cái sai lớn gấp bội. Cái sai chỉ có thể hóa giải bằng những cái thật đúng mà thôi.

Cách trả thù tốt nhất là làm những điều tốt lành nhất cho người hại mình, và chỉ mong cho họ toàn những điều tốt lành, để biến họ thành người tốt hay thành bạn mình. Biến họ thành bạn mình chính là một cách diệt được kẻ thù cách khôn ngoan nhất, trong đó không có ai bị hại, mà ta lại còn có thêm bạn. Đó là cách mà thánh Phaolô đề nghị: «Kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác» (Rm 12,20-21). Đó cũng là thực hành điều Đức Giêsu dạy: «Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em» (Lc 6,27).



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu đã dạy con phải yêu thương cả kẻ thù huống gì những người anh em có lỗi với con. Vì tình yêu đích thực đòi hỏi con phải sẵn sàng thông cảm và tha thứ cho người đã xúc phạm đến con. Chính con cũng đã biết bao lần lầm lỗi, xúc phạm đến tha nhân và đã từng được họ quảng đại tha thứ. Xin cho con thật sự nhận ra những giới hạn, yếu đuối và lầm lỗi của chính mình, để dễ dàng thông cảm và tha thứ cho giới hạn, yếu đuối và lầm lỗi của người khác.


Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây để trở về bài trước. 


Share:

TN24a - Tha thứ vô điều kiện,Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ vô điều kiện cho ta




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 24 Thường Niên

(17-9-2017)


Tha thứ vô điều kiện cho tha nhân
khiến Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ như thế cho ta




ĐỌC LỜI CHÚA

  Hc 27,33-28,9: (1) Kẻ báo thù sẽ chuốc lấy báo thù của Ðức Chúa, tội lỗi nó, Người xem xét từng ly. (2) Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha. (3) Người với người cứ nuôi lòng hờn giận, thế mà lại xin Ðức Chúa chữa lành! (4) Nó chẳng biết thương người đồng loại, mà lại dám xin tha tội cho mình! (5) Nó chỉ là người phàm mà để tâm thù hận, thì ai sẽ xin tha tội cho nó?

  1Rm 14,7-9: (7) Thật vậy, không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. (8) Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa.

  TIN MỪNG: Mt 18,21-35

Anh em tha thứ cho nhau

(21) Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Ðức Giêsu mà hỏi rằng: Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không? (22) Ðức Giêsu đáp: Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.


Dụ ngôn tên mắc nợ không biết thương xót

(23) Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. (24) Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. (25) Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ. (26) Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống bái lạy: Thưa Ngài, xin rộng lònghoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết. (27) Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. 

(28) Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: Trả nợ cho tao! (29) Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh. (30) Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. 

(31) Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. (32) Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, (33) thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao? (34) Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. 

(35) Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Nếu bạn chợt nhận ra mình cũng yếu đuối và dễ lầm lỗi như người mà bạn đang kết án, thì bạn có còn muốn kết án họ không? 
2. Bạn có dễ dàng tha thứ lần nữa cho người mà bạn đã từng tha cho một món nợ lớn, nhưng chính người ấy lại không chịu tha cho con cái bạn một món nợ rất nhỏ không? 
3. Khi bạn mang trong mình một nỗi hờn giận, tâm hồn bạn có bình an không? Cách tốt nhất và khôn ngoan nhất để giải quyết nỗi hờn giận ấy là gì?

Suy tư gợi ý:

1. Sống trên đời, ai cũng lầm lỗi. Chính ta cũng biết bao lầm lỗi

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật trước, Ðức Giêsu đòi hỏi ta phải biết sửa lỗi cho tha nhân. Nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài lại yêu cầu ta phải sẵn sàng tha thứ cho họ một cách vô điều kiện. Như vậy, ta vừa phải sửa lỗi, lại vừa phải tha thứ.

Cổ nhân nói: «Nhân vô thập toàn», nghĩa là trên đời, không ai hoàn hảo cả, ai cũng có những sai trái, lầm lỗi. Xét lại bản thân, ta thấy chính ta cũng có nhiều sai trái, khiếm khuyết, lầm lỗi: vô ý có, mà hữu ý hay cố tình cũng có. Ðó chính là lý do khiến ta nên tha thứ cho người khác.



2. Ta luôn thấy lầm lỗi của ta đáng được thông cảm và tha thứ

Khi bị ai trách cứ, hầu như lần nào trong thâm tâm ta cũng có lý do để chống chế, để biện hộ cho sai trái của mình. Ðiều đó có nghĩa là dù ta có lỗi, ta vẫn luôn thấy lỗi mình đáng được thông cảm và tha thứ. Vì chỉ có ta mới hiểu được nguyên nhân và hoàn cảnh khiến ta phạm lỗi. Người ngoài sở dĩ kết án ta là vì họ không hiểu được thế kẹt của ta, nên họ không thông cảm được sự sai trái của ta. Tất cả mọi người đều vậy cả, ai cũng thấy lầm lỗi của mình đáng được thông cảm.

Theo Dale Carnegie trong cuốn Ðắc Nhân Tâm của ông, thì không ai tự nghĩ xấu về mình. Ai cũng tự nghĩ tốt cho mình dù là kẻ xấu nhất trong nhân loại. Ai cũng nghĩ rằng mình đúng cho dù đó là kẻ sai trái nhất trong nhân loại. Ai cũng có nhiều lý lẽ để cho rằng mình là người tốt, người đúng. Ông đã chứng minh điều ấy bằng những sự kiện cụ thể mà ông thu thập được trong đời sống của ông. Theo ông, ngay cả những tên cướp giết người không gớm tay vẫn có lý do bào chữa cho những hành động gớm ghiếc của chúng, mà chúng nghĩ do thực tâm chứ không phải để ngụy biện. Tuy dù không hoàn toàn đồng ý với Dale Carnegie, tôi cũng phải công nhận ông có lý phần nào, và đó chính là lý do để tôi thông cảm hơn với những người tôi muốn kết án.



3. Ðức Giêsu khuyên ta luôn tha thứ, và tha thứ vô điều kiện

Ðức Giêsu là một con người y như chúng ta, Ngài cũng cảm nghiệm được sự yếu đuối của con người y như chúng ta, chính Ngài cũng bị cám dỗ phạm tội như chúng ta. Vì thế, mặc dù Ngài không hề phạm một lầm lỗi nào, Ngài vẫn cảm thấy mọi tội lỗi của con người đều đáng được tha thứ. Lý do mà Ngài đưa ra cho chủ trương tha thứ vô điều kiện là: Chính bản thân ta có lỗi với Thiên Chúa nhiều gấp bội ai đó có lỗi với ta. Nếu ta không tha thứ cái lỗi nhỏ bé ấy cho người đó, thì Thiên Chúa làm sao tha cho ta cái lỗi tầy trời của ta được? Mà nhất là người ấy lại là hiện thân của chính Thiên Chúa ở bên ta, vì Ngài tự đồng hóa với tha nhân của ta.

Hãy tự đặt mình vào địa vị của Thiên Chúa, tương tự như hoàn cảnh sau đây, ta sẽ thấy sự cần thiết phải tha thứ: Có người nợ ta một số tiền rất lớn mà ta sẵn sàng tha cho tất cả, nhưng chính người ấy lại không chịu tha nợ cho con của ta, cứ nằng nặc đòi nợ với đủ mọi đẹ dọa, dù con ta chỉ nợ họ một số tiền nhỏ. Trường hợp đó ta sẽ làm gì với người ấy? 

Nếu không tha thứ cho người khác, ta cũng làm một hành động phi lý và vô ơn tương tự như người ấy. Nghĩ cho cùng, không tha thứ cho người khác, chính là một hành động vô ơn đối với Thiên Chúa là người đã tha thứ cho mình. Thiên Chúa tuy không có lỗi gì với ta, nhưng ta phải trả ơn cho hành động tha thứ của Thiên Chúa bằng cách tha thứ cho những hiện thân của Thiên Chúa ở bên ta, tức những người sống chung quanh ta.



4. Lòng khoan dung độ lượng

Một trong những đức tính cần thiết để trở nên hoàn hảo là lòng khoan dung độ lượng. Người khoan dung độ lượng là người không chấp nhất, mà trái lại thông cảm với những lầm lỗi của kẻ khác. Lòng khoan dung độ lượng được xây dựng trên ý thức về những yếu đuối, về khả năng phạm lỗi của chính bản thân mình, và sau đó, của người khác. Mình cũng phạm lỗi thì mình kết án người khác thế nào được? Nếu mình cũng phạm lỗi mà lại đi kết án người khác, thì đó đúng là một hành động vô liêm sỉ. 

Trong chuyện người đàn bà ngoại tình bị bắt quả tang (x. Ga 8,3-11), tuy không phục những người Pharisêu vì họ thích giả hình, nhưng tôi phục họ vì họ còn có liêm sỉ. Khi Ðức Giêsu nói: «Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!», thì họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Họ không dám ném đá kẻ ngoại tình chính vì họ ý thức mình cũng có tội, như thế là họ còn liêm sỉ. 

Như vậy, kết án người khác, không tha thứ lầm lỗi cho họ là do ta không ý thức được lầm lỗi của chính mình. Nếu ý thức được lầm lỗi của mình mà vẫn kết án, không tha thứ thì chẳng phải là ta thiếu liêm sỉ sao?

Con người có một mẫu số chung như nhau là rất yếu đuối, rất dễ lầm lỗi. Xét lại chính bản thân, ta thấy mình vẫn sai lỗi hằng ngày. Nếu tôi ít sai lỗi hơn người khác, rất có thể vì tôi không phải sống trong một hoàn cảnh có nhiều cám dỗ thúc đẩy tôi sai lỗi như họ. Nếu tôi cũng sống trong hoàn cảnh y như thế, liệu tôi có khá hơn họ, hay tôi còn tệ hơn họ nữa? 

Không chỉ có yếu tố hoàn cảnh khiến họ dễ phạm tội hơn tôi, mà còn nhiều yếu tố khác nữa. Hãy tự hỏi: Khi mình ở độ tuổi ấy, liệu mình đã suy nghĩ chín chắn được như người ấy không? Nếu mình chỉ được học hành hay được giáo dục như họ thôi, mình có hành động khá hơn họ không? Nếu mình bẩm sinh có thể chất hoặc tâm lý yếu đuối như họ, nếu mình chỉ suy nghĩ được như họ, liệu mình có hành động khác hơn không? v.v...



5. Tha thứ làm tâm hồn ta nhẹ nhõm, thảnh thơi

Kinh nghiệm cho tôi thấy khi nào bực bội ai điều gì, khi nào để trong lòng nỗi buồn bực giận hờn ai, thì tâm hồn tôi không được bình an. Lúc đó, trong tâm hồn tôi có một xung lực thúc đẩy tôi phải làm một cái gì đó, chẳng hạn chửi bới người ấy, nói một câu gì hạ nhục người ấy, hoặc làm một điều gì khiến người ấy phải đau khổ. Lúc ấy tôi có cảm tưởng rằng: có hành động theo sự thúc đẩy của xung lực ấy, tôi mới nguôi ngoai cơn giận, và tâm hồn tôi mới tìm lại được bình an. 

Nhưng trong thực tế, sau khi thỏa mãn cơn giận bằng những hành động ấy, tôi chỉ được nguôi ngoai phần nào, và sau đó lại tiếp tục mất bình an hơn nữa vì phải đối phó với sự trả thù của người kia. Vì khi người kia bị tôi hạ nhục hay gây đau khổ, thì trong lòng họ lại phát sinh một xung lực y như tôi trước đó, và họ quyết thỏa mãn xung lực ấy. Thế là cái vòng lẩn quẩn được thiết lập, vì: «Lấy oán trả oán, oán chập chùng» (Ðức Phật).

Nhưng nếu tôi đặt mình vào địa vị người ấy, tôi sẽ dễ dàng thông cảm và hiểu được những lý do thúc đẩy họ hành động như vậy, nhờ đó tôi dễ dàng tha thứ cho họ. Khi tôi vừa quyết định tha thứ, lập tức tôi cảm thấy tâm hồn nhẹ nhõm. Xung lực thúc đẩy tôi phải trả thù biến mất. Tích cực hơn nữa, nếu tôi có tinh thần yêu thương của Ðức Giêsu, thay vì trả oán, tôi quyết định làm một điều gì tốt cho người ấy. Lúc ấy thường có điều lạ lùng xảy ra, là người ấy nhận ra ngay sai lầm của mình và ngỏ lời xin lỗi (Ðiều lạ lùng này rất khó xảy ra khi tôi trả đũa). Từ đó tình cảm giữa hai người thắm thiết hơn, vì qui luật này vẫn luôn luôn đúng: «Ai được tha nhiều sẽ mến nhiều, ai được tha ít sẽ mến ít» (x. Lc 7,47b). Ðó cũng là chủ trương «lấy đức trả oán, oán tiêu tan» của Ðức Phật.



CẦU NGUYỆN

Tôi nghe Chúa nói với tôi: «Nếu con tha thứ cho mọi người vô điều kiện dù họ lỗi nặng đến đâu, thì làm sao Cha có thể kết án con được? Chẳng lẽ lòng bao dung của Cha lại thua con sao? Vả lại, con vẫn thường xin Cha: "Xin tha nợ cho con giống như con tha nợ cho người khác". Con tha nợ cho người khác vô điều kiện, Cha cũng phải "như con" mà tha cho con vô điều kiện, dù con lỗi nặng đến đâu. Ai cầu xin như con mà không chịu tha thứ là tự họ bắt Cha kết án họ, vì họ xin Cha làm "như họ"».


Share:

Chủ Nhật, 3 tháng 9, 2017

TN23b - Sửa lỗi anh em là bổn phận của tình thương



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 23 Thường Niên

(10-9-2017)


Bài đào sâu

Sửa lỗi anh em là bổn phận của tình thương



  TIN MỪNG: Mt 18,15-17

Sửa lỗi anh em
Hiệp lời cầu nguyện



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Người yêu thương anh em thật sự có nên sửa lỗi họ khi họ sai lỗi không? Có khi nào ta sửa lỗi anh em vì ghen ghét họ, vì muốn tự đưa mình lên không? 
2.   Sửa lỗi anh em mà không tế nhị, mà xúc phạm đến họ thì có kết quả gì không? Tại sao? Giữa việc sửa lỗi và cách sửa lỗi, điều nào quan trọng hơn? điều nào dễ nói lên tình thương của ta hơn? 
3.   Theo Đức Giêsu, tinh thần phải có khi ta sửa lỗi anh em là gì?

Suy tư gợi ý:

1. Sửa lỗi anh em là bổn phận của tình thương

Toàn bộ giáo huấn của Kinh Thánh – cả Cựu lẫn Tân Ước – đều tóm gọn trong hai chữ yêu thương. Yêu thương có hai đối tượng chính là Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng theo giáo huấn của Đức Giêsu, tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa tất yếu phải được thể hiện thành tình yêu đối với tha nhân. Nghĩa là đã yêu Thiên Chúa thì tất nhiên phải thương tha nhân. Thánh Gioan viết: «Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại không yêu thương anh em mình, người ấy là kẻ nói dối» (1Ga 4,20). Vì tha nhân chính là hiện thân cụ thể và thấy được của Thiên Chúa bên cạnh chúng ta, bất kể tha nhân đó là ai: người yêu ta hay người ghét ta, kẻ ta yêu hay kẻ ta ghét, người làm lợi cho ta hay kẻ thường làm hại ta, người thánh thiện hay người tội lỗi. 

Kẻ thù, kẻ xấu xa, kẻ tội lỗi mà ta còn phải yêu thương và mong muốn những điều tốt lành cho họ, huống gì người anh em cùng trong một cộng đoàn với ta, cùng chung một lý tưởng với ta, cùng theo Chúa như ta, phạm phải một số lầm lỗi nào đó. Trong bài Tin Mừng này, Đức Giêsu dạy ta cách đối xử với những anh em có những lầm lỗi đó.

Khi anh em mình có lầm lỗi, Ngài không dạy ta cứ mặc kệ họ, mà đề nghị ta sửa lỗi cho họ: «Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi người ấy» (Mt 18,15a). Ngôn sứ Êdêkien còn cho việc sửa lỗi ấy là một bổn phận hay trách nhiệm: «Chúa phán: Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: “Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết”, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó» (Ed 33,8).

Sửa lỗi cho họ chính là cách thể hiện tình thương của ta đối với họ. Vì yêu thương ai thì phải tìm cách làm cho người ấy nên tốt, nên hoàn thiện hơn. Thấy anh em ta lầm lỗi, mà vì nể nang họ, sợ họ bị chạm tự ái, sợ họ buồn nên ta không đả động gì đến lỗi của họ, cứ để mặc họ tiếp tục lầm lỗi, thì đó không phải là yêu thương họ. Tình thương phải thúc giục ta đưa họ ra khỏi sai lầm, khỏi tội lỗi và điều xấu ác, vì nếu họ cứ tiếp tục lầm lỗi, thì hậu quả đến với họ sẽ là đau khổ (đau khổ tinh thần, tâm lý hoặc thể chất), và có thể nguy hại cho linh hồn họ.



2. Việc sửa lỗi không quan trọng bằng cách sửa lỗi

Sửa lỗi anh em khi họ lầm lỗi là bổn phận của yêu thương. Nhưng bản thân việc sửa lỗi không quan trọng và không biểu lộ tình thương bằng cách thức sửa lỗi cho họ. Phải sửa lỗi cách nào để người được sửa lỗi cảm nhận được ta yêu thương họ thật sự, chỉ mong họ nên tốt đẹp hoàn thiện hơn, và chính vì yêu thương họ mà ta sửa lỗi cho họ. 

Tâm lý thông thường của người lầm lỗi là họ chỉ sửa lỗi theo đề nghị của ta khi họ thấy ta thật lòng yêu thương họ. 

Có nhiều trường hợp ta sửa lỗi người khác chỉ để chứng tỏ rằng ta vô tội còn họ thì có tội, ta tốt lành còn họ thì xấu xa, ta hữu lý còn họ thì phi lý. Sửa lỗi kiểu ấy chỉ là một hình thức tự đề cao, tự đưa mình lên và hạ thấp người anh em xuống. Sửa lỗi kiểu ấy chỉ chứng tỏ ta tự yêu mình chứ không phải ta yêu thương gì họ, và hậu quả là chỉ gây nên oán thù, chia rẽ, đúng như câu «giáo đa thành oán!»



3. Cách sửa lỗi theo tinh thần yêu thương

Cách sửa lỗi anh em vì yêu thương thì khác hẳn với cách sửa lỗi vì muốn tự đề cao mình và muốn hạ người anh em xuống. Người bị sửa lỗi rất nhạy cảm để nhận ra được ta sửa lỗi họ theo cách nào. Vì thế, chính việc sửa lỗi không quan trọng bằng cách thức sửa lỗi. 

Nếu ta thật sự yêu thương người có lỗi, thì khi sửa lỗi họ, ta sẽ tỏ ra tôn trọng họ, tránh xúc phạm đến họ, nghĩa là tránh tất cả những câu nói nào có thể khiến họ đau khổ, buồn phiền, tức giận. Hãy xem trong cách giáo dục con cái, người ta vẫn nói: «dạy dỗ», nghĩa là «dạy thì phải dỗ», «dạy» phải luôn luôn đi với «dỗ» mới thành công. «Dỗ» là dùng những lời lẽ êm ái, ngon ngọt, dịu dàng, thấm nhuần tình thương để đề nghị với con cái mình hãy làm việc này hoặc đừng làm việc kia. 

Khi sửa lỗi người anh em mình, ta cũng cần dùng một phương pháp tương tự như vậy thì mới dễ có kết quả.



4. Sửa lỗi anh em theo tinh thần của Đức Giêsu

Đức Giêsu đưa ra một tiến trình gồm nhiều giai đoạn để sửa lỗi người anh em trong tinh thần tôn trọng và yêu thương họ.

a) Trước hết là «một mình anh với người ấy mà thôi…» (Mt 18,15). Nghĩa là khi ta nhận ra lầm lỗi của người anh em, thì ban đầu phải tôn trọng sự kín đáo, riêng tư: chỉ một mình họ với ta biết cái lầm lỗi ấy thôi. Và trong sự thân mật riêng tư, ta tế nhị chỉ cho họ thấy rõ lầm lỗi của họ, đề nghị họ sửa lỗi bằng những lời lẽ yêu thương nhưng đầy tính thuyết phục. 

Hãy tự đặt mình vào vị thế của họ để thông cảm với hoàn cảnh và sự yếu đuối của họ khiến họ lầm lỗi. Đừng chỉ biết dựa trên nguyên tắc đạo lý hay luật lệ để trách móc họ như một người ngoại cuộc. Hãy nghĩ rằng rất có thể khi ở trong hoàn cảnh của họ, mình cũng sẽ cư xử chẳng khác gì họ, thậm chí có thể tệ hơn họ.

b) Chỉ khi giai đoạn 1 không thành công thì mới nên sử dụng tiếp giai đoạn 2: «Nếu người ấy không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa…» (Mt 18,16). Trong giai đoạn này, lầm lỗi của người anh em bị công khai hóa hơn, nhưng chỉ công khai trong một giới hạn nhỏ bé. Điều này cũng gây một áp lực nhẹ nhàng đòi buộc người ấy phải sửa lỗi. Song song với áp lực ấy, sự tham gia thêm của một vài anh em thân cận cũng tạo tính thuyết phục hơn.

c) Giai đoạn 2 mà vẫn không thành công thì đành phải đi đến giai đoạn 3: «Nếu người ấy không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh» (Mt 18,17a). Giai đoạn này mức độ công khai, sự thuyết phục và áp lực tạo ra từ đó trở nên nhiều và mạnh hơn nữa. Nhưng tính công khai vẫn còn phải giới hạn trong phạm vi nội bộ của tập thể (hội đoàn, giáo xứ, giáo phận, hay giáo hội địa phương…) chưa nên để lộ cho người ngoài Giáo Hội biết.

d) Giai đoạn 4: «Nếu Hội Thánh mà người ấy cũng chẳng nghe, thì hãy kể người ấy như một người ngoại hay một người thu thuế» (Mt 18,17b). Có những trường hợp người sai lỗi vẫn cứ ngoan cố với lỗi lầm của mình, thì phải tạo áp lực mạnh hơn nữa là coi người ấy như một người ngoài cộng đoàn hay ngoài Hội Thánh. Đây là giai đoạn bất đắc dĩ chỉ nên sử dụng sau khi đã dùng những biện pháp nêu trên nhiều lần mà vẫn không thành công. Nếu người ấy sửa lỗi, thì ta lại tiếp tục coi họ như người trong cộng đoàn hay trong Giáo Hội.

Tất cả những giai đoạn trên chỉ là những biện pháp để đưa người anh em sai lỗi của ta về đường ngay nẻo chính. Tất cả đều phải được thực hiện trong tâm tình yêu thương. Không nên bêu xấu, hạ nhục người anh em của mình. 

Nếu tất cả những biện pháp trên đều thất bại, thì ta đành phải chấp nhận giới hạn khả năng sửa lỗi của mình. Điều này không có nghĩa là loại trừ họ, coi họ không còn là anh em của mình, hoặc mình không còn phải yêu thương hay không còn trách nhiệm gì đối với họ nữa. Chỉ nên dùng những biện pháp thật mạnh như nhờ luật pháp ngoài đời can thiệp, hay công bố cho mọi người biết khi lỗi lầm ấy thật sự có hại cho Giáo Hội hay xã hội, và mình đã dùng tất cả những cách khác mà người có lỗi vẫn cố chấp không chịu thay đổi.

Thử suy nghĩ một người cha hay mẹ khi thấy con cái hư đốn thì sửa dạy chúng ra sao. Khi đã làm nhiều cách mà chúng không sửa đổi, thì phải kiên nhẫn tìm cách khác nữa. Khi đã tìm hết cách mà con không sửa đổi, thì cha mẹ chỉ biết khóc thầm, chịu đựng đau khổ, chứ không thể từ bỏ con hay ruồng rẫy con được. Không cha mẹ nào thật sự yêu thương con mà lại chấp nhận từ bỏ con, giết con hay không quan tâm tới chúng nữa, cho dẫu lầm lỗi của chúng nặng nề tới đâu. Vì nếu đã làm hết cách, thì dù có từ bỏ chúng cũng không làm chúng sửa lỗi, trái lại, còn đẩy chúng đến những lầm lỗi nặng nề và tai hại hơn. 

Nếu chúng ta thật sự yêu thương những anh em lỗi lầm của mình, chúng ta cũng sẽ xử sự như vậy.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, kẻ thù, kẻ tội lỗi mà con còn phải yêu thương huống gì những người anh em của con còn vướng có chút ít khuyết điểm lầm lỗi! Xin cho con biết yêu thương họ thật sự qua cách đối xử của con đối với họ, nhất là qua cách con sửa lỗi cho họ. Cách con sửa lỗi cho họ thế nào chính là dấu chỉ rõ ràng nhất cho thấy con có thật lòng yêu mến họ hay không.    



Share: