Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Tai-sao-cac-Ngon-su-bi-bac-dai


Tại sao các ngôn sứ của Thiên Chúa
thường bị bạc đãi?




Chúng ta đã vui mừng kỷ niệm lần thứ 2017 ngày Đức Giêsu Kitô sinh xuống thế làm người. Ngài thường được quan niệm như là Đấng Cứu Thế của nhân loại, vì chủ yếu là như vậy. Tuy nhiên, Ngài còn là một vị ngôn sứ vĩ đại nhất trong lịch sử con người, và Ngài đã bị đồng hương bạc đãi, lên án và đã chết một cách đau thương và nhục nhã cũng chính vì thực hiện vai trò ngôn sứ ấy.

Chính Ngài cũng nói về số phận vốn bị bạc đãi của các ngôn sứ thật, trái với số phận được ưu đãi của các ngôn sứ giả [*1]. Sự nghịch lý và khó hiểu này gây thắc mắc cho rất nhiều người: Những ngôn sứ thật của Thiên Chúa đáng lẽ phải được mọi người tôn trọng và ưu đãi mới đúng. Nếu có bạc đãi thì điều ấy phải dành cho các ngôn sứ giả chứ!  
[*1] Trong Tin Mừng, nhiều lần Đức Giêsu nói về số phận nghịch lý của các ngôn sứ, chẳng hạn như:  
● «Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế» (Mt 5,12);
● «Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị nguời ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên hư đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế» (Lc 6,22-23).
● «Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế» (Lc 6,26)
Chúng ta thử tìm hiểu xem tại sao lại có sự nghịch lý ấy.


Các ngôn sứ được Thiên Chúa gửi đến

Thời đại nào Thiên Chúa cũng đều gửi đến với nhân loại những ngôn sứ để nói lên tiếng nói của Ngài, cho nhân loại biết ý muốn, chương trình và kế hoạch mới của Ngài cho thời đại mới. Vì Thánh Thần của Thiên Chúa luôn luôn đổi mới mọi sự, để thích ứng đường lối của Ngài cho hoàn cảnh, tâm thức, não trạng mỗi thời đại mỗi thay đổi của con người.

Ngôn sứ Nathan đến kể tội vua Đavít
(2Sm 12,1-15)

Chính những lúc lịch sử dân Do Thái cũng như Giáo Hội bước vào những khúc ngoặt quan trọng, là lúc các ngôn sứ của Thiên Chúa xuất hiện nhiều nhất. Các ngôn sứ có thể thuộc bất kỳ thành phần nào trong Dân Chúa cũng như Giáo Hội, được Thiên Chúa đặc biệt tuyển chọn, kêu gọi, và mạc khải cho biết đường lối của Ngài trong tương lai. Và Thiên Chúa sai họ nói cho Dân Ngài biết chương trình và kế hoạch mới của Ngài, sửa sai những gì sai trệch trong Dân Ngài.

Thời xưa, các ngôn sứ phải đi khắp nơi để gặp mọi hạng người, từ vua quan cho đến hàng thứ dân, nói trực tiếp với mọi đối tượng. Ngày nay, khoa học tân tiến, các ngôn sứ phải sử dụng tất cả những phương tiện sẵn có của thời đại – từ báo chí, sách vở, đến truyền thanh, truyền hình, internet, v.v… – để nói với mọi người về Thiên Chúa, về kế hoạch của Ngài. Người ngôn sứ phải lên tiếng làm cho mọi người tỉnh ngộ, quay trở về với đường lối của Ngài. Mục đích của người ngôn sứ là xây dựng, đổi mới Giáo Hội và xã hội, biến Giáo Hội trở thành một Giáo Hội thánh thiện hơn, nhiều tình thương hơn, biến xã hội thành một xã hội nhân bản hơn, công bằng hơn, yên vui hơn.


Số phận của các ngôn sứ

Sứ mạng này không phải lúc nào cũng thuận lợi, dễ dàng, mà có nhiều lúc rất bất lợi cho người ngôn sứ. Đã nhận sứ mạng này thì phải sẵn sàng chấp nhận gian khổ, nguy hiểm. Vì người ngôn sứ thời nào cũng bị người đồng thời – có thể là chính quyền, giáo quyền, người đồng đạo, người khác đạo – bách hại, ném đá, chụp mũ, đưa ra tòa, truy nã từ thành này sang thành khác, đánh đòn ngay trong hội đường, đưa lên giàn hỏa, đóng đinh thập giá, v.v… Số phận của các ngôn sứ là như thế, như lời Đức Giêsu đã nói cách đây 2000 năm (xem Mt 5,12b; 23,34-35), vì nhân loại không thích đón nhận điều hay lẽ phải từ Thiên Chúa.

Ngôn sứ Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết vì đã ngăn cản tội lỗi của vua Hêrôđê
(Mc 6,17-29)

Tuy nhiên, nhờ có những ngôn sứ mà xã hội cũng như Giáo Hội mới thăng tiến, mới thấy được con đường phải đi. Chính nhờ thấy được sự thăng tiến đó mà người thế hệ sau mới biết họ là những ngôn sứ và phục hồi lại danh dự cho họ.

Những điều mà người ngôn sứ thấy và nói ra thường phải chờ một thời gian sau, thậm chí qua những thế hệ sau, xã hội hay Giáo Hội mới cảm nhận được, mới hiểu được [*2]. Lúc đó, người ngôn sứ đã thành người thiên cổ, và đã bị kết án, bạc đãi. Chính Chúa Giêsu, người ngôn sứ lớn nhất, đã bị người đồng thời, đồng đạo kết án là phá hoại tôn giáo, bị tra tấn và bị giết, và phải qua nhiều thế hệ sau, đại chúng mới nhận ra những điều Ngài nói, Ngài làm là tuyệt vời, là chân lý. Các ngôn sứ đích thực khác cũng phải chịu số phận tương tự như vậy.
[*2] Trong tiếng Việt, ngôn sứ còn được gọi là «tiên tri», là người biết trước, thấy trước, trước khi những người đồng thời với mình biết hay thấy được.
Chúng ta đừng tưởng mình sống vào thời Chúa Giêsu hay thời các ngôn sứ, chúng ta sẽ nhận biết các ngài và sẽ không ra tay ném đá các ngài. Chính những người Pharisiêu thời Chúa Giêsu đã từng tự hào như thế: «Nếu chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ» (Mt 23,30). Thực ra, chính lúc họ đặt vấn đề như vậy thì họ đã biết các ngôn sứ mà cha ông họ ném đá thời trước là những ngôn sứ của Thiên Chúa, và thấy những điều các ngài dạy thật chí lý. Nhưng tổ tiên của họ, những người sống đồng thời với các ngôn sứ ấy, đâu có thấy được điều các ngôn sứ ấy nói là đúng, là hợp lý như họ ngày nay, và đâu có biết được những vị ấy là ngôn sứ. Sở dĩ họ ném đá các ngôn sứ chính vì các ngài đã nói những điều chói tai họ, trái với quan niệm của họ, hay ngược lại những điều mà họ cho là chân lý bất di dịch, và cũng vì họ cho rằng bổn phận của họ là phải bảo vệ chân lý, nên phải chống lại và trừ khử những người xuyên tạc hay bóp méo chân lý.

Do đó, vấn đề mà chúng ta phải đặt ra hôm nay là một vấn đề hiện sinh, cho chính chúng ta và thời đại chúng ta đang sống, chứ không phải là vấn đề thuộc quá khứ đã qua từ lâu: thời nào cũng có ngôn sứ của thời đó, vì thời nào Thiên Chúa cũng kêu gọi − âm thầm hoặc công khai − một số người làm ngôn sứ cho Ngài. Như thế liệu ta có nhận ra được ngôn sứ của thời đại mình, đang sống đồng thời với mình không?

Ngôn sứ Giêsu, bị chính các tư tế Do Thái giáo giết chết
với sự hùa theo ủng hộ của đồng đạo

Hãy rút kinh nghiệm từ những người Pharisiêu thời Chúa Giêsu. Họ nghĩ rằng nếu họ sống vào thời các ngôn sứ đồng thời với tổ tiên họ, thì họ sẽ không ném đá các ngôn sứ. Chữ «nếu» của họ quả là cái nếu không thể xảy ra (irréel). Nhưng kìa, chính họ lại là những người ném đá những vị ngôn sứ đang sống đồng thời với họ, là Đức Giêsu-Kitô, Stêphanô, các tông đồ. Lý do? Cũng cùng một lý do như tổ tiên họ. Trường hợp Chúa Giêsu, họ nhân danh chân lý, nhân danh tôn giáo mà kết án và đóng đinh Chúa Giêsu. Đúng như lời Chúa Giêsu đã tiên báo trước: «Sẽ đến giờ mà kẻ giết anh em cũng tưởng rằng họ làm điều đó là phụng thờ Thiên Chúa» (Ga 16,2). Thật vậy, những người kết án và ra tay giết các ngôn sứ thường là vì lòng thành, vì quan niệm hẹp hòi của mình mà giết, tưởng rằng làm như thế là đẹp lòng Chúa, phù hợp với ý Chúa. Tương tự như những người kết án tử hình cho linh mục Brunô và án chung thân cho thầy dòng Galilê đều rất chân thành khi nhân danh Thiên Chúa hay chân lý mà làm như vậy. Vậy, nếu có những ngôn sứ đồng thời với ta, liệu chính ta có nhận ra họ không, hay ta sẽ nhân danh Thiên Chúa, nhân danh trách nhiệm bảo vệ chân lý mà tra tay ném đá họ, chỉ vì những lời họ nói làm chói tai ta?

Số phận của các ngôn sứ đích thực đã được Chúa Giêsu nói đến trong Tin Mừng: «Các ngôn sứ đã từng bị cha ông họ [*3] đối xử như thế» (Lc 6,23b), nghĩa là «bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa» (Lc 6,22). Số phận của các ngôn sứ và những người công chính thường là bị những người đồng thời với mình bạc đãi, nhưng lại được người thế hệ sau «xây mồ tô mả» [*4] phục hồi danh dự, tôn vinh. Chắc hẳn có nhiều người sẽ ngạc nhiên tự hỏi: ai cũng quí chân lý, quí sự thật, nhất là những người có nhiệm vụ bảo vệ chân lý, tại sao chính những người có thiện chí đối với chân lý lại bạc đãi hay giết các ngôn sứ là những người đến để làm chứng cho chân lý?
[*3] «Họ» ở đây là những người Pharisiêu. 
[*4] Xem Mt 23,29: «Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình! Các ngươi xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính. Các ngươi nói: "Nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ". Như vậy các ngươi tự làm chứng rằng các ngươi đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ. Thì các ngươi cứ đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các ngươi đi!».


Tại sao các ngôn sứ bị bạc đãi?

Chân lý chỉ có một và bất biến. Nhưng cái nhìn về chân lý, cách giải thích chân lý, thì mỗi người mỗi khác, mỗi thời mỗi khác. Cách nhìn, cách giải thích đó thay đổi tùy theo trình độ hiểu biết, điều kiện giáo dục của mỗi người mỗi thời. Nhưng người ta thường lầm lẫn những cách phát biểu, diễn tả hay trình bày chân lý, những hình thức biểu hiện của chân lý với chính chân lý. Vì thế, người ta quyết tâm bảo vệ tới cùng những thể hiện ấy của chân lý, những cách diễn tả, giải thích của họ về chân lý, và họ tưởng rằng họ đang bảo vệ chính chân lý.

Thực ra cái mà người ta tưởng là chân lý, quyết tâm bảo vệ và quan niệm là bất di dịch ấy chỉ là những cách biểu hiện hay diễn tả cá biệt và nhất thời của chân lý duy nhất và bất biến, để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của xã hội mỗi thời, và với quan niệm hay trình độ của con người vào thời điểm ấy. Khi hoàn cảnh lịch sử của xã hội đã thay đổi, và trình độ của nhân loại đã lên một nấc cao hơn, thì cách diễn tả hay cách biểu hiện cũ của chân lý không còn thích hợp nữa. Lúc ấy, Thiên Chúa sẽ gửi những ngôn sứ đến để trình bày chân lý một cách mới mẻ, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử xã hội đã thay đổi, với trình độ của người thời đại vốn đã cao hơn trước [*5].
[*5] Khi trình độ người nghe đã lên cao hơn mà ta vẫn cứ diễn tả và giải thích chân lý bằng những phương cách cũ thì e rằng người nghe khó chấp nhận và sẽ từ chối chân lý. Chẳng hạn, tuổi trẻ thời nay chịu ảnh hưởng tinh thần khoa học thực nghiệm, kỹ nghệ tiên tiến, mà ta lại trình bày chân lý theo kiểu giáo điều, kiểu «Magister dixit», kiểu «Tử viết», như thường được làm trong các thế hệ trước, thì quả là khó mà lọt được lỗ tai họ!
Chẳng hạn, Thiên Chúa là Đấng duy nhất và bất biến, nhưng cái nhìn của con người về Thiên Chúa thì thay đổi theo không gian và thời gian, tùy theo nền văn hóa và trình độ tâm linh của họ ở mỗi nơi mỗi thời [*6]. Cũng như chỉ có một người cha, nhưng quan niệm của mỗi đứa con về người cha thì khác nhau: đứa đã trưởng thành nhìn người cha khác với đứa còn nhỏ, đứa sống ở xa khác với đứa thường xuyên ở gần, đứa sinh trưởng ở ngoại quốc khác với đứa ở bản xứ… Có những khía cạnh của người cha mà đứa này thấy nhưng đứa kia không thấy, và ngược lại. Có những khía cạnh của người cha mà chỉ khi đứa con lớn lên, lấy vợ, có con rồi mới hiểu được, v.v… Mỗi đứa con đều có một cách nhìn, một cách diễn tả ít nhiều khác nhau, đôi khi ngược nhau về người cha. 
[*6] Chẳng hạn, về cái tôi hay bản ngã, người chịu ảnh hưởng triết lý Hy Lạp thường quan niệm ngôi vị (personne) là cái có trước ý thức và không thể phân chia khỏi ý thức, nghĩa là từ ngôi vị mới phát sinh ra ý thức, hiểu biết, và tất cả mọi năng lực khác. Vì thế, đối với họ, ngôi vị hay bản ngã là ưu phẩm hết sức quan trọng của một hữu thể cao cấp. Do đó, Thiên Chúa hay Thực Tại Tối Thượng phải có ngôi vị như thuộc tính căn bản nhất.
● Còn người chịu ảnh hưởng triết lý Đông Phương hay Ấn Độ thường quan niệm ý thức có trước, rồi sau đó ý thức ấy tự ý thức về chính mình mới phát sinh ra bản ngã. Vì thế, đối với họ, bản ngã không quan trọng và thường bị coi là huyễn, giả, nhất thời và có thể phân chia... Với họ, ý thức hay khả năng biết mới là căn bản. Do đó, thuộc tính căn bản nhất của Thực Tại Tối Thượng là biết. Còn hữu ngã hay vô ngã không phải là chuyện quan trọng. 
 
Nhưng rõ ràng không phải vì sự khác nhau hay ngược nhau trong cách nhìn về một vật duy nhất mà luôn luôn ta có thể bảo cách nhìn này đúng cách nhìn kia sai [*7]. Cách nhìn của một bác sĩ không thể giống cách nhìn của một nông dân, cách nhìn của người Đông Phương không thể giống cách nhìn của người Tây Phương, cách nhìn của một người lớn khó mà giống như cách nhìn của một đứa trẻ. 
[*7] Xin đan cử một minh họa: khi còn nhỏ, tôi uống bia thấy đắng nghét, thế mà bây giờ tôi uống bia lại thấy nó ngọt ngào làm sao! Vậy thì bây giờ tôi đúng hay lúc nhỏ tôi đúng? Tương tự như vậy đối với mùi vị của trái sầu riêng, rau giấp cá...: khi chưa biết ăn thì thấy hôi, tanh, khi biết ăn rồi lại thấy thơm, ngon. Sự vật thì chỉ là một, nhưng nó phản ảnh cách khác nhau nơi mỗi người, mỗi dân tộc, thậm chí mỗi giai đoạn trong cùng một con người.
Nhân loại cũng như một con người, cũng có thời là trẻ con, có thời lớn lên, và có thời làm người lớn. Thánh Phaolô nói về cách suy nghĩ khác nhau của cùng một con người: «Khi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, tôi hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con» (1Cr 13,11). Về chân lý, khi nhân loại còn là «trẻ con», Thiên Chúa phải nói với họ như nói với «trẻ con», theo cách đơn sơ và dễ hiểu của «trẻ con». Nhưng khi nhân loại lớn hơn một chút, Thiên Chúa lại phải nói với họ theo cách «lớn hơn một chút». Và khi nhân loại đã thành «người lớn», Thiên Chúa lại phải dạy họ theo cách phù hợp với trình độ «người lớn» của họ. Đó là phương pháp sư phạm của Thiên Chúa. Thiên Chúa không thể nói cho nhân loại còn trẻ con những điều mà Ngài có thể nói cho nhân loại người lớn được. Chính Chúa Giêsu có nói: «Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi» (Ga 16,12) [*8].
[*8] Khả năng hiểu biết của con người phát triển một cách hết sức tiệm tiến, do đó, họ không thể thấy ngay sự hợp lý của vấn đề. Ta thấy: có rất nhiều điều hiện nay ta chấp nhận dễ dàng và thấy được lý đương nhiên của chúng, nhưng những điều ấy quả là khó hiểu và rất khó chấp nhận đối với não trạng của những người sống cách đây 2, 3 trăm năm. Phải mất hàng thế kỷ người xưa mới nhận ra những điều mà sau này người ta tưởng chừng rất đơn giản và dễ hiểu.
Thiên Chúa ít khi trực tiếp dạy dỗ chỉ bảo con người, mà thường chỉ gián tiếp dạy dỗ, chỉ bảo họ qua các ngôn sứ của mỗi thời đại. Thời đại nào cũng có những người được kêu gọi làm ngôn sứ, hoặc hữu danh hoặc vô danh. Chân lý chỉ có một, không thay đổi, nhưng cách giải thích thì phải tùy theo trình độ của người nghe mà thay đổi. Cũng như môn toán chỉ có một, nhưng dạy toán cho các em cấp hai cấp ba thì phải khác với dạy cho các bé cấp một, và đương nhiên dạy cho sinh viên đại học và cao học thì nội dung và phương cách dạy càng phải khác nữa. Phương cách và nội dung cho hai trình độ khác nhau rất có thể xem ra mâu thuẫn nhau, khiến cho những người chấp cứng vào những điều đã học cũ không thể chấp nhận được những điều mới học. Nếu đã chấp nhận cái cũ là đúng thì dường như phải phủ nhận cái mới, và ngược lại.

Thật vậy, một khi nhận điều đã học cũ là đúng, là không thể thay đổi, thì nếu ta thấy ai dạy một điều mới dường như ngược với điều cũ, ắt nhiên ta sẽ cho họ là sai lầm, xuyên tạc, phản chân lý. Chẳng hạn, một em cấp một học toán, thì thầy giáo dạy em rằng không được lấy số nhỏ trừ số lớn, em nào làm như vậy là phi lý và sẽ bị phạt. Nhưng khi lên cấp hai, em bắt đầu phân biệt số âm và số dương, em sẽ thấy thầy giáo lại cho phép em lấy số nhỏ trừ số lớn mà vẫn coi là hợp lý. Nếu em không hiểu số âm là gì và cứ cố chấp vào điều thầy giáo cấp một đã dạy, thì em sẽ cho rằng thầy giáo cấp hai dạy sai [*9].
[*9] Em học cấp hai mà hiểu biết, sẽ thấy thầy dạy cấp một cũng đúng, và thầy dạy cấp hai cũng đúng. Nhưng thầy cấp hai đúng ở trình độ cao hơn, hoàn chỉnh hơn.
Cũng vậy, thời Cựu Ước, trình độ tâm linh và nhận thức của nhân loại còn kém, mọi lề luật tôn giáo đều xây dựng trên sự sợ hãi, lấy sự thưởng phạt làm động lực hành động, và chỉ cần áp dụng đúng y như lề luật dạy thì được coi là công chính, vì người thời ấy chưa đủ trình độ để nhận định cao hơn. Nhưng tới thời Chúa Giêsu, thời Tân Ước, sau mười mấy thế kỷ tập sống công chính theo động lực thấp thỏi ấy, nhân loại dần dần có khả năng tiến lên một mức độ cao hơn về tâm linh và tri thức. Vì thế, đến lúc thích hợp để đưa Dân Chúa lên trình độ tâm linh cao hơn, thì Chúa Giêsu đã trình bày cho họ một luật mới xây trên nền tảng cao hơn là tình yêu.

Luật mới, luật yêu thương, đã hoàn chỉnh và thay thế luật cũ. Lúc đó, ai còn sống theo tinh thần cũ − tinh thần sợ hãi − thì kể là sai, không được coi là công chính [*10]. Cũng như một người cha khi đứa con còn nhỏ, thì chỉ giáo dục con bằng sự thưởng phạt: hễ vâng lời hay làm đúng y như cha mẹ nói thì được thưởng và được coi là ngoan, nếu không vâng lời hay làm sai lời của cha mẹ thì bị phạt và bị coi là xấu. Đứa trẻ hành động (học hành, giúp đỡ cha mẹ…) vì ham thưởng sợ phạt chứ không vì nhận thức được sự cần thiết của công việc. Nhờ đó, trong khi chưa đủ lý trí để tự nhận định điều tốt điều xấu, đứa trẻ vẫn phát triển tốt đẹp vì nó vẫn làm điều tốt và tránh điều xấu. Nhưng khi đứa trẻ đã lớn, đã có ý thức và hiểu biết, thì chúng hành động theo sự thúc đẩy của hiểu biết, của lý tưởng, của tình yêu, chứ không vì sự thưởng phạt của người cha nữa. Chẳng hạn nó tự động học hành không cần sự kiểm soát của cha mẹ vì nó thấy việc học rất cần thiết và ích lợi cho tương lai của nó, chứ không học vì điểm hay vì sợ bị la rầy. Nếu đã lớn mà nó vẫn hành động vì ham thưởng sợ phạt, thì việc giáo dục kể như không thành công.
[*10] Xem 1Cr 13,6: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì chẳng ích lợi gì cho tôi».
Cuộc cách mạng táo bạo của Chúa Giêsu đã làm cho những người trung thành một cách hẹp hòi và cố chấp với truyền thống tôn giáo cũ hiểu lầm và coi Ngài là người phá hoại tôn giáo, đồng thời lên án giết chết Ngài. Thật ra, Ngài không hề phá hoại, mà trái lại chỉ làm cho lề luật trở nên hoàn chỉnh hơn [*11]. Nhưng phải nhiều thế hệ sau người ta mới nhận ra điều ấy, mới thấy Chúa Giêsu là chân lý mà tôn vinh Ngài. Bây giờ, trong số những người tôn vinh Ngài và kết án những kẻ đã giết Ngài ngày xưa, chắc chắn có những người sẵn sàng «ném đá» những ngôn sứ đang sống đồng thời với mình đây. Dòng đời cứ xảy ra như thế mãi! [*12]
[*11] Ngài tuyên bố: «Thầy đến không phải để bãi bỏ mà để kiện toàn» (Mt 5,17). Vào thời mới, trình độ tâm linh của con người phải lên cao hơn một bậc, cho nên: «nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisiêu thì sẽ chẳng được vào Nước Trời» (Mt 5,20). Và trong đoạn Tin Mừng tiếp theo (Mt 5,21-47), Chúa Giêsu đã làm làm sáng tỏ vấn đề bằng những so sánh giữa tinh thần luật cũ và luật mới. 

[*12] Chúng ta có thể tự hỏi: nếu Chúa Giêsu lại nhập thể lần nữa vào trong thế giới hiện nay, cụ thể là tại Việt Nam, để nâng trình độ tâm linh và nhận thức của con người lên một mức cao hơn, thì người ta có nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa không? những ai sẽ nhận ra và theo Ngài? phần đông thuộc giới nào? lời nói của Ngài có dễ chấp nhận không? Ngài có bị thù ghét, bị kết án là phá hoại và bị giết không? Nếu có thì bởi tay ai? thuộc giới nào? Tại sao? ... Dostoievsky đã đề cập đến vấn đề này trong cuốn Anh em nhà Karamazov trong câu chuyện nói về vị phán quan.
«Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ.
Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn
»
(Mt 5,17)

Số phận của những ngôn sứ đích thực là như thế! Thường bị hiểu lầm và bạc đãi! Thời Chúa Giêsu, chỉ có các tư tế, các rabbi, những người Pharisiêu, là những người có trách nhiệm bảo vệ chân lý, cũng là những người được thế gian ưu đãi. Họ có một sứ mạng mà ai cũng phải nhận là cao quí: bảo vệ tôn giáo và chân lý! Từ sứ mạng đó, họ mặc nhiên nhận được địa vị, cùng với quyền, lợi, danh để có đủ điều kiện thi hành sứ mạng họ đã lãnh nhận. Tiếc thay, vì cứ khư khư ôm lấy những hình thức diễn tả chân lý mình đã học được, nhận lãnh được từ người xưa, nên họ đã giết Chúa Giêsu. Một lý do quan trọng khác: nếu Ngài tồn tại, gây ảnh hưởng trên dân chúng, thì quyền lợi của họ bị tổn thương?

Những người có nhiệm vụ bảo vệ chân lý này rất cần thiết cho tôn giáo hay xã hội, vì nhờ họ mà giềng mối, xã tắc mới được bảo vệ, truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa mới được duy trì. Nhưng nếu không khéo, nếu họ quá bảo thủ, thì chính họ sẽ là người hạn chế hay giết chết đà phát triển của chân lý, bóp nghẹt sự hoạt động của Thánh Thần. Thực ra, bảo vệ và phát triển di sản chân lý là hai chức năng rất cần thiết cho xã hội và Giáo Hội. Hai chức năng này − thường dễ xung khắc nhau − cần phải hỗ trợ nhau, cộng tác với nhau hơn là triệt tiêu lẫn nhau. Để được như thế, cả hai bên cần phải tìm hiểu nhau, thông cảm nhau, khoan nhượng lẫn nhau, và luôn luôn coi sự đoàn kết hay hiệp nhất là quan trọng hơn hết.

Kiện toàn là thay đổi, là cải thiện, để lề luật nên hoàn hảo hơn.
Chính vì sự thay đổi này mà những kẻ cho lề luật Thiên Chúa là bất biến,
là không được phép thay đổi, đã giết chết Ngài.
(Quả thật, luật của Tân Ước hoàn hảo hơn của Cựu Ước)


Thái độ nên có

Đã là ngôn sứ hay tiên tri thì ít ra là phải thấy trước, biết trước, và đi trước thời đại. Đang khi mọi người chưa thấy thì mình đã thấy vấn đề. Có thể do trực giác hay một tài năng đặc biệt nào đó Thiên Chúa ban cho. Và người ngôn sứ cảm thấy có bổn phận phải giúp ích cho xã hội hoặc tôn giáo hay Giáo Hội của mình theo sự nhận định, hiểu biết của mình. Nhưng không phải lúc nào mình chia sẻ điều mình thấy, điều mình biết cho người khác thì cũng được mọi người hưởng ứng, vì những người khác chưa thể thấy được như mình. Và điều mình thấy không hẳn lúc nào cũng dễ dàng truyền đạt [*13]. Có những điều nói ra thì bất kỳ người đương thời nào cũng cho là phi lý, không thể chấp nhận, phải chờ nhiều thế hệ sau mới thấy, hiểu được. Do đó, người ngôn sứ rất dễ bị người đồng thời hiểu lầm, kết án, nhất là bởi những giới có thẩm quyền, nên người ngôn sứ thường cảm thấy mình cô độc [*14].
[*13] Nếu dễ dàng truyền đạt thì Chúa Giêsu và các ngôn sứ đã không bị giết, Brunô và Galilê đã không bị kết án oan ức... 

[*14] Chẳng hạn, nếu vào thời của Công Đồng Trente, Vatican I, có ai tuyên bố trước những luận điểm của Công Đồng Vatican II, chắc chắn người ấy sẽ bị kết án rối đạo, bị vạ tuyệt thông vì giới có thẩm quyền thời ấy không thể chấp nhận được. Và chắc hẳn có nhiều điều hiện nay nếu tuyên bố thì sẽ bị kết án, nhưng vài chục năm sau lại được coi là hiển nhiên.
Người ngôn sứ càng nhiệt thành xây dựng xã hội và Giáo Hội thì càng nôn nóng muốn thay đổi, cải cách xã hội và Giáo Hội theo đường lối mà mình nhận ra là thích hợp nhất, có lợi nhất. Nhưng người ngôn sứ thường không phải là người có thẩm quyền để có thể tự ý thay đổi. Muốn thay đổi, người ngôn sứ phải làm sao để những người có thẩm quyền thấy được sự cần thiết phải thay đổi và thay đổi thế nào. Nhưng những người này nếu chưa nhìn ra, chưa nắm vững hay xác tín vào đường hướng người ngôn sứ đề ra thì làm sao họ dám thay đổi. Họ không dám thay đổi là điều hợp lý, vì họ mang trọng trách lớn lao. Vấn đề của người ngôn sứ là phải làm thế nào để mọi người cũng nhìn ra được vấn đề như mình. Do đó, người ngôn sứ phải nói, viết, rao giảng. Nhưng phải nói, viết, rao giảng làm sao để có nhiều hiệu quả nhất. Và nếu không có hiệu quả thì cũng không nên tỏ ra bất mãn để rồi trở thành một nhân tố phá hoại bằng cách tố cáo, nói xấu, làm mất uy tín những người lãnh đạo, hay tạo ra một giáo phái mới, làm mất sự hiệp thông một cách nặng nề cho Giáo Hội.

Chúng ta thấy trong xã hội cũng như Giáo Hội, có những người thấy trước thời đại. Chẳng hạn trong lãnh vực khoa học, có Copernic, Galilê, Darwin, Mendel…, trong lãnh vực tôn giáo, có Chúa Giêsu, các tông đồ, các ngôn sứ trong Cựu Ước, các nhà thần học hay các nhà tư tưởng như Luther, Teilhard de Chardin, Karl Rahner, Yves Congar, Roberto de Nobili… Phải qua các thế hệ sau, tư tưởng hay chủ trương của các vị này mới được nhìn nhận là đúng đắn. Nhưng thái độ của các vị này đối với những người có thẩm quyền thì khác nhau, dẫn đến những hậu quả lợi hại khác nhau. Chúng ta thử đưa ra hai thái độ điển hình:

Thái độ của Luther [*15] : Rất nhiều điều Luther suy nghĩ và chủ trương, hiện nay ai cũng cho là đúng, và Giáo Hội sau Công Đồng Vatican II cũng đã thực hiện nhiều điều mà Luther đã đề nghị từ mấy thế kỷ trước: như phổ biến Kinh Thánh cho mọi Kitô hữu, dịch Kinh Thánh ra mọi thứ tiếng để mọi người trên thế giới có thể đọc và hiểu được [*16], cho cử hành các lễ nghi phụng vụ bằng tiếng bản xứ [*17], và một số những đề nghị hợp lý khác… Nhưng thời ấy những đề nghị cải cách của Luther chẳng những không được giới thẩm quyền chấp nhận, mà còn kết án ông, nên ông đã tách rời khỏi Giáo Hội, lập nên một giáo phái mới, đạo Tin Lành. Đạo này được rất đông đảo người theo, khiến cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội bị sứt mẻ trầm trọng chưa biết đến bao giờ mới sửa chữa lại được. Bây giờ nhìn lại quá khứ, chúng ta nhận thấy những vị lãnh đạo Giáo Hội thời ấy đã quá cứng rắn và có phần nào cố chấp, còn Luther thì quá nóng ruột và tích cực trong việc cải cách Giáo Hội, nhưng không được chấp nhận nên sinh ra bất mãn. Thế là hai cái sai của cả đôi bên đã gộp thành một cái sai hết sức lớn và nghiêm trọng.
[*15] Martin LUTHER (1483-1546), tu sĩ dòng Augustin, làm linh mục năm 1507, đậu tiến sĩ thần học, giáo sư Đại học Wittenberg (Đức), bản chất rất nhiệt thành, đạo đức, sống cuộc đời khổ hạnh. Trong chuyến công tác ở Rôma năm 1510, ông thấy chướng mắt vì nếp sống trong triều đình Giáo Hoàng và ông tham gia cuộc bút chiến về vấn đề ân xá, chống lại thẩm phán tòa án tôn giáo Tetzel (ông này bán «ân xá» cho những kẻ ngây thơ tưởng rằng nhờ thế mà họ được tha tội). Chẳng bao lâu sau, Luther công khai chống lại Giáo Hoàng. Ông đề nghị một cuộc tranh luận về chín mươi lăm điểm, được ông niêm yết ở cửa nhà thờ Wittenberg (1517). Sau ba năm tranh cãi, Giáo Hoàng Lêô X ra sắc lệnh rút phép thông công ông, Luther long trọng đốt sắc lệnh giáo hoàng trên công trường Wittenberg. Cuộc đổ vỡ vô phương cứu chữa. Ông bắt đầu dịch Thánh Kinh sang tiếng Đức (lúc đó Giáo Hội cấm dịch Thánh Kinh). Năm 1525, ông cưới một nữ tu trẻ tên Catherine de Bora, và dành những năm còn lại để viết sách xây dựng và bênh vực các luận cứ của đạo Tin Lành, xác định các giáo luật của ông. Ông đã lập nên Giáo hội Tin Lành tách rời khỏi Giáo Hội Công giáo Rôma.  
[*16] Thời Luther, chỉ giới linh mục tu sĩ mới được đọc Kinh Thánh, giáo dân không được phép vì có nguy cơ họ hiểu Kinh Thánh một cách sai lạc. Và chỉ có bản dịch Kinh Thánh Vulgata bằng tiếng Latinh là được coi như có linh hứng và trung thực với bản gốc bằng tiếng Do Thái hay Hy Lạp. Giáo Hội e rằng các bản dịch khác không đúng, có nguy cơ làm người ta sai lạc. Giáo Hội đề phòng như thế là hợp lý, vì lúc đó trình độ nhận thức của người Kitô hữu không cao như hiện nay. Nhưng nếu cứ đề phòng mãi như thế, kể cả khi trình độ người tín hữu đã lên cao, thì sẽ không hợp lý.  
[*17] Phụng vụ trước Công Đồng Vatican II đều phải làm bằng tiếng Latinh, là ngôn ngữ chính thức duy nhất của Giáo Hội, để giữ tính hiệp nhất và bảo đảm không sai lạc.
Nhưng thái độ của cha Roberto de Nobili và cha Mateo Ricci lại khác [*18]. Các ngài là những nhà truyền giáo chủ trương hội nhập văn hóa một cách triệt để. Nhưng thời đó, đường lối của các ngài còn rất mới, rất lạ lẫm đối với giới lãnh đạo Giáo Hội. Vì thế, các ngài cũng bị kết án, bị hiểu lầm, hàm oan, nhưng các ngài vẫn luôn luôn trung thành với Giáo Hội, vâng phục quyền bính của cấp lãnh đạo. Bây giờ, ai cũng nhận ra chủ trương, đường lối của các ngài là đúng đắn, cần thiết. Chính các giáo hoàng sau này đã phục hồi danh dự cho các ngài và đi theo đường lối của các ngài. Cái hại do giới lãnh đạo Giáo Hội gây ra thời đó do không theo đường lối của các ngài tuy rất lớn, nhưng chắc chắn sẽ nhỏ hơn cái hại gây ra nếu các ngài bất mãn với giới lãnh đạo và tách rời cộng đoàn của mình ra khỏi Giáo Hội. Các ngài đã chấp nhận cái thiệt hại nhỏ để tránh cho Giáo Hội cái thiệt hại lớn hơn.
[*18] Roberto de NOBILI và Mateo RICCI, là hai thừa sai dòng Tên người Ý chủ trương hội nhập văn hóa rất mạnh. Nobili truyền giáo ở Ấn độ, còn Ricci tại Trung Hoa. Năm 1744, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XIV kết án phương pháp truyền giáo của Nobili. Việc truyền giáo của Ricci tại Trung Hoa cũng bị thất bại vì chẳng những không được giới lãnh đạo Giáo Hội ủng hộ, mà còn bị kết án và phá đổ nữa. Nhưng Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958) khi lên ngôi vào năm 1939, đã xét lại những quyết định của các Giáo Hoàng trước, và đã công nhận lập trường của hai linh mục Ricci và Nobili là đúng đắn và nên theo.
Người có trách nhiệm làm ngôn sứ cũng như những người có trách nhiệm lãnh đạo xã hội và Giáo Hội, cần phải rút kinh nghiệm từ lịch sử, từ những người đi trước. Không thể lấy cái sai đáp lại một cái sai mà thành một cái đúng được. Hai cái sai cộng lại sẽ có sức phá hoại bằng trăm cái sai riêng lẻ khác. Để đáp lại một cái sai, − dù là người trên đáp lại cái sai của người dưới hay người dưới đáp lại cái sai của người trên, − phải dùng một cái đúng, thậm chí đúng gấp nhiều lần những cái đúng khác mới có thể hóa giải được cái sai nguyên thủy. Không gì đúng bằng khiêm nhường, ôn hòa, dịu hiền, mềm dẻo, kiên nhẫn, lắng nghe, phục thiện, và chờ đợi, nhưng đồng thời vẫn phải trung thành với sứ mạng của mình.

Còn đối với giới lãnh đạo, trước một ý kiến khác lạ của những người tương đối có trí tuệ và đạo đức, tuy mình chưa thể chấp nhận được, thậm chí còn nghĩ đó là rối đạo, sai lầm, có hại, thì cũng nên thận trọng, đừng vội kết án, đừng làm mất danh dự của họ. Nếu cần thì bảo họ cứ nghiên cứu đào sâu thêm vấn đề, chứ đừng vội tuyên bố những vấn đề ấy với công chúng, e có hại. Vì rất có thể mình chưa thấy ngay sự hợp lý của họ, mà đôi khi phải qua thế hệ sau những người có trách nhiệm như ta mới hiểu và chấp nhận được, như kinh nghiệm lịch sử từng cho thấy. Vả lại, kết án có thể chỉ là cách dở nhất để sửa chữa một cái sai [*19], nó có nguy cơ dồn người dưới vào thế tách rời khỏi Giáo Hội vì bất mãn. Không nên dùng quyền bính để áp đặt. Dùng tình thương để cải hóa thì tốt hơn dùng quyền bính rất nhiều. Trong mọi trường hợp, phải coi việc bảo vệ sự hiệp thông, hiệp nhất và tình yêu thương là quan trọng hơn việc thống nhất đức tin hoặc luân lý trong những chuyện tiểu tiết [*30]. Việc kết án vội vàng rất có thể sai lầm như đã từng thấy nhiều lần trong lịch sử Giáo Hội khiến cho các vị có thẩm quyền thuộc những thế hệ sau phải xét lại, sửa chữa lại. Nếu sự kết án ấy là sai lầm thì uy tín của người lãnh đạo sẽ bị sứt mẻ và có thể gây thiệt hại cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội, đồng thời khiến cho lời tiên báo của Chúa Giêsu về số phận của người ngôn sứ lại thêm một lần ứng nghiệm.
[*19] Theo DALE CARNEGIE trong cuốn Đắc Nhân Tâm của ông thì không ai tự nghĩ xấu về mình. Ai cũng tự nghĩ tốt cho mình dù là kẻ xấu nhất trong nhân loại. Ai cũng nghĩ rằng mình đúng cho dù là kẻ sai nhất trong nhân loại. Ai cũng có nhiều lý lẽ để cho rằng mình là người tốt, người đúng. Vì thế, những lời chỉ trích hay kết án chỉ gây nên thù hận và làm cho nạn nhân tìm cách chỉ trích hay kết án lại ta, và họ sẽ có những lý chứng để làm điều đó. Tốt nhất nên dùng tình cảm, lời khuyến khích và khen ngợi để chinh phục. 
[*20] Thiết tưởng có nhiều vấn đề cứ để tự do suy nghĩ thì cũng chẳng hại chi. Chẳng hạn tin rằng Chúa Thánh Thần nhiệm xuất bởi Chúa Cha và Chúa Con, hay bởi Chúa Cha qua Chúa Con thì trong thực tế chẳng có gì khác biệt lắm. Chắc chắn không vì chuyện tin thế này hay thế kia mà người tin sẽ nhận hay không lãnh nhận được ơn của Chúa Thánh Thần. Trong lịch sử, nhiều tín điều được xác định một cách kiên quyết cho thấy: cái hại do việc tin khác nhau trong tiểu tiết thì chưa thấy, nhưng cái hại do sự mất hiệp nhất thì thật là rõ ràng và lớn lao. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy: dường như càng cố thống nhất đức tin trong tiểu tiết thì càng làm mất đi sự hiệp nhất. Cũng nên nghiêm túc tự hỏi: có bao nhiêu tín điều thật sự gây ảnh hưởng và hậu quả khác biệt trong đời sống thiêng liêng giữa việc tin và không tin? và có bao nhiêu tín điều không gây ảnh hưởng gì đáng kể? Hãy so sánh về con số giữa hai loại tín điều ấy, và so sánh giữa cái lợi và cái hại khi tuyên bố những tín điều «vô tội vạ» ấy?
Còn người ngôn sứ khi đề nghị điều gì với giới có thẩm quyền, cần kiên nhẫn chờ đợi. Cứ làm việc hết sức mình, phần còn lại để Thánh Thần Chúa làm. Sự thật bao giờ cũng cần được thời gian thử thách, vì biết đâu rằng đề nghị của mình là sai lầm và có hại! Trong mọi trường hợp, nên tránh tất cả những gì làm sứt mẻ sự hiệp nhất, hoặc làm cho quan hệ giữa mình và Giáo Hội trở nên xấu. Hãy ý thức Giáo Hội là Mẹ mình, là người đã sinh thành nên mình về mặt thiêng liêng. Dù Mẹ mình có thế nào thì cũng là Mẹ mình, là người mà mình có bổn phận phải yêu thương, kính trọng. Vì thế, trong bất cứ tình huống nào, người ngôn sứ không bao giờ nên có thái độ vô lễ, xấc xược, bất mãn hay bất cần đối với Mẹ Giáo Hội… mà luôn luôn nên tìm những lời lẽ dịu dàng nhất, tình cảm nhất, khéo léo nhất để nói lên lòng hiếu thảo của mình. Chắc chắn làm như thế thì công việc làm ngôn sứ sẽ hữu hiệu hơn là một thái độ cứng rắn, thuần lý luận, thiếu tình cảm. Dù cha mẹ ta có sai hay tệ đến mức nào, thì không ai có thể chấp nhận việc ta tỏ ra vô lễ xấc xược với các ngài dù trong cảnh ngộ nào đi nữa. Tuyệt đối không nên thóa mạ, nói xấu, hay làm giảm uy tín của cha mẹ mình.

Nên nhớ: sứ mạng ngôn sứ của ta không quan trọng bằng sứ mạng xây dựng sự hiệp nhất, tình huynh đệ yêu thương trong xã hội hay Giáo Hội. Người ngôn sứ chỉ là ngôn sứ đích thực đến từ Thiên Chúa khi luôn luôn đặt nặng sự hiệp nhất và quan hệ yêu thương với mọi người hơn cả chính sứ điệp của mình. Và chỉ với cách đó, sứ điệp của mình mới được mọi người chấp nhận một cách nhẹ nhàng và tốt đẹp.

Đó là những thái độ cần thiết mà người làm ngôn sứ cần có khi xây dựng xã hội và Giáo Hội.


Nguyễn Chính Kết


Share:

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2018

TN4 - Luật nền tảng nhất mà không tuân giữ, thì việc tuân giữ những điều luật khác đều vô giá trị




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 4 Thường Niên
(28-1-2018)

Lễ Dâng Chúa Giêsu trong đền thánh


Luật nền tảng nhất mà không tuân giữ,
thì việc tuân giữ những điều luật khác đều mất giá trị




ĐỌC LỜI CHÚA

  Ml 3,1-4: (1) Này Ta sai sứ giả Ta đến dọn đường trước mặt Ta.

  Dt 2,14-18: (17) Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín.


  TIN MỪNG: Lc 2,22-32

Tiến dâng Đức Giêsu cho Thiên Chúa

(22) Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa (23) như đã chép trong Luật Chúa rằng: «Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa», (24) và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. 

(25) Hồi ấy ở Giêrusalem, có một người tên là Simêôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ítraen, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. (26) Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Đức Chúa. (27) Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, (28) thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: (29) «Muôn lạy Chúa, giờ đây, theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. (30) Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ (31) Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: (32) Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ítraen Dân Ngài». 



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Gia đình của Đức Giêsu tôn trọng lề luật như thế nào? Tại sao phải tôn trọng lề luật? 
2. Các kinh sư Do Thái là những người giữ các luật tôn giáo một cách rất nhiệm nhặt. Họ có vì thế mà trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa không?  
3.  Các kinh sư và Pharisêu giữ luật nhiệm nhặt như thế, tại sao Đức Giêsu lại nói họ không hề giữ luật của Thiên Chúa? Bạn rút ra được bài học gì cho việc giữ luật của bạn?  
4. Tình yêu và lề luật, cái nào là mục đích, cái nào là phương tiện? Cái nào làm cho bạn trở nên công chính, thánh thiện? 


Suy tư gợi ý:

1. Đức Maria và thánh Giuse tôn trọng lề luật

Bài Tin Mừng cho thấy Đức Maria và thánh Giuse đã chu toàn những tập tục của luật Môsê liên quan đến việc hạ sinh Đức Giêsu. Luật Môsê qui định tất cả các trẻ nam đều phải cắt bì và đặt tên vào ngày thứ 8 sau khi chào đời (x. Lv 12,3; Lc 1,59-60; 2,21). Khi được 1 tháng tuổi, trẻ phải được đem tới đền thờ để làm lễ chuộc lại con, vì mọi con đầu lòng – dù là người hay là thú vật – đều phải tiến dâng cho Thiên Chúa, vì nó thuộc về Ngài, rồi phải chuộc nó lại từ Thiên Chúa (x. Xh 13,2.12-13; Ds 18,15-16). Nếu sinh con trai thì khi nó được 40 ngày, hoặc nếu sinh con gái thì khi nó được 80 ngày, người mẹ phải làm lễ tẩy uế, và phải dâng lễ toàn thiêu bằng một con chiên con, người nghèo có thể thay thế bằng một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non như Đức Maria đã làm (x. Lv 5,7; 12,8). 

Mặc dù biết Đức Giêsu, con của mình, là Con Thiên Chúa, Đức Maria và thánh Giuse vẫn tuân thủ tất cả những gì lề luật đòi buộc. Đó là một gương mẫu cho chúng ta. 



2. Vấn đề: có nên giữ luật như các kinh sư Do Thái không? 

Như vậy là chúng ta phải nghiêm chỉnh tuân giữ lề luật. Nhưng một vấn đề rất cụ thể và hết sức thiết thực đặt ra cho chúng ta là: các kinh sư Do Thái, những người Pharisêu, nổi tiếng là giữ luật một cách nhiệm nhặt, nhưng lại bị Đức Giêsu chê trách rằng họ chẳng hề tuân giữ lề luật. Thật vậy, Đức Giêsu đã từng tuyên bố với các kinh sư Do Thái rằng: «Ông Môsê đã chẳng ban Lề Luật cho các ông sao? Thế mà không một ai trong các ông tuân giữ Lề Luật!» (Ga 7,19). Stêphanô cũng nói với các kinh sư Do Thái tương tự như thế trước khi bị họ ném đá chết: «Các ông là những người đã lãnh nhận Lề Luật do các thiên sứ công bố, nhưng lại chẳng tuân giữ» (Cv 7,53). 

Vậy phải giữ luật như thế nào mới được gọi là thật sự giữ luật? mới đẹp lòng Thiên Chúa? mới trở nên thánh thiện đích thực? 



3. Cần phân biệt luật tổng quát và luật chi tiết

Trong tôn giáo, lề luật là những điều mà mọi tín đồ phải thực hiện hay tuân giữ để thực hiện tinh thần hay mục đích của tôn giáo: nên trọn lành, được cứu rỗi. 

Luật lệ gồm hai phần mà chúng ta cần phân biệt: 

1) Phần tinh thần, mang tính tổng quát, nền tảng, phát xuất từ Thiên Chúa. Phần này – tương tự như hiến pháp trong một quốc gia – là những nguyên tắc tổng quát, nhưng hết sức quan trọng. Có thực hiện được những nguyên tắc tổng quát này thì mới đạt được mục đích của tôn giáo. Trong Kitô giáo, có hai nguyên tắc tổng quát nhất là: «Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình» (Lc 10,27); «Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy» (Mt 22,40). 

Hai nguyên tắc nền tảng này đã được thánh Phaolô và Giacôbê tổng hợp lại thành một nguyên tắc duy nhất: «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật (…) Yêu thương là chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8.10); «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô» (Gl 6,2); «Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gc 2,8). Chính Đức Giêsu cũng tuyên bố rất rõ ràng: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,35). 

2) Phần cụ thể, mang tính chi tiết, thường do con người lập nên bằng cách suy diễn từ những điều luật tổng quát trên cách áp dụng cụ thể những điều luật ấy trong mọi tình huống của đời sống con người. Phần này – tương tự như luật pháp trong một quốc gia – gồm những điều luật cụ thể giúp thể hiện một cách chi tiết những điều luật tổng quát (trong quốc gia là hiến pháp). 

Kitô giáo có vô số điều luật – trong giáo luật cũng như trong từng lãnh vực của tôn giáo – nhằm cụ thể hóa và chi tiết hóa hai luật căn bản và tối thượng là «mến Chúa, yêu người» nói trên. Mọi Kitô hữu đều phải cố gắng thực hiện những qui định mang tính chi tiết này, để nhờ đó thực hiện cách hoàn hảo hai nguyên tắc tổng quát trên. 



4. Giá trị của hai thứ luật trên

Những điều luật căn bản, mang tính tổng quát thì có giá trị tuyệt đối, con người phải thực hiện trong bất kỳ tình huống nào, và không hề có luật trừ. Đó là luật phát xuất từ Thiên Chúa. Theo tinh thần của đoạn Tin Mừng Mt 25,31-46 thì Thiên Chúa chỉ phán xét con người theo điều luật căn bản và tối thượng này của Ngài mà thôi. 

Những điều luật mang tính chi tiết đều phải nhằm giúp con người thực hiện điều luật căn bản và tối thượng trên trong những tình huống cụ thể của đời sống. Do đó, chúng chỉ có giá trị nếu phù hợp với luật tối thượng ấy, và việc tuân thủ những luật chi tiết này chỉ có giá trị nếu phù hợp với luật tối thượng trên. Do đó, bất cứ điều luật chi tiết nào nếu đem áp dụng trong những hoàn cảnh cụ thể mà phản ảnh đúng hay phù hợp với những nguyên tắc tổng quát trên, thì người tín hữu buộc phải tuân giữ. Trái lại, nếu trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, việc áp dụng những luật cụ thể này lại đi ngược lại tinh thần của điều luật nền tảng trên, thì trong hoàn cảnh cụ thể ấy, người tín hữu không buộc phải tuân theo.

Chính Đức Giêsu đã sẵn sàng lỗi luật ngày sabát khi mà việc giữ luật chi tiết này hóa ra lại vi phạm luật tối thượng là luật yêu thương (x. Mt 12,1-8; 9-14; Lc 13,10-17; 14,1-6; Ga 5,1-18; 9,1-41). Vì khi soạn ra những điều luật chi tiết này, không ai có thể nghĩ ra hết tất cả những trường hợp luật trừ, là những trường hợp mà tuân hành những luật này sẽ trở nên vi phạm những lề luật cao hơn hay tổng quát hơn.

Trong hiến pháp của một quốc gia thường có một khoản qui định rằng bất cứ một điều khoản nào trong luật pháp mà đi ngược lại tinh thần của bất kỳ một điều khoản nào trong hiến pháp, thì điều khoản trong luật pháp ấy trở thành vô giá trị, không phải tuân giữ. Hiến pháp mới là căn bản, luật pháp chỉ là công cụ hay phương tiện để thể hiện hay thực hiện hiến pháp mà thôi. 

Vậy chúng ta cần phải tập trung quan tâm vào việc thực hiện điều luật căn bản và tối thượng của Kitô giáo là «mến Chúa, yêu người» hơn là chú tâm thực hiện những chi tiết của lề luật thành văn. Nói thế không có nghĩa là không cần thực hiện những điều luật chi tiết, vì theo Đức Giêsu thì: «Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ» (Mt 23,23b).



5. Một cám dỗ thường xảy ra đối với việc thực hiện lề luật

Người tín hữu không được giáo dục đức tin đầy đủ thường bị cám dỗ chỉ quan tâm thực hiện những điều luật chi tiết, cụ thể, thậm chí quan trọng hóa cả những chi tiết của luật lệ, mà không hề quan tâm tới tinh thần tổng quát của lề luật. Do đó, thường xảy ra tình trạng như sau: có những tín hữu giữ những luật lệ tôn giáo một cách hết sức chi tiết, tỉ mỉ, được mọi người coi là đạo đức, thánh thiện. Nhưng nếu những người ấy tự xét mình một cách nghiêm túc xem mình đã thật sự mến Chúa yêu người chưa, thì họ phải tự nhìn nhận là chưa, hoặc còn thiếu sót hơn cả những người bình thường khác. 

Điều chúng ta phải lấy làm lạ và phải suy nghĩ thật nghiêm túc là: các kinh sư Do Thái giữ luật nhiệm nhặt như vậy, thế mà Đức Giêsu lại đánh giá rằng «không một ai trong các ông tuân giữ Lề Luật!» (Ga 7,19). Tại sao vậy? Vì tuy họ quan tâm giữ nhiệm nhặt nhiều điều khoản của tôn giáo, nhưng họ lại «bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng chân thành» (Mt 23,23). Và những khoản luật mà họ tuân giữ nhiệm nhặt ấy nghĩ cho cùng cũng «chỉ là giới luật của phàm nhân» (Mt 15,9). Nên việc giữ luật nhiệm nhặt ấy cuối cùng lại trở thành «xôi hỏng, bỏng không», hay như «công dã tràng»!

Còn cách giữ Luật Chúa của chúng ta thì sao? Liệu Thiên Chúa có đánh giá chúng ta, những người đang tự hào là giữ luật một cách nghiêm nhặt, tương tự như thế không? Rất có thể, vì chúng ta chỉ chú ý tới cái «xác của lề luật», là những điều khoản thành văn, mà không chú ý tới cái «hồn của lề luật», tức tinh thần của lề luật. Xác mà không có hồn thì chỉ là xác chết, vô giá trị! Chắc chắn tới ngày phán xét, rất nhiều người đã giữ luật một cách nhiệm nhặt không kém gì các kinh sư Do Thái, nhưng lại đứng vào hàng ngũ «quân bị nguyền rủa» (Mt 25,41), chỉ vì «xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống, v.v…» (25,42tt). Tội nghiệp cho họ là những kẻ mà Luật Chúa thì không thèm giữ, chỉ toàn lo giữ «luật của phàm nhân»! 




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con biết tôn trọng Luật Cha là luật yêu thương. Xin ban cho con tinh thần của thánh Âu-Tinh: «Cứ yêu đi, rồi làm gì thì làm!» Con nhận ra rằng con chỉ chu toàn được Luật của Cha khi con thật sự yêu thương mọi người mà thôi. Vì thế, xin Cha cho con biết yêu thương, và thể hiện tình yêu thương đó như thánh Phanxicô Salê trong Kinh Hòa Bình: «Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người». Amen.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây . 


Share:

Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018

HNVH12-Ket-Luan


Thích ứng và Hội Nhập Văn Hóa
trong việc Phúc Âm hóa





Kết Luận





Tình trạng sút giảm của Kitô giáo


Cuối thiên niên kỷ thứ hai, số người Công giáo đã không tăng lên mà dường như có chiều hướng giảm đi, số người gia nhập ít hơn số người ra khỏi, nhất là tại châu Âu hay tại những nước có đời sống kinh tế cao, kỹ nghệ phát triển. Số người Kitô hữu dường như chỉ gia tăng trong những quốc gia kém phát triển, gặp nhiều khó khăn về kinh tế, an ninh, những nơi dân chúng bị áp bức...

Như thế, có phải Kitô giáo chỉ thích hợp và cần thiết với những người còn đau khổ, thiếu thốn về vật chất, an ninh, hay với những xã hội còn bất công, áp bức, những quốc gia còn kém phát triển, để an ủi và xoa dịu những đau khổ của họ? Nhiều người nghĩ như thế, nên họ tiên đoán rằng sang thiên niên kỷ thứ III, Kitô giáo sẽ trở thành tượng đài lịch sử khi mà tình trạng kém phát triển và đau khổ kia không còn nữa. Có phải như thế chăng?


Kitô giáo có thể suy tàn không?

Ta không nên dựa vào câu Kinh Thánh: «Ta sẽ xây Hội Thánh Ta trên Đá này, và quyền lực Tử Thần cũng không thắng nổi» [*1] để rồi cứ an tâm không làm gì cả, chờ Thiên Chúa làm phép lạ cho Giáo Hội tồn tại mãi. Đành rằng đó là lời tiên tri của Đức Giêsu nên lời ấy phải đúng, nhưng nó đúng theo chiều hướng nào?
[*1] Mt 16,18.
Lời hứa của Thiên Chúa đối với Abraham: «Ta sẽ làm cho con cháu ngươi đông như sao trên trời, cát dưới biển» [*2] đã không đúng theo nghĩa đen như ông tưởng, mà đúng theo nghĩa bóng [*3]. Con cháu trong lời hứa đó không phải theo nghĩa xác thịt, vì nếu theo nghĩa đó thì con cháu ông làm sao đông bằng con cháu cụ tổ Lạc Long Quân của chúng ta?
[*2] St 22,17. 
[*3] Nhiều câu Kinh Thánh không thể hiểu theo nghĩa đen vì nếu hiểu theo nghĩa đen thì rõ ràng là trái với thực tế. Chẳng hạn câu: «Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật (luật Môsê) cũng không thể qua đi được, cho đến khi mọi sự được hoàn thành» (Mt 5,18), «Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại» (Ga 2,19), v.v…

Giáo Hội tồn tại được là nhờ biết thích ứng

Nhưng dù lời tiên tri của Đức Giêsu đúng theo nghĩa nào, thì nếu Giáo Hội có tồn tại mãi, ắt lý do tự nhiên phải là Giáo Hội biết thích ứng với thế giới. Mà để thích ứng, Giáo Hội phải biết thay đổi. Chấp nhất vào những quan niệm cũ, vào truyền thống hàng mấy ngàn năm của mình, vào những điều mà người xưa cho là không thể sai lầm được... thì sẽ có những trường hợp Giáo Hội không thể thích ứng với nhân loại thời đại mới được. Chính Công Đồng Vatican II đã chủ trương: «Các định chế, luật pháp, những lối suy tư của người xưa truyền lại, không phải lúc nào cũng phù hợp với tình thế hiện tại, do đó (nếu cứ cố chấp theo những điều cũ ấy) sẽ có những xáo trộn trầm trọng trong phương thức và trong cả các tiêu chuẩn hành động» [*4].
[*4] Công Đồng Vatican II, MV 7 §2.

Cần thay đổi những gì không còn phù hợp

Do đó, tất cả những gì không phù hợp với con người thời đại, cho dù linh thánh đến đâu đi nữa, cũng cần phải thay đổi để thích ứng với nhân loại luôn luôn biến đổi. Đối với các Tông Đồ ngày xưa, còn gì linh thánh hơn Luật Môsê, phép Cắt Bì, là những cái phát xuất trực tiếp từ Thiên Chúa chứ không phải từ con người? Những điều linh thánh ấy đã được lập nên vì con người, hay con người được dựng nên để làm theo những điều linh thánh ấy? Đối với Thiên Chúa, con người, hình ảnh của Ngài, linh thánh hơn, hay những luật lệ Ngài ra cho con người linh thánh hơn? Trong việc cứu độ con người. thì chính con người là mục đích, hay những luật lệ, tín điều, giáo lý, thần học... là mục đích?


Sự thích ứng trong Giáo Hội sơ khai

Thánh Linh đã khiến các Tông Đồ hiểu điều đó, nên các ngài sẵn sàng bãi bỏ những phương tiện không còn phù hợp - cho dù rất linh thánh - để có thể thích ứng với con người, để có thể mở rộng cửa thiên đàng cho mọi người. Chúng ta thấy trong Cựu Ước, Luật Pháp Môsê linh thánh thế nào, và cũng thấy trong Tân Ước, thánh Phaolô đã hạ giá Luật Pháp ấy xuống như thế nào [*5]. Luật Pháp đó phù hợp với con người của Cựu Ước, nhưng không phù hợp với con người của Tân Ước [*6], do đó phải bãi bỏ.
[*5] Xem Rm 2,17-20.21-27; 3,27; 4,2.4; Gl 6,13; Ep 2,3; Pl 3,9; 3,18; v.v… 
[*6] X. Gl 3,11.21t; Rm 3,20; Gl 6,12; Pl 3,18…

Giáo Hội đã thích ứng thế nào?

Lề lối tư tưởng, quan niệm, chủ trương, lẽ sống, nếp sinh hoạt, nhu cầu tâm linh và thể chất, khuynh hướng... của người thời đại ngày nay rất khác với người thời xưa. Nếu Giáo Hội vẫn cứ theo đường lối cũ, phương pháp cũ, nếp cũ, thì Giáo Hội sẽ trở thành lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu của con người thời đại mới. Số người bỏ đạo ngày càng tăng buộc Giáo Hội phải suy nghĩ về cách thức mình đã thích ứng với con người thời đại như thế nào, nếu Giáo Hội muốn chu toàn nhiệm vụ mà Chúa Kitô đã ủy thác cho mình.


Thay đổi không phải là chuyện dễ dàng

Nếu trong quá khứ, Giáo Hội thích ứng kịp thời thì Giáo Hội ngày nay chỉ cần thay đổi chút ít là theo kịp thời đại mới. Nếu không thích ứng kịp thời mà bị thế giới bỏ rơi quá xa, thì Giáo Hội sẽ phải thay đổi rất nhiều, và đương nhiên những người có đầu óc bảo thủ không thể chấp nhận được... Tuy nhiên, thay đổi cũng không phải là chuyện dễ mà là chuyện đầy phức tạp. Nếu Giáo Hội thay đổi để phù hợp với thời đại thì Giáo Hội lại trở nên không phù hợp với một số người bảo thủ không muốn thích ứng với thời đại. Do đó, muốn thay đổi, Giáo Hội luôn luôn phải chấp nhận chống đối.



Những nguyên tắc để thay đổi

Trước khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba, để thích ứng với con người thời đại ấy một cách sáng suốt, ta nên khách quan xét xem những gì không thể thay đổi cần phải giữ lại, những gì có thể thay đổi, và những gì cần phải thay đổi, để Giáo Hội có thể tồn tại và phát triển.


Vinh quang Thiên Chúa và hạnh phúc con người

Điều quan trọng nhất mà chúng ta cần phải nắm vững, đó là vinh quang Thiên Chúa và hạnh phúc con người. Đó là chính là mục đích hai mặt mà cả Thiên Chúa lẫn con người đều nhắm đến và quyết tâm thực hiện. Đối với Thiên Chúa thì vinh quang của Ngài chính là hạnh phúc của con người [*7], và đối với con người thì hạnh phúc chính là làm vinh danh Thiên Chúa. Tất cả mọi phương tiện Chúa dùng hay con người dùng đều không thể quan trọng bằng chính mục đích Chúa hay con người nhắm tới. Mục đích thì không thay đổi, nhưng phương tiện thì có thể thay đổi và cần phải thay đổi tùy theo từng thời điểm để có thể đạt được mục đích [*8].
[*7] Quan niệm của thánh Irênê. 
[*8] Chẳng hạn, để đi đến một nơi nào đó (mục đích không thay đổi), rất nhiều trường hợp ta không thể chỉ dùng một phương tiện duy nhất. Có lúc phải đi bộ, có lúc đi xe, có lúc đi thuyền, và có lúc phải đi máy bay, tùy theo từng đoạn đường phải đi.

Phải thay đổi vì chính con người hay thay đổi

Như vậy, việc cứu độ con người là mục đích của Thiên Chúa thì không thay đổi, nhưng phương tiện Ngài dùng để cứu độ thì thay đổi, vì chính con người thay đổi. Con người thay đổi về đủ mọi phương diện, nên không có phương diện nào có thể áp dụng mãi mãi thích hợp cho họ cả. Cũng như bệnh nhân thay đổi căn bệnh của mình theo thời gian, khi nhẹ khi nặng, khi đau cơ quan này lúc đau cơ quan khác, nên không thể cứ dùng một toa thuốc uống hoài từ đầu đến cuối mà hết bệnh. Phải thay đổi thuốc tùy theo từng thời điểm. Hay như một học sinh trình độ ngày một cao, không thể có bài học nào thích hợp để cứ học hết ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Phải thay đổi bài học mỗi ngày theo trình độ mỗi ngày mỗi thay đổi.


Ngoại trừ Thiên Chúa, mọi sự đều thay đổi

Đương nhiên cũng có những phương tiện ít thay đổi hay không thay đổi ứng với một số những mục đích ít thay đổi hay không thay đổi nơi con người. Nhưng trên lý thuyết, ngoài Thiên Chúa ra, chẳng có gì là bất biến, là không thay đổi. Ta thấy, trong Cựu Ước, nhiều luật lệ chính Thiên Chúa ra cho con người (như luật cắt bì, v.v...) mà người Do Thái coi như linh thánh, không bao giờ có thể thay đổi được, nhưng theo thời gian, luật đó đã phải thay đổi để thích ứng với sự thay đổi của con người. Luật Chúa còn phải thích ứng với con người, huống gì những điều mà con người căn cứ trên Luật Chúa, Lời Chúa để áp dụng cho nhau.


Mọi phương tiện giống như chiếc đò qua sông

Các phương tiện đều giống như chiếc đò để chở người qua sông. Khi đã qua được sông, đò không còn thích hợp nữa, phải dùng phương tiện khác. Kẻ cố chấp không chịu rời đò, hay đòi vác đò đi theo, thì lúc đó đò trở thành vật cản trở cho cuộc hành trình chứ không còn có lợi nữa. Tất cả mọi phương tiện đều có thời của nó, không có phương tiện nào vĩnh cửu cả.

Vì thế, điều quan trọng là nhận ra lúc nào nó đắc thời và lúc nào nó lỗi thời. Khi một phương tiện đắc thời đang hiện hành, người ta thường coi nó như vĩnh cửu, tuyệt đối, để nó trở nên hữu hiệu hơn. Khi nó đã lỗi thời, người ta phải bỏ nó đi và thay bằng phương tiện khác, lúc đó người ta thường phải nêu ra những khuyết điểm, những hạn chế của nó [*9].
[*9] Trong thời Cựu Ước, luật Môsê là luật hiện hành, được coi là tuyệt đối, vĩnh cửu, dường như không bao giờ lỗi thời được. Có quan niệm như thế, người ta mới tuân hành một cách triệt để. Nhưng tới thời Tân Ước, luật Môsê không còn thích hợp nữa, thánh Phaolô đã đưa ra những khiếm khuyết của luật đó để người ta bỏ luật đó mà theo luật mới của Chúa Kitô (xem Rm 2,21-27; 3,20; 8,2; Gl 3,11.21; 3,24; 6,12; 6,13; Ep 2,3; Pl 3,18; v.v…).

Luật hiện nay của chúng ta có thể bị lỗi thời?

Nếp sống, lối suy nghĩ, quan niệm, nhu cầu, sở thích... của con người thời đại thay đổi rất nhiều so với con người thế kỷ trước, và con người thế kỷ sau sẽ còn thay đổi nhiều hơn nữa so với con người thế kỷ này. Muốn cứu độ họ, chúng ta cũng phải thay đổi cùng với họ. Ngày nay, chúng ta không còn áp dụng luật Môsê như dân Do Thái cách đây 2.000 - 3.000 năm, mặc dù thời đó họ coi bộ luật này như tuyệt đối, linh thánh, không thể thay đổi. Một số điều trong luật đó đã trở nên tức cười đối với não trạng của chúng ta hiện nay.

Nếu luật Môsê đã bị lỗi thời như thế, thì liệu những luật lệ chúng ta đang theo hiện nay có thể không bị lỗi thời chăng? Liệu chúng còn thích hợp với những người thế kỷ sau, thiên niên kỷ sau không? Thái độ cố chấp giữ khư khư những nguyên tắc cũ có chính đáng không? Tại sao ngày xưa phải theo luật Môsê mà ngày nay không phải theo nữa? Khi phải thay đổi từ luật Môsê qua luật mới, có bao nhiêu người chống đối, phản kháng lại? Phản kháng như thế có chính đáng không? Lý do khiến họ phản kháng là gì? Trả lời những câu hỏi đó sẽ giúp ta có thái độ thích hợp hơn đối với luật hiện tại.


Hành động nên vì con người hay vì lề luật?

Xét thái độ của Đức Giêsu, ta thấy Ngài hành động vì con người chứ không vì lề luật hay vì nguyên tắc. Đành rằng lề luật được đặt ra để phục vụ con người, nhưng khi áp dụng luật trong những trường hợp cụ thể, người ta thường có khuynh hướng vị luật hơn là vị con người, bất chấp những trường hợp đặc biệt mà trong đó lề luật đi ngược lại con người. Đức Kitô không chấp nhận thái độ thiếu thích ứng như thế. Luật Môsê không cho phép chữa bệnh ngày Sabát, nhưng trước nhu cầu của bệnh nhân: bị mù mắt [*10], bất toại [*11], teo tay [*12], v.v..., Ngài vẫn chữa bệnh cho họ bất chấp lề luật.
[*10] Ga 9.
[*11] Ga 5,1-18.
[*12] Mt 12,9-14.

Mục đích quan trọng hơn phương tiện

Tại sao? Vì đối với Thiên Chúa, và đúng ra đối với cả chúng ta nữa, con người quan trọng hơn tất cả những phương tiện dùng để cứu độ con người, hạnh phúc con người quan trọng hơn những phương tiện giúp con người hạnh phúc. Khi có xung đột giữa mục đích và phương tiện, thì phải hy sinh phương tiện cho mục đích, chứ không ngược lại. Do đó, chúng ta không nên nhân danh những luật lệ mà chúng ta «phong thần» hay tuyệt đối hóa lên, để hy sinh chính con người hay chính hạnh phúc của con người. Chúng ta dễ bị thôi miên bởi những luật lệ do chính chúng ta «phong thần» lên, khiến chúng ta chỉ nhìn thấy luật lệ và nguyên tắc, mà không thấy những nhu cầu cụ thể của con người.


Đừng quá cứng rắn với những nguyên tắc

Nếu chúng ta quá cứng rắn trong việc áp dụng nguyên tắc, dần dần người ta sẽ cảm thấy đạo mà chúng ta rao giảng trở thành một gánh nặng cho lương tâm, không đáp ứng được những nhu cầu khẩn thiết của cuộc sống. Lúc đó họ sẽ bỏ chúng ta, và chúng ta cũng không thể ảnh hưởng trên họ, không giúp ích hay cứu rỗi họ được, vì họ không thèm nghe chúng ta nữa. Thật vậy, chúng ta chỉ cứu giúp được họ bao lâu họ còn tin và nghe chúng ta.

Nhiều trường hợp chúng ta phải cứng rắn, nhưng cứng rắn tới một mức độ nào đó thì thích hợp và phải lẽ. Còn cứng rắn tới mức độ làm cho người ta lâm vào thế kẹt một cách không cần thiết thì quả là quá đáng. Sự khôn ngoan giúp ta biết khi nào cần phải mềm dẻo, khi nào cần cứng rắn, khi nào phải chấp vào nguyên tắc, khi nào không nên chấp. Đó chính là khả năng thích ứng một cách hợp lý vào từng trường hợp cụ thể. Việc hội nhập văn hóa đòi hỏi sự khôn ngoan hay sự thích ứng như thế.


Đừng hy sinh mục đích cho phương tiện, cái tùy thuộc cho cái chính yếu

Để cụ thể hóa vấn đề, chúng ta có thể suy nghĩ theo một minh họa.

Một người Cha rất nhân hậu có một đàn con đông đảo, trong đó có những đứa con ngoan, có những đứa hư hỏng, và có những đứa vì xa nhà từ hồi nhỏ nên chưa nhận biết Cha mình. Người Cha nhờ những đứa con ngoan giúp cho những đứa con hư hỏng hoặc chưa nhận biết Cha trở về với cuộc sống tốt đẹp và nhận biết Cha thật của mình. Người con cả được Cha giao quyền điều động anh em trong nhà.

Vì muốn thống nhất anh em thành một khối duy nhất, cùng chủ trương, cùng quan niệm, cùng đường lối hầu dễ dàng thực hiện nhiệm vụ Cha giao phó, nên người anh cả đã bắt tất cả mọi anh em trong nhà phải theo đường hướng mà mình cho là đúng đắn nhất. Biện pháp để thực hiện sự thống nhất ấy thật là cứng rắn: ai không theo sẽ bị trục xuất khỏi gia đình. Kết quả là thay vì thực hiện được sự thống nhất và đoàn kết trong nhà, thì lại xảy ra là: nhiều anh em trong nhà phải lần lượt rời khỏi gia đình, lập thành những phe nhóm độc lập, tuy cùng nhận Cha chung là Cha, nhưng không chịu phục quyền người anh cả. Vì thế, sự chia rẽ trong nhà trở thành tệ hơn lúc chưa có chủ trương thống nhất anh em lại.

Tại sao? Vì người anh cả đã quá đặt nặng phương tiện để thống nhất và đoàn kết gia đình - là chủ trương, đường lối mà mình cho là đúng đắn nhất và đòi buộc anh em phải theo - coi nó quan trọng hơn chính sự thống nhất và đoàn kết trong nhà nữa: thà mất chính sự thống nhất và đoàn kết trong nhà còn hơn là để cho phương tiện dùng để thực hiện sự thống nhất và đoàn kết ấy trở nên vô hiệu. Thế là người anh cả đã lầm lẫn giữa phương tiện và mục đích, lấy phương tiện làm mục đích, nên đã hy sinh mục đích cho phương tiện.

Đối với những anh em xa gia đình từ hồi còn nhỏ, chưa biết Cha đích thực của mình là ai, thì những người con ngoan có nhiệm vụ giới thiệu, trình bày người Cha chung của mình cho họ. Nhưng theo lệnh người anh cả, ai nhận biết Cha đích thực của mình và muốn trở về, thì phải dứt khoát từ bỏ người cha nuôi đã nuôi mình khôn lớn từ trước đến nay mà mình tưởng lầm là Cha mình. Thậm chí có lúc người anh cả còn chủ trương phải coi người cha nuôi đó như kẻ thù nghịch với Cha mình. Ngoài ra, những người trở về còn phải theo những phong tục, tập quán của những anh em trong nhà nữa. Vì thế, nhiều người vì còn tình nghĩa với cha nuôi của mình, lại chưa xác tín được người Cha đích thực của mình, hoặc chưa thể bỏ phong tục tập quán cũ mà mình vẫn thấy là hợp lý để theo phong tục mới, nên đã từ chối việc nhận người Cha đích thực của mình, không cần biết tới hạnh phúc hay việc thừa hưởng tài sản của Cha.

Lần này, người anh cả lại lầm lẫn giữa cái chính yếu và cái phụ tùy. Để cho những chuyện tùy phụ ấy trở thành lý do chính yếu ngăn cản anh em mình về với Cha thì quả là quá đáng: coi cái phụ tùy còn quan trọng hơn cả cái chính yếu. Một người cha nhân từ luôn mong mỏi con cái quay trở về có đòi buộc những đứa con chưa biết mình vừa mới phần nào nhận ra mình những điều kiện như thế không, hay đó chỉ là đòi hỏi của những đứa con «ngoan»?

Thiết tưởng chúng ta cần suy tư nhiều hơn về thái độ của người cha, người con thứ, và nhất là thái độ của người con trưởng trong dụ ngôn «ba cha con» của Chúa Giêsu [*13]. Người con trưởng tuy ngoan nhưng thiếu hẳn tình thương và lòng bao dung, cả với Cha và với đứa em ruột thịt của mình.
[*13] X. Lc 15,11-32.


Thích ứng và hội nhập văn hóa cho thời đại mới

Việc hội nhập văn hóa trong quá khứ

Việc hội nhập văn hóa trong công cuộc phúc âm hóa mới ngày nay không còn là việc hội nhập văn hóa vào nơi này hay nơi khác, vào dân tộc này hay dân tộc khác cho bằng vào một thế giới khác.

Trong thiên niên kỷ thứ nhất và nửa thiên niên kỷ thứ hai, Kitô giáo hầu như chỉ được gói gọn trong Âu Châu. Sự khác biệt về mặt văn hóa giữa người phúc âm hóa và người được phúc âm hóa không đáng kể, việc hội nhập văn hóa tương đối dễ dàng thế mà lại được đặt nặng. Vì thế, việc phúc âm hóa thành công dễ dàng. Mãi tới giữa thiên niên kỷ thứ hai, Kitô giáo mới phát triển mạnh sang các châu khác, chẳng hạn như Á châu. Lần này có sự khác biệt rất lớn về mặt văn hóa giữa người phúc âm hóa và người được phúc âm hóa, việc hội nhập văn hóa tương đối khó hơn trường hợp trước rất nhiều thế mà lại bị coi nhẹ. Vì thế, việc phúc âm hóa đã không thành công bao nhiêu.

Hai thiên niên kỷ qua, thế giới thay đổi tương đối chậm, nhưng từ cuối thiên niên kỷ thứ hai trở đi, đặc biệt từ thế kỷ XX, thế giới thay đổi rất nhanh chóng, nhanh một cách lạ thường, khiến cho sự khác biệt về văn hóa, tư tưởng, nếp nghĩ... giữa thế kỷ trước và thế kỷ sau rất rõ ràng. Sự khác biệt về văn hóa giữa nơi này với nơi khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác thời nay không còn đáng kể, vì sự giao lưu giữa các dân tộc đã trở nên dễ dàng do những điều kiện về thông tin và giao thông tân tiến. Có thể nói thế giới đang tiến về một nền văn hóa chung.


Hội nhập văn hóa vào thế giới mới

Nhưng thế giới thay đổi quá nhanh chóng và sâu xa khiến cho văn hóa của thế kỷ sau có thể khác xa với thế kỷ này. Vì thế, vấn đề hội nhập văn hóa sứ điệp Kitô giáo vào thế giới thế kỷ mới cũng có rất nhiều khó khăn. Cách phúc âm hóa, cách diễn tả sứ điệp Kitô giáo cho thế kỷ sau cần phải thay đổi ít nhiều so với hiện nay để thích ứng với con người thế kỷ sau.

Nếu chúng ta muốn việc phúc âm hóa thế giới thế kỷ sau thành công, chúng ta nên rút kinh nghiệm từ những thành công cũng như thất bại trong việc hội nhập văn hóa của Kitô giáo cũng như của các tôn giáo khác trong hai thiên niên kỷ vừa qua. Thái độ cứng rắn quá đáng, không chịu thích ứng với tình thế đang diễn ra, sẽ là nguyên nhân cho sự thất bại. Và thái độ mềm dẻo, sẵn sàng thay đổi những gì tùy phụ, những gì là phương tiện để thích ứng với con người, sẽ dẫn việc phúc âm hóa đến thành công.


Trong thiên niên kỷ thứ ba, cần đặt nặng việc thích ứng và hội nhập văn hóa hơn

Trước thiên niên kỷ thứ ba của Kitô giáo, một thiên niên kỷ đầy dẫy thay đổi, những thay đổi chưa từng thấy, vừa nhanh, vừa sâu, vừa rộng, người Kitô hữu phúc âm hóa không nên đặt nhẹ vấn đề thích ứng để kịp thời với những thay đổi của thế giới. Việc thích ứng và hội nhập văn hóa sẽ trở nên vấn đề «sống còn» của Kitô giáo cũng như của các tôn giáo khác: hoặc thích ứng hoặc sẽ bị đào thải, chỉ có thể chọn một trong hai. Không sẵn sàng thay đổi thì không thể thích ứng được.


Giáo Hội đang sẵn sàng thay đổi

Nhiều quan niệm từ xưa đến nay được coi là đúng rất có thể trở nên lỗi thời trong tương lai. Trong quá khứ đã xảy ra những trường hợp như thế. Do đó, chúng ta cần phải sẵn sàng thay đổi quan niệm cũ của mình theo sự soi dẫn của Thánh Thần. Không có sự soi dẫn của Thánh Thần thì dù bảo thủ hay thay đổi cũng đều không phải là thích ứng.

Qua các tông huấn hay tông thư mới nhất của Đức Gioan-Phaolô II, ta cũng thấy Giáo Hội đang sẵn sàng thay đổi để thích ứng với thế giới tương lai. Giáo Hội đang muốn thay đổi và cần phải thay đổi. Nhưng chắc chắn sẽ có nhiều người chống lại sự thay đổi, không phải họ thiếu thiện chí hay chủ trương chống lại mọi thay đổi, cho bằng họ chưa nhìn ra sự cần thiết và hợp lý của việc phải thay đổi.


Cần xét lại những điều ta vẫn cho là đúng

Nhận ra những điều chưa đúng hay không thích hợp trong quan niệm đang hiện hành [*14] không phải luôn luôn dễ dàng. Xét trường hợp của Galilée, ta thấy: khi ông chủ trương trái đất quay chung quanh mặt trời chứ không phải ngược lại, thì ai cũng lấy làm lạ và cho ông là phi lý. Thậm chí cả những nhân vật cao cấp trong Giáo Hội cũng không nhận ra và còn kết án ông là phá hoại nữa. Phải nhiều thế hệ sau người ta mới thấy điều «phi lý» ấy mới chính là chân lý, và quan niệm đã hiện hành thời đó [*15] là sai.
[*14] Mà mình cũng như mọi người hiện đang cho là đúng.
[*15] Mà lúc đó ai cũng cho là đúng, là chân lý hiển nhiên.
Đó là bài học cho tất cả mọi người: thấy được cái sai trong những điều mình đang cho là đúng không phải chuyện dễ dàng! Vì thế, đôi khi chúng ta cũng phải biết nghi ngờ cả những điều mình đang cho là đúng, là phải, là hợp lý. Và đó là thái độ đúng đắn mà các triết nhân vẫn có, nhờ đó họ mới tránh được những hành động sai lầm mà «chỉ có một số đầu óc vĩ đại thật sự tự do và tràn đầy Thiên Chúa mới có thể tránh thoát được» [*16]. Do đó, khi muốn chống đối lại một thay đổi nào, nhất là khi sự thay đổi đó lại do một đầu óc vĩ đại khởi xướng, như sự thay đổi mà Đức Gioan-Phaolô II đang chủ trương trong Giáo Hội hiện nay, chúng ta cần phải dè dặt y như người chủ trương thay đổi vậy.
[*16] Tông Thư Tertio Millennio Adveniente của Đức Gioan-Phaolô II, số 35.

Lầm lỗi quá khứ

Trong việc phúc âm hóa và trong sinh hoạt của Giáo Hội hai thiên niên kỷ qua, một số «con cái» trong Giáo Hội đã gây ra những sai lầm đáng tiếc mà thiết tưởng những «con cái» khác nên rút ra những bài học để tránh trong tương lai. Tất cả những sai lầm ấy, chẳng hạn như «tội phá hỏng sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn có nơi Dân Ngài» hay tội «dùng đến những phương pháp bất khoan dung và thậm chí bạo lực trong khi phụng sự chân lý», v.v... đều chỉ xuất phát từ một mối tội duy nhất: quá cứng rắn, thiếu mềm dẻo và bao dung. Thật vậy, những người phạm những điều sai lầm ấy không phải là những người thiếu thiện chí, thiếu hăng hái nhiệt tình, hay thiếu tình yêu thương [*17]. Tiếc thay, những đức tính quí giá ấy mà lại đi đôi với sự cứng rắn, thay vì đi chung với sự mềm dẻo, bao dung và thích ứng, thì chúng sẽ tạo thành một tổ hợp những đức tính phá hoại.
[*17] Những điều này có thể nói là họ có quá nhiều nữa là khác
Vì thế, trong sinh hoạt của Giáo Hội, nhất là trong việc phúc âm hóa và hội nhập văn hóa, nếu chúng ta chỉ biết cứng rắn áp dụng những nguyên tắc mà ta cho là tuyệt đối, cộng thêm với niềm tự tin rằng mình không thể sai lầm, chắc chắn sẽ làm cho công việc của Giáo Hội đi đến thất bại. Việc phúc âm hóa và hội nhập văn hóa, nhất trong tương lai, rất cần có lòng bao dung để có thể mềm dẻo thích ứng với mọi tình huống, mọi con người.


Nguyễn Chính Kết






Share: