Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

Sức mạnh của Mỹ



Sức mạnh của Mỹ

Bài viết quá hay, không đọc thiệt uổng ...!

Mã Tiểu Linh.

Sức mạnh của Mỹ không phải chỉ nằm ở mấy chiếc hàng không mẫu hạm hay phi đạn Tomahawk mà nó còn nằm ở chổ:

Ở chổ dù mồm bạn đang chửi Mỹ xoen xoét nhưng tay bạn vẫn thích bấm cái phone do Mỹ làm ra, mắt vẫn thích lướt Fb do người Mỹ viết mà thành, đít vẫn thích ngồi xe hơi do Mỹ chế, hay bay trên máy bay là thứ cũng do người Mỹ phát minh để chu du khắp bốn phương trời.

Nó nằm ở chổ dù bạn có lôi tổng thống Mỹ ra mà chửi cha mắng mẹ cũng chẳng người Mỹ nào quan tâm, chẳng ai thèm đến nhà kiếm bạn để hăm he trả thù, và con cái của bạn vẫn cứ đường hoàng đến Mỹ ăn học mà chẳng có ai làm khó dễ chúng điều gì.

Nó nằm ở chổ khi các nước bị Mỹ đến Xâm Lược như Tây Âu, Nhật Bản hay Hàn Quốc thì đều trở nên phồn thịnh và văn minh, còn các nước được Liên Xô hay Trung Quốc đến Giải Phóng như Đông Âu hay Tây Tạng thì hổng đổ máu cũng bầm mình.

Nó nằm ở chổ chính kẻ thù của Mỹ cũng cảm thấy chỉ có Mỹ là nơi an toàn để nương thân mỗi khi bị đồng chí của mình hãm hại. Ngay cả cố tổng bí thư Liên Xô một thời lừng lẫy Khruschchev mà rồi con trai ông ấy cũng có được yên thân ở Liên Xô đâu, cũng phải chạy sang Mỹ mà áp tay lên ngực để chào lá cờ hoa một thời cha ông mình chửi rủa.

Nó nằm ở chổ nếu như hôm trước bạn còn xuống đường hò hét chửi Mỹ như thể bạn thù nước Mỹ không đội trời chung thì hôm sau bạn vẫn sẽ vứt hết tất cả để đi Mỹ nếu như bạn được cấp một chiếc thẻ xanh.

Tôi đã thấy rồi, tôi đã thấy có người chửi Mỹ xoen xoét khi còn ở Việt Nam nhưng rồi cũng rất hồ hởi khi được có mặt ở cái xứ tư bản giãy chết này dù nói chuyện vẫn còn cố vớt vát " đi là vì tương lai của các con thôi".

Tôi đã thấy rồi, tôi đã thấy có người chửi Mỹ xoen xoét khi đã sang đây rằng "ở Mỹ cực như chó" nhưng lại cứ ráng ở lại chịu cực mà chẳng thấy quay về.

Sức mạnh của Mỹ nó nằm ở chổ nó là cái nơi thu hút con người ở khắp mọi miền trên thế giới đổ về, chứ không phải là cái nơi mà ai cũng muốn bằng mọi giá phải dứt áo từ bỏ. Nó không ràng buộc ai phải ở lại nhưng chẳng ai tự nguyện ra đi.

Sức mạnh của Mỹ nó nằm ở chổ 4 người đàn ông lực lưỡng chung tay khiêng cái nón nhẹ hều một cách trang nghiêm để tôn trọng người quá cố, dù rằng người quá cố đó từng là một đối thủ. Chứ không phải đưa hài cốt của đồng đội mình về trong một cái túi xách đàn bà.

Các nhà bồi bút ở Việt Nam hãy thôi chỉ nhìn vào mấy trái tên lửa rồi cố hạ thấp sức mạnh của Mỹ và nâng bi sức mạnh của Nga hay Tàu làm gì. Bởi Mỹ có những điều mà hai xứ này cả trăm năm nữa cũng chưa chắc có, Mỹ có một nền dân chủ đã 242 năm.

Còn Nga và Tàu? ngoài độc tài và súng đạn thì họ còn gì?




Chính trị − Văn hóa − Xã hội
Share:

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

PS5b − Làm sao để «gắn liền với» Đức Giêsu hay Thiên Chúa và «ở lại trong» Ngài?

Chúa nhật thứ 5 Mùa Phục sinh




Làm sao để «gắn liền với» Đức Giêsu hay Thiên Chúa
và «ở lại trong» Ngài?



Chủ đề của bài Tin Mừng về «Cây nho thật» (Ga 15,1-8) là làm sao để người Kitô hữu (được ví như cành nho) có thể «sinh nhiều hoa trái», đó là phải «gắn liền với» và «ở lại trong» Đức Giêsu hay Thiên Chúa (được ví như cây nho hay gốc nho). Muốn thế, chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa của những từ «gắn liền với» và «ở lại trong» mà Đức Giêsu dùng trong bài Tin Mừng, đồng thời phải biết làm cách nào để thực hiện được nội dung của những từ ấy.

Ý nghĩa của những từ ấy cuối cùng chỉ có nghĩa là «gặp gỡ» và «kết hiệp» với Đức Giêsu hay Thiên Chúa qua «cầu nguyện». Vì thế, chúng ta cần đào sâu ý nghĩa của việc cầu nguyện và gặp gỡ Thiên Chúa, và biết phải thực hiện nó thế nào cho đúng.



1.  Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa

Cầu nguyện là một sinh hoạt thường xuyên, rất thân thuộc đối với người Kitô hữu. Có thể nói: một Kitô hữu không cầu nguyện không thể là một Kitô hữu đúng nghĩa. 

Cầu nguyện có thể mang nhiều hình thức: đọc kinh, nguyện gẫm, chiêm niệm, ca tụng, tạ ơn, xin ơn, nói với Chúa và nhất là lắng nghe tiếng Chúa nói trong thâm tâm, hướng lòng về Thiên Chúa, hay để những tâm tình đối với Thiên Chúa trào dâng trong lòng, v.v… Nhưng bản chất của cầu nguyện chính là sự gặp gỡ liên vị giữa Chúa và ta. Và nhờ sự gặp gỡ đó, ta mới cảm nếm được Thiên Chúa, mới hiểu về Ngài. Cái hiểu này đến từ cảm nghiệm, chứ không phải đến từ suy luận hay lý thuyết như khi học hỏi. 

Khi cầu nguyện, nếu không thực sự gặp gỡ Thiên Chúa, thì có thể nói ta chưa đạt được bản chất hay mục đích của cầu nguyện. Thật vậy, có nhiều trường hợp người ta đọc kinh, nguyện gẫm, lần hạt, dâng thánh lễ, rước lễ… mà không thực sự gặp gỡ Thiên Chúa. Vì một khi đã thật sự gặp gỡ Thiên Chúa, thì tất yếu ta nhận được sức mạnh để thay đổi cuộc sống nên tốt và hạnh phúc hơn. Nếu không thật sự gặp gỡ Ngài khi cầu nguyện, người ta mới chỉ có vẻ cầu nguyện chứ chưa thực sự cầu nguyện, và đương nhiên không cảm nghiệm được Ngài.



2. Gặp gỡ và thưởng nếm Thiên Chúa quan trọng hơn biết về Thiên Chúa

Người ta không gặp gỡ Thiên Chúa vì người ta không đặt nặng việc đó. Người ta thường có khuynh hướng chú trọng nhiều đến việc học hỏi về Thiên Chúa, và ít lưu tâm đến việc gặp gỡ và thưởng nếm Thiên Chúa. 

Suy tư để hiểu biết về Thiên Chúa rất quan trọng, vì có hiểu biết về Thiên Chúa, chúng ta mới yêu mến Ngài: «vô tri bất mộ». Nhưng trong thực tế, biết về Thiên Chúa không quan trọng bằng gặp gỡ Ngài, thưởng nếm Ngài. Cũng như biết nhiều về nước, biết chính xác về nước với các tính chất và thành phần cấu tạo của nước không quan trọng bằng việc uống nước. Không biết gì về nước hay biết sai lạc về nước, không sao cả, miễn là có uống nước. Còn biết hoàn toàn đúng về nước mà không uống nước, thì sẽ bị cơn khát dày vò, thậm chí chết được. 

Cũng vậy, bàn cãi xem Thiên Chúa là hữu ngã hay vô ngã, là một hay là hai với vũ trụ, sáng tạo ra vũ trụ hay biến hóa ra vũ trụ, thực tế không quan trọng bằng việc gặp gỡ Thiên Chúa, hưởng nếm sự dịu ngọt của Ngài, nhận được ân sủng và sức mạnh của Ngài. Rất nhiều thần học gia nói thao thao bất tuyệt về Thiên Chúa nhưng không cảm nghiệm được Thiên Chúa bằng một trẻ em đơn sơ chân thành. Như vậy, biết Thiên Chúa chỉ là phương tiện, cảm nghiệm và yêu mến Thiên Chúa mới là mục đích. Biết mà không dẫn tới yêu mến và cảm nghiệm, thì cái biết đó trở nên vô ích.

Không một tôn giáo nào trên thế giới không nói tới Hữu Thể mà người Kitô hữu gọi là Thiên Chúa, có điều họ gọi Hữu Thể ấy bằng những tên khác nhau, và quan niệm về Hữu Thể ấy rất khác chúng ta. Nhiều khi ta cho rằng họ «vô thần», chỉ vì họ không quan niệm Hữu Thể ấy là «thần» như chúng ta. Không một tôn giáo chính thống nào không lấy Hữu Thể đó làm trọng tâm duy nhất của đời sống tâm linh, và coi việc gặp gỡ, cảm nghiệm và kết hợp với Hữu Thể ấy là thực nghiệm tâm linh quan trọng nhất của đời sống tôn giáo. Và mỗi tôn giáo đều có những cách riêng để gặp gỡ và cảm nghiệm Hữu Thể ấy. 

Nói chung, tất cả các tôn giáo cũng như tất cả các giáo phái Kitô giáo đều chung một mục đích duy nhất là gặp gỡ và thực nghiệm được Hữu Thể mà chúng ta gọi là Thiên Chúa, mặc dù các tôn giáo quan niệm rất khác nhau về Hữu Thể ấy. Vì thế, việc gặp gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa có thể là khởi điểm để các tôn giáo và các giáo phái Kitô giáo có thể gặp gỡ nhau, trao đổi, và cùng múc được chính sự sống tâm linh đích thực, mà không nhất thiết phải đồng ý với nhau về các tín điều vốn rất khác biệt nhau giữa các tôn giáo.

Các tín điều ấy hay sự hiểu biết về Thiên Chúa không hẳn là điều kiện tối cần để có thể thực sự gặp gỡ và cảm nghiệm được Thực Tại Tối Hậu ấy, tức Thiên Chúa. Thật vậy, một người quê mùa được học hỏi rất ít về Thiên Chúa, hay một đạo sĩ trong một tôn giáo Á châu quan niệm về Thiên Chúa khác hẳn chúng ta, vẫn có thể gặp được Thiên Chúa và cảm nghiệm về Ngài (1*) hơn một thần học gia nổi tiếng. 

(1*) Chẳng hạn, trường hợp của Ramakrishna, một đạo sĩ Ấn giáo, là thầy của Vivekananda. Vivekananda kể về Ramakrishna: 

      «Tôi lẻn đến gần người và hỏi người câu mà cả đời tôi thường hỏi kẻ khác: “Thưa ông, ông có tin Thượng Đế không?” -“Có”, người trả lời. -“Vậy ông có thể chứng minh việc ấy được không?” -“Được”. -“Bằng cách nào?”, -“Vì tôi thấy Thượng Đế như tôi thấy anh bây giờ, chỉ có điều là một cách mãnh liệt hơn nhiều”. 

      «Câu trả lời này làm tôi cảm phục ngay. Đây là lần thứ nhất tôi gặp một người dám nói rằng mình đã thấy Thượng Đế, rằng tôn giáo là một sự thực mà ta có thể cảm biết và giác xúc một cách vô cùng cường liệt hơn là ta có thể cảm giác vạn vật». 

       (JOHN YALE, Tôn giáo là gì? Bản dịch của Vương gia Hớn, An Tiêm xb, SàiGòn 1970, trang 21-22). 
Điều tương tự như vậy đã xảy ra trong Kinh Thánh, khi Chúa Giêsu giáng sinh: những người gặp và thấy Chúa không phải là những bậc thầy dạy về Thiên Chúa, mà là các mục đồng biết rất ít về Ngài (x. Lc 2,8-18), và các đạo sĩ ngoại giáo (x. Mt 2,1-12), là những người chắc chắn có quan niệm về Thiên Chúa rất khác các rabbi Do Thái vốn rất tự hào mình được Thiên Chúa mặc khải.

Vì thế, cùng chia sẻ kinh nghiệm về cầu nguyện, về việc cảm nghiệm Thiên Chúa −chứ không phải tìm cách thống nhất những tín điều− chính là khởi điểm để đi đến đại kết và hiệp nhất, giữa các giáo phái Kitô giáo và giữa các tôn giáo. Hiểu biết có thể sai, nhưng cảm nghiệm là cái biết thực tiễn, trực tiếp với đối tượng, không có vấn đề đúng sai. Nói thao thao bất tuyệt về tính chất và cấu tạo của trái chuối không bằng được ăn chính trái chuối. Lý thuyết về trái chuối có thể khác nhau và gây chia rẽ, nhưng cảm nghiệm về nó thì hầu như ai cũng giống ai.



3. Gặp gỡ Thiên Chúa ở đâu? 

Thiền sư Bách Trượng nói về việc tìm kiếm Thực Tại Tối Hậu ấy «hệt như cưỡi trâu tìm trâu». Ấn Độ giáo cho việc tìm kiếm đó giống như một con cá ở biển đi tìm nước. Nghe những chuyện đó ta thấy tức cười, nhưng đích thực khi ta tìm kiếm Thiên Chúa, ta cũng làm một việc tương tự. 

Thật thế, có nơi nào không có Thiên Chúa? Chúng ta và vạn vật hiện hữu, sinh sống, làm bất cứ việc gì cũng đều do Thiên Chúa. Làm sao ta có thể suy nghĩ, viết lách, đi lại, cựa quậy, thậm chí làm những việc dễ dàng nhất như chớp mắt, hít thở, mà không cần đến Thiên Chúa? Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, trong tất cả vạn vật, trong tất cả mọi sinh hoạt dù nhỏ nhất của ta. Nhất cử nhất động đều nói lên sự có mặt của Thiên Chúa. Thế mà ta lại tìm kiếm Thiên Chúa! Và mỉa mai thay lắm khi không gặp được Ngài. Có khác gì con cá dưới biển tìm nước hoài mà vẫn không thấy nước, không gặp được nước!

Mặc dù Thánh Kinh luôn luôn có những câu xác định rõ nơi Thiên Chúa hiện diện, như: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?… Đền thờ ấy chính là anh em» (1Cr 3,16-17; x.1Cr 6,19; 2Cr 6,16; Ep 2,20-22), nhưng truyền thống Kitô giáo dường như quá nhấn mạnh đến sự hiện diện của Thiên Chúa trong giáo đường, trong các bí tích, đến nỗi các Kitô hữu không mấy lưu tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chính mình, nơi tha nhân

Nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa thì người ta thường nghĩ ngay đến nhà thờ, đến phép Thánh Thể, không mấy ai nghĩ đến Thiên Chúa ngự ngay trong mình, trong những người chung quanh. Kinh Thánh dường như không ưa việc định vị Thiên Chúa một cách lệ thuộc và hạn định vào không gian vật chất như thế. 

− Nhiều chỗ trong Kinh Thánh khẳng định: «Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ và muôn loài trong đó, Đấng làm Chúa tể trời đất, không ngự trong những đền thờ do tay con người làm nên» (Cv 17,24; x. Cv 7,28; Dt 9,11-12; Is 66,1-2)

− Chính Đức Giêsu, để trả lời cho câu hỏi: phải gặp gỡ Thiên Chúa và thờ phượng Ngài ở đâu, đã nói: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết… Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây -giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí (2*) và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những người thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4,21.23-24; x. Ga 2,21)

(2*) «Trong thần khí» («thần khí», tiếng Anh: spirit, tiếng Pháp: esprit, viết thường không viết hoa, nên không phải là Thánh Thần), vì thế, có thể hiểu «trong thần khí» là «trong tâm linh» hay «bằng tâm linh». Cách hiểu này rất phù hợp với tinh thần của các câu Kinh Thánh của Phaolô (x. 1Cr 3,16-17; 1Cr 6,19; 2Cr 6,16; Ep 2,20-22).

− Vì thế, thánh Phaolô khuyến kích ta tôn vinh, thờ phượng, gặp gỡ Thiên Chúa ngay trong bản thân của ta: «Thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần. Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là chính Thánh Thần của Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em» (1Cr 6,20b)

Quả thật, không có nơi nào ta dễ gặp gỡ Thiên Chúa cho bằng ngay bản thân ta. Cho dầu Ngài cũng hiện diện trong vũ trụ vạn vật hay những nơi khác, nhưng nơi gặp gỡ Ngài lý tưởng nhất vẫn là bản thân ta. Có gặp được Thiên Chúa nơi bản thân mình, thì mới gặp được Ngài ở những nơi khác. Chính thánh Âu-Tinh thú nhận: «Con đã tìm Chúa ở ngoài con, nên con đã không gặp được Chúa của lòng con» (3*), và «Con đã yêu Chúa quá muộn, … Chính Chúa vẫn ở trong con, còn con thì lại ở ngoài con» (4*) 

(3*) AUGUSTIN, Confessions, cuốn VI, chương 1.

(4*) AUGUSTIN, Confessions, cuốn X, chương 27.


4.  Có gặp Thiên Chúa nơi bản thân, mới gặp được Ngài ở nơi khác

Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, nên có thể gặp được Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào, tuy nhiên, vẫn có những nơi Ngài hiện diện cách đặc biệt, với mật độ cao, hiện diện một cách «đặc sệt». Nếu nói tới sự hiện diện vật chất của Thiên Chúa, thì phải nói tới phép Thánh Thể. Vì là hiện diện vật chất, nên sự hiện diện ấy lệ thuộc vào không gian và thời gian. Muốn gặp Ngài một cách vật chất, ta phải đến những nơi có Thánh Thể: nhà thờ, nhà nguyện…

Con người gồm cả thể chất lẫn tâm linh, nên sự gặp gỡ đầy đủ vẫn phải có đủ hai mặt ấy. Nhưng dẫu sao, giữa hai mặt ấy, gặp gỡ tâm linh vẫn quan trọng hơn rất nhiều. Vì việc gặp gỡ thể chất chỉ có ý nghĩa khi đã có sự gặp gỡ tâm linh. Vì nếu chỉ gặp gỡ về mặt thể chất thì không phải là gặp gỡ thật sự. Đó là trường hợp «vô duyên đối diện bất tương phùng» (5*), giống như bọn kinh sư Do Thái gặp và chất vấn Chúa Giêsu, nhưng hai bên không thật sự «gặp gỡ» nhau. 

(5*) Trong văn chương Việt Nam ta có câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng», nghĩa là có duyên với nhau thì dù nghìn trùng xa cách vẫn có thể gặp nhau, nhưng không có duyên với nhau thì dù có mặt đối mặt nhau vẫn không thể gặp nhau thật sự.
Như vậy, nếu không có sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, thì có gặp gỡ bằng thể chất, dù là hằng ngày, cũng vô ích. Do đó, điều quan trọng là gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh và trong tâm linh của ta, chứ không phải gặp gỡ bằng thể chất như chúng ta đã từng quá chú trọng, mà coi nhẹ sự gặp gỡ tâm linh. Thật vậy, người ta có thể rước Thánh Thể hằng ngày mà không hề gặp gỡ Thiên Chúa, chỉ vì người ta đã không gặp gỡ Ngài bằng tâm linh, là cách gặp gỡ mà Chúa Giêsu muốn nói đến khi tiếp xúc với người phụ nữ Samari về nơi thờ phượng và gặp gỡ Thiên Chúa (x. Ga 4,21.23-24). Chỉ sau khi gặp gỡ Thiên Chúa trong tâm linh, người ta mới có thể gặp gỡ Ngài ở bất cứ nơi nào khác: trong phép Thánh Thể, trong thiên nhiên, trong vạn vật.



5.  Gặp gỡ Thiên Chúa qua các bí tích

Tuy nhiên, chúng ta không nên coi nhẹ sự gặp gỡ Thiên Chúa qua các bí tích, nhất là qua phép Thánh Thể, vì con người có thể chất, và vì thể chất ảnh hưởng rất mạnh đến tinh thần hay tâm linh. Nếu không có sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, thì gặp gỡ qua thể chất là vô ích. Nhưng nếu chỉ gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh thì chưa đủ đối với con người có hồn có xác. Nếu đã gặp gỡ trên bình diện tâm linh, thì sự gặp gỡ về thể chất sẽ làm cho sự gặp gỡ đó thắm thiết lên gấp bội và ích lợi cho con người cũng tăng lên gấp bội. 

Điều đó tương tự như trong sự gặp gỡ giữa vợ chồng. Nếu không có sự gặp gỡ bằng tâm hồn, bằng tình yêu chân thật, thì sự gặp gỡ thể xác sẽ trở thành vô ý nghĩa. Nhưng nếu đã gặp gỡ bằng tâm hồn, bằng tình yêu chân thật, thì sự gặp gỡ đó đòi hỏi phải có sự gặp gỡ thể xác như một nhu cầu thiết yếu. Và sự gặp gỡ thể xác ấy sẽ làm cho sự gặp gỡ tinh thần kia hạnh phúc lên gấp bội. Và phải gặp gỡ trên cả hai bình diện đó thì đôi vợ chồng mới đúng nghĩa là vợ chồng… 

Cũng vậy, có gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh trước thì việc gặp gỡ Ngài qua thể chất mới có ý nghĩa. Vì thế, Giáo Hội buộc những ai lãnh bí tích Thánh Thể hay các bí tích khác (trừ rửa tội và giải tội) phải chuẩn bị trước, và điều quan trọng là phải sạch tội trọng… Đó là một hình thức Giáo Hội buộc người tín hữu phải gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh trước đã, trước khi gặp gỡ Ngài qua những dấu chỉ hữu hình vật chất. Nhưng đáng tiếc là nhiều tín hữu đã hiểu sự đòi hỏi chuẩn bi trước này một cách quá thô thiển và ngây ngô, nên đã không nếm được «mùi vị tuyệt vời» và hưởng những ơn ích dồi dào do sự gặp gỡ Đức Kitô qua thể chất. Các bí tích khác cũng vậy.

Nếu người nào chỉ bằng lòng với việc gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, không đếm xỉa gì đến việc gặp gỡ Thiên Chúa qua bí tích, thì việc gặp gỡ bằng tâm linh đó chưa hẳn đã là một sự gặp gỡ đích thật. Thật thế, có cặp vợ chồng nào yêu thương nhau thực sự −tức đã gặp gỡ về tinh thần− mà lại không có nhu cầu gặp gỡ về thể chất? Trong tám cái khổ của Khổ Đế Phật Giáo (6*), có một nỗi khổ rất lớn là «ái biệt ly khổ», nghĩa là nỗi đau khổ do yêu thương nhau mà phải sống xa cách nhau. 

(6*) Khổ Đế là một trong bốn Thánh Đế của Tứ Diệu Đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế) của Phật giáo.

Vì thế, khi đã thực sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh rồi mà không được gặp Ngài qua thể chất, thì chắc chắn đó phải là một nỗi khổ, vì tình yêu chưa được thỏa mãn. Đấy là lý do khiến các thánh say sưa quì hàng giờ trước Thánh Thể Chúa. 

Gặp gỡ tâm linh càng đậm đà sâu thẳm bao nhiêu, thì gặp gỡ qua bí tích càng là một nhu cầu cấp bách, càng có ý nghĩa và càng sinh hoa trái bấy nhiêu.



6. Quá trình nội tâm hóa Thiên Chúa

Quá trình tìm hiểu, gặp gỡ và sống với Thiên Chúa càng đi vào chiều sâu, thì vị trí của Thiên Chúa đối với tâm hồn con người càng gần gũi hơn, càng đi vào nội tâm con người hơn.

− Khởi đầu, người ta quan niệm Thiên Chúa hoàn toàn ở ngoài con người, sự độc lập về mặt hữu thể giữa Thiên Chúa và con người rất lớn: Thiên Chúa là một thực tại siêu việt hoàn toàn bên ngoài con người.

− Dần dần con người khám phá ra rằng Thiên Chúa cũng ở ngay trong bản thân mình, trong tâm hồn mình, nhưng sự kết hợp chưa đi đến độ thắm thiết. Thiên Chúa ở trong con người, nhưng Thiên Chúa và con người vẫn có thể không gặp nhau, vì tương đối vẫn còn khá độc lập với nhau.

− Đến thánh Phaolô, Ngài đã cảm nghiệm được chính Thiên Chúa sống và hoạt động qua con người mình. Sự kết hợp giữa hai hữu thể đã đi đến độ thâm sâu: con người cảm thấy bản ngã của mình như tan biến đâu mất, chỉ còn có Thiên Chúa chiếm hoàn toàn con người mình, đến độ: «Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20. X. Rm 8,10-11). Thiên Chúa và con người tuy là hai hữu thể khác biệt, nhưng đi đến chỗ kết hiệp với nhau rất mật thiết.

− Đến thánh Âu-Tinh: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn cả chính tôi thân mật với tôi nữa» (7*): Thiên Chúa trở thành cái gì căn bản nhất, thâm sâu nhất trong tôi, hơn cả chính bản ngã của tôi.

(7*) «Deus intimior intimo meo»: Không ai thân mật với tôi hơn chính tôi thân mật với tôi, ngoại trừ Thiên Chúa. Ngài còn thân mật với tôi hơn chính tôi thân mật với tôi. Nói khác đi, Ngài còn «là tôi» hơn chính tôi là tôi nữa, nghĩa là Ngài là cái gì thâm sâu nhất trong bản thân tôi, hơn cả chính tôi nữa.
Đó là quá trình nội tâm hóa Thiên Chúa của con người. Thiên Chúa không chỉ siêu việt (transcendant) ngoài con người, mà còn nội tại (immanent) trong chính con người nữa.



7.  Hãy cảm nghiệm Thiên Chúa ngay trong bản thân mình

Thiên Chúa nội tại trong ta và là nền tảng của hữu thể ta. Vậy thì còn phải tìm Thiên Chúa ở đâu nữa? Vấn đề không còn là tìm kiếm Thiên Chúa, mà chỉ là ý thức và giác ngộ được Thiên Chúa ở nơi mình và mình đang sống trong Thiên Chúa. Con cá sẽ không bao giờ tìm thấy nước bao lâu nó chưa biết rằng nó đang sống trong nước và nước cũng đang có trong nó. 

Sở dĩ ta không cảm nghiệm được Thiên Chúa đang đầy tràn chung quanh ta và đầy tràn ngay trong ta, là vì ta đã để cho những biểu hiện của Thiên Chúa che mất chính Ngài. Cũng như khi coi phim, ta không còn thấy màn ảnh nữa chỉ vì mắt ta đã tập trung vào hình ảnh đang diễn ra trên màn ảnh (8*). Màn ảnh vẫn đang ở ngay trước mắt ta mà ta không nhìn thấy vì ta không để ý đến nó. 

(8*) Minh họa này là của Cha ANTHONY DE MELLO(s.j.), trong cuốn Contact with God, Loyola University Press, Chicago1991.
Trong khi xem phim, muốn thấy màn ảnh, ta chỉ cần nhìn vào chính những hình ảnh đang thay đổi, đồng thời dùng trí tuệ để nhận ra cái nền tảng không thay đổi của những hình ảnh ấy, tức màn ảnh. Màn ảnh và các hình ảnh thay đổi ấy, một cách nào đó, «tuy hai mà một», nhưng cũng đồng thời cũng «tuy một mà hai». Lìa bỏ tất cả mọi hình tướng thay đổi của sự vật, ta sẽ nhận ra ngay cái bất biến hiện diện trong chính những cái thay đổi ấy. Đó là một cách để cảm nghiệm Thiên Chúa, một cách rất Đông phương, luôn luôn bàng bạc trong giáo lý của các tôn giáo Đông phương.

Thiên Chúa phần nào cũng như dòng điện, chúng ta không hề thấy dòng điện bao giờ, chỉ thấy được những biểu hiện của dòng điện qua bóng đèn sáng, quạt máy quay, bếp điện nóng, tủ lạnh tỏa hơi lạnh, hay qua những điện kế, v.v... Nếu dòng điện cụ thể đối với chúng ta thế nào, thì tương tự, Thiên Chúa cũng cụ thể với chúng ta y như vậy và còn hơn như vậy. Có vô số những biểu hiện của Thiên Chúa mà ta có thể cảm nghiệm được từng giây từng phút trong bản thân ta và chung quanh ta.

cảm nghiệm được Thiên Chúa, ta mới thưởng nếm được Ngài. Nếm được Ngài, ta mới có sức mạnh, trí tuệ, hạnh phúc và giải thoát. Đáng tiếc thay, rất nhiều Kitô hữu chỉ chú trọng đến sự hiểu biết, các tín điều về Thiên Chúa mà không tìm cách cảm nghiệm Ngài. Do đó, đối với những người ấy, trong đời sống thực tế, tin và không tin dường như chẳng có gì khác biệt hay biến đổi trong đời sống, chẳng làm cho họ nên tốt lành, thánh thiện và hạnh phúc hơn bao nhiêu.

Không gặp gỡ, cảm nghiệm và thưởng nếm Thiên Chúa, đời sống tâm linh của họ trở nên nghèo nàn, yếu ớt, vì tâm linh họ không có của ăn, hay không ăn được những lương thực đích thật bổ dưỡng.



8. Đời sống tâm linh

Sự sống chỉ có một, nhưng được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau: đời sống thực vật, đời sống động vật, đời sống tình cảm, đời sống trí thức, và cao nhất là đời sống tâm linh. Con người hơn con vật ở chỗ có đời sống tình cảm và trí thức, nhưng hơn rất xa con vật ở chỗ có thể có đời sống tâm linh. Mỗi cấp độ của sự sống đều có những của ăn riêng biệt. Đời sống thực vật và động vật cần những của ăn vật chất (nước, glucid, protid, lipid, vitamine…). Đời sống tình cảm được nuôi bằng những cảm xúc, tâm tình. Đời sống trí thức được nuôi bằng kiến thức, kinh nghiệm, suy tư… Đời sống tâm linh đương nhiên cũng cần của ăn riêng biệt thích hợp. Vậy, tâm linh sống bằng gì?

Đời sống tâm linh là đời sống của linh hồn. Con người khác hẳn con vật ở chỗ có linh hồn, nên chỉ có những sinh vật từ con người trở lên mới có đời sống tâm linh. Chính nhờ có linh hồn mà con người là «hình ảnh của Thiên Chúa» (x. St 1,26.27). Thiên Chúa là «Linh» (thần linh), và linh hồn con người cũng là «linh», con người giống Thiên Chúa và là hình ảnh của Ngài chủ yếu về mặt này. Nhờ có linh hồn, con người mới có thể tham dự vào sự sống thần linh của Thiên Chúa, là sự sống Ngài chỉ ban cho con cái Ngài. Chính nhờ có linh hồn mà tự thâm sâu, con người vẫn tự nhiên hướng về Ngài, một cách ý thức hoặc vô thức, và chỉ được thỏa mãn khi nghỉ yên trong Ngài. 

Có thể nói đời sống tâm linh là đời sống kết hiệp với Thiên Chúa, khiến ta cảm thấy mình tan hòa trong Ngài, và lúc đó, «cái tôi» nhỏ bé hẹp hòi của mình dường như biến mất, khiến ta không còn thấy mình sống nữa, mình chỉ thấy Thiên Chúa sống trong mình (x. Gl 2,20).

Đời sống tâm linh không phải là một đời sống mà người ta chỉ có thể quan niệm được mà thôi. Thực ra, nó phải là một đời sống mà ta có thể cảm nghiệm được (9*)

(9*) Xem lại cước chú 1 về trường hợp của Ramakrishna, vị đạo sĩ Ấn giáo có thể cảm nghiệm Thượng Đế một cách mãnh liệt, cụ thể.
Một người có đời sống tâm linh cao và phong phú có thể cảm nghiệm được linh hồn mình cũng y như cảm nghiệm được thể xác mình. Và có cảm nghiệm được linh hồn mình, tâm linh mình, thì mới mong cảm nghiệm được chính Thiên Chúa. Không ai có thể tự hào mình có đời sống tâm linh dồi dào khi chính mình không cảm nghiệm được đời sống đó. Cũng như một người có đời sống trí thức dồi dào, thì phải cảm nghiệm được mình hiểu biết, suy tư, ý thức về chính mình. Hay cũng như một người có đời sống tình cảm thì phải cảm nghiệm được những nỗi vui buồn, thương ghét của mình… Vì chúng ta có khả năng biết về mình chứ không vô ý thức như con vật. Vậy, chẳng lẽ chúng ta có đời sống tâm linh thật sự mà lại không cảm nghiệm được nó?



9. Đời sống tâm linh phát triển thế nào?

Đời sống tâm linh của nhiều người chỉ ở dạng «hạt», chưa nảy mầm thành «cây» được, nghĩa là vẫn ở dạng tiềm năng (in potentia), chứ chưa ở dạng hiện thể (in actu). Hạt đó chính là «cái tôi ý thức» của ta, là cái tôi ích kỷ của ta. Cái tôi đó chính là cái hạt có thể nảy mầm để phát sinh ra đời sống tâm linh. Và bí quyết để làm cho hạt đó nảy mầm là nó phải «chết» đi, như Đức Giêsu từng nói: «Hạt lúa được gieo vào lòng đất nếu không chết đi, nó vẫn chỉ là hạt lúa, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác» (Ga 12,24)

Thật vậy, nếu ta không để cho cái tôi ích kỷ của ta nhỏ bé và chết đi, thì hạt giống tâm linh của ta không thể nảy mầm và phát triển được. Nếu ta yêu cái tôi của mình quá, chỉ muốn nó được trương phình ra lấn át cả tha nhân, chắc chắn đời sống tâm linh của ta rất nghèo nàn, què quặt. Đức Giêsu nói: «Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25)

Giữa «Đức-Kitô-ở-trong-tôi» −tức sự sống thần linh trong tôi− với «cái tôi» của tôi luôn luôn có sự tỉ lệ nghịch với nhau: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30). Nếu tôi coi «cái tôi» của mình lớn quá, ắt nhiên «Đức-Kitô-ở-trong-tôi» phải nhỏ đi. Như vậy, cái cản trở đời sống tâm linh của ta nẩy mầm và phát triển, chính là cái tôi ích kỷ của ta. Làm cho cái tôi đó nhỏ lại, chết đi, thì Đức Kitô mới sinh ra và «thành hình trong tâm hồn ta» (Gl 4,19).

Đó quả là một quá trình giác ngộ và lột xác. Và kể từ đây, Đức Kitô trở thành của ăn cần thiết nuôi dưỡng đời sống tâm linh của ta.



10. Đức Kitô, lương thực tâm linh

Chúng ta không nên hiểu Đức Kitô theo kiểu những người đồng làng với Ngài đã hiểu. Họ hiểu Đức Kitô một cách rất cụ thể và phiến diện: là người có tên Giêsu, con ông Giuse và bà Maria, cùng sống ở làng Nazarét với họ và như họ (x. Mt 13,55-56). Nếu ta hiểu Đức Giêsu như thế thì quả không sai, nhưng một Đức Kitô như thế chẳng ích lợi gì cho ta, giống như Ngài chẳng làm được gì cho dân làng của Ngài khi họ quan niệm về Ngài như thế. 

Ta phải thấy Ngài là một thực tại «từ Trời xuống» (Ga 8,23; 6,38), không phải là người «thuộc về thế gian này» (Ga 8,23), nghĩa là một thực tại tâm linh cần phải được nội tâm hóa nơi mỗi người. Có như thế, Ngài mới trở thành của ăn nuôi dưỡng đời sống tâm linh được, vì của ăn phải là tâm linh mới nuôi dưỡng tâm linh được.

Của ăn tâm linh ở đây, tức Đức Kitô, không phải chỉ là một con người cá biệt nào đó, mà là một vị Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, đầy yêu thương, đầy sức mạnh. Biến Ngài thành của ăn, hay «ăn» Ngài, có nghĩa là là nội tâm hóa Ngài, biến Ngài thành tâm linh của ta, thành nội tâm của ta, thành sự sống của ta, để ta không còn thấy ta sống, suy nghĩ, nói năng, hành động nữa, mà là thấy Ngài sống, suy nghĩ, nói năng, hành động trong ta (x. Gl 2,20). Và hành vị «ăn» Ngài ở đây là một hành vị của ý thức, của trí tuệ, chứ không phải là hành vi «nuốt vào bụng». Nghĩa là luôn luôn ý thức Ngài sống trong ta, đang hành động trong ta, đang biến đổi ta. «Ăn» Ngài, chính là lấy Ngài làm lẽ sống, để Ngài chiếm trọn «bầu trời ý thức» của ta.

Và sau một quá trình được nuôi dưỡng bằng lương thực tâm linh ấy, cái tôi ích kỷ của ta càng ngày càng được thay thế dần dần bằng «chất Ngài», hay «tính Kitô», đầy yêu thương, vị tha, phục vụ. Sự sống tự nhiên đầy khiếm khuyết của ta được thay thế dần dần bằng sự sống siêu nhiên toàn hảo của Ngài. Và ta càng ngày càng được tham dự vào tính chất toàn năng toàn thiện, vào tình thương và sức mạnh của Ngài. 

Sự sống đời đời, theo một nghĩa nào đó, chính là đời sống tâm linh mà Đức Giêsu hứa ban, phát xuất từ sự «ăn thit và uống máu Ngài», được hiểu theo nghĩa tâm linh chứ không chỉ được hiểu theo nghĩa thể xác như những người Nazarét thời xưa đã hiểu.


Kết luận 

Tình yêu được nuôi dưỡng bằng những gặp gỡ, những tương quan thân mật giữa hai người, bằng sự hy sinh, bằng những biểu lộ tình yêu qua cử chỉ, ánh mắt, lời nói… Tình yêu sẽ giảm hay mất đi khi thiếu những «lương thực» đó, hoặc trái lại sẽ tăng lên và sinh hoa kết trái nếu được nuôi dưỡng đầy đủ bằng những «lương thực» đó. 

Tương tự, đời sống tâm linh hay sự sống thần linh cũng phải được nuôi dưỡng bằng «lương thực» riêng của nó. Sự sống thần linh là sự sống của chính Thiên Chúa và xuất phát từ chính Thiên Chúa. Vì thế nó phải được nuôi dưỡng bằng chính Thiên Chúa, hay cụ thể hơn, bằng sự gặp gỡ thân mật với Thiên Chúa. Sự gặp gỡ ấy chính là bản chất của cầu nguyện. Vì thế, nói một cách khác, cầu nguyện là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh con người.

Nhưng để có thể thật sự nuôi dưỡng đời sống tâm linh, thì cầu nguyện phải là sự gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa. Nhưng, muốn gặp gỡ Thiên Chúa thì trước hết phải «có duyên» với Ngài, như tinh thần của câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng», nghĩa là ta phải một cách nào đó đồng cảm với Ngài. Khi nói chuyện với một người đồng cảm với ta, ta cảm thấy có sự gặp gỡ thật sự. Còn khi nói chuyện với một người quan niệm, suy nghĩ, chủ trương khác hẳn với ta, ta thấy khó nói chuyện, và nếu cứ cố nói chuyện thì chỉ đi đến cãi lộn, tranh chấp, chứ không nhất trí với nhau được. Như vậy, «có duyên» hay «đồng cảm» với Thiên Chúa nghĩa là gì?

Thánh Gioan cho biết: «Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu» (1 Ga 4,7-8). Thánh nhân cho thấy, chỉ những ai có tình yêu, những ai biết yêu thương mọi người bằng một tình yêu vị tha, phổ quát, thì mới là người đồng cảm với Thiên Chúa. Chỉ những người đó mới có thể gặp được Thiên Chúa. Vì thế, nếu bản chất của cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, thì chỉ những ai biết yêu thương mới có thể cầu nguyện đúng nghĩa được. Và tình yêu đòi hỏi ta phải ra khỏi chính mình, bớt quan tâm đến mình, để có khả năng đến với tha nhân, lưu tâm đến hạnh phúc hay đau khổ của họ, đến những nhu cầu và mong ước của họ, để làm cho họ nên tốt và hạnh phúc hơn.

Như thế, điều kiện tiên quyết để có thể cầu nguyện, gặp gỡ Thiên Chúa, và nuôi dưỡng đời sống tâm linh, là phải có tình yêu. Vì thế, muốn cho đời sống tâm linh của mình vững mạnh, phải thực tập đức mến, thể hiện những đặc trưng của đức mến trong đời sống của mình: «Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui mừng khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chiu đựng tất cả» (1Cr 13,4-7)

Không có tâm yêu thương hay đức mến (x. 1Cr 13,1-3) được biểu lộ thành những hành động cụ thể (Gc 2,17.26), người ta không thể gặp gỡ Thiên Chúa, không thể «gắn liền với» Đức Giêsu hay Thiên Chúa và «ở lại trong» Ngài, và do đó, đời sống tâm linh không thể phát triển và sinh hoa kết trái tâm linh được.


Nguyễn Chính Kết





Share:

PS5a − Hãy «gắn liền với» Đức Giêsu và «ở lại trong» Ngài để sinh nhiều hoa trái




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 5 Mùa Phục Sinh

(29-4-2018)

Bài chia sẻ

Hãy «gắn liền với» Đức Giêsu 
và «ở lại trong» Ngài để sinh nhiều hoa trái



ĐỌC LỜI CHÚA

  Cv 9,26-31: (31) Hồi ấy, trong khắp miền Giuđê, Galilê và Samari, Hội Thánh được bình an, được xây dựng vững chắc và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông, nhờ Thánh Thần nâng đỡ. 

  1Ga 3,18-24: (23) Đây là điều răn của Người, chúng ta phải tin vào danh Đức Giêsu Kitô, Con của Người, và phải yêu thương nhau, theo điều răn Người đã ban cho chúng ta. 

  TIN MỪNG: Ga 15,1-8

Cây nho thật

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ: (1) «Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. (2) Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. (3) Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. (4) Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. 

(5) Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. (6) Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. (7) Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. (8) Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là, Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy». 



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Câu «cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi» nghĩa là gì? Tại sao gắn liền với Đức Giêsu mà lại không sinh hoa trái? Câu này ám chỉ loại người nào? 
2. Câu «cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn» nghĩa là gì? Chữ «cắt tỉa» ở đây ám chỉ điều gì? Tại sao lại phải «cắt tỉa»? 
3. Từ ngữ «ở lại trong» và «gắn liền với» Đức Giêsu phải được thể hiện thế nào trong đời sống của ta?

Suy tư gợi ý:

1. «Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi» (Ga 15,2a)

Đức Giêsu tự ví mình là cây nho, và những người theo Ngài là những cành nho. Cành nho sống được là nhờ thân nho. Rời thân nho, cành nho sẽ khô héo và bị quăng vào lửa. Tuy nhiên, Đức Giêsu đưa ra trường hợp này: có những cành nho, tuy gắn liền với cây nho, nhưng lại không sinh hoa trái. Trường hợp này, cành nho sẽ bị chặt khỏi cây nho. 

Nói đến trường hợp này, người Kitô hữu không khỏi nghĩ về bản thân mình: liệu đó có phải là trường hợp của mình không? Vì người Kitô hữu là người gắn liền với Đức Giêsu, nhưng quả thật có rất nhiều Kitô hữu suốt bao năm trường đã chẳng sinh ra hoa trái nào! 

Biết bao Kitô hữu theo Đức Giêsu từ nhỏ tới lớn, thậm chí tới già, nhưng xét cho kỹ và nói cho khách quan, thì họ chẳng tốt hơn người ngoại loại trung bình chút nào! Nhiều người còn tệ hơn cả những người ngoại loại ấy nữa! Họ sẵn sàng ăn gian nói dối, đối xử bất công, sống không tình nghĩa, v.v… 

Tương tự, có biết bao linh mục, tu sĩ, mang danh theo Chúa hàng chục hay mấy chục năm, nhưng chẳng tốt hơn những giáo dân bình thường bao nhiêu, đôi khi còn tệ hơn! Sách Khải Huyền nói về hạng người này: «Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta» (Kh 3,15-16).

Trường hợp này rất có thể đúng cho tôi, cho bạn. Vì thế, mỗi người chúng ta cần phải tự vấn mình trước mặt Chúa, để sửa đổi trước khi quá muộn. Chúa vẫn luôn chờ đợi chúng ta sửa đổi, để Ngài khỏi phải ra tay! «Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống» (Ed 18,23; 33,11; x.33,19)



2. «Cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn» (Ga 15,2b)

Người làm vườn giỏi biết chăm sóc cây thì biết cắt tỉa cành để nó sinh nhiều hoa trái hơn. Nếu người Kitô hữu là cành nho, Đức Giêsu là cây nho, Thiên Chúa Cha là người trồng nho, thì ắt nhiên Chúa Cha sẽ phải «tỉa cành» để người Kitô hữu «sinh nhiều hoa trái» hơn. 

Người Kitô hữu «sinh nhiều hoa trái» là người có nhiều tiến bộ về mặt tâm linh (mến Chúa yêu người ngày càng nhiều hơn). Và Chúa Cha «tỉa cành» là giúp người Kitô hữu bỏ bớt những bận tâm vô ích để có thể tập trung năng lực vào việc tiến bộ tâm linh. Ngài có thể làm điều ấy bằng cách làm cho người Kitô hữu ấy bị thiệt thòi mất mát về vật chất, thể chất, cũng như tinh thần (danh dự, tình cảm, quyền bính, uy tín, v.v...), hoặc cho người ấy trải qua những đau khổ thử thách. Vì những đau khổ thử thách có khả năng thánh hóa rất hữu hiệu.

Chính Đức Giêsu, thánh thiện như vậy mà cũng được Chúa Cha «tỉa cành» cho Ngài. 

− Thánh Phaolô nói về điều ấy: «Thiên Chúa (…) đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giê-su trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn dẫn đưa mọi người tới nguồn ơn cứu độ» (Dt 2,10). Như vậy, theo thánh Phaolô, nhờ chịu gian khổ mà Đức Giêsu trở nên một người lãnh đạo hoàn hảo. 

− Tin Mừng cũng nói: «Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?» (Lc 24,26)

Còn chúng ta, Thiên Chúa cũng mời gọi chúng ta chia sẻ đau khổ với Đức Giêsu, để cùng tham dự vào vinh quang và hạnh phúc của Ngài: 

− «Một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người» (Rm 8,17)

− «Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ» (1Pr 4,13)

− «Phần anh em là những kẻ phải chịu khổ ít lâu, chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường» (1Pr 5,10)

Đọc hạnh các thánh ta thấy hầu như vị thánh nào cũng đều có kinh nghiệm được Thiên Chúa thánh hóa bằng đau khổ. Chẳng hạn, thánh Têrêxa Avila đã bị Thiên Chúa thử thách bằng biết bao đau khổ, đến độ thánh nhân phải kêu lên: «Chúa đối xử với bạn bè Chúa như vậy, hèn chi Chúa ít bạn là phải!» 

«Chúa ít bạn là phải!» vì nhiều người dù biết rằng đau khổ có tác dụng thánh hóa bản thân, nhưng vẫn sợ và tránh né đau khổ: nếu phải đau khổ mới nên thánh thì thôi, thà đừng nên thánh! Nghĩ như thế thật là nông cạn, vì nên thánh, nên hoàn hảo là điều rất quí giá: Những đau khổ ta phải chịu chẳng là gì cả so với vinh quang và hạnh phúc ta được nhờ sự hoàn hảo thánh thiện, và sự thánh thiện hoàn hảo này ta đạt được là nhờ đau khổ. 

− Thánh Phaolô viết: «Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta!» (Rm 8,18)

− Thánh Phêrô cũng khuyên ta đừng sợ hãi đau khổ: «Nếu anh em chịu khổ vì sống công chính, thì anh em thật có phúc! Đừng sợ những kẻ làm hại anh em và đừng xao xuyến» (1Pr 3,14)

− Vua Đavít cũng nhận ra ích lợi của đau khổ đối với sự thánh thiện: «Đau khổ quả là điều hữu ích, để giúp con học biết thánh chỉ Ngài» (Tv 119,71)

Người tốt chấp nhận đau khổ vì đau khổ Chúa gửi đến cho mình chẳng những làm cho mình nên công chính, mà còn đền tội cho người khác và giúp họ nên thánh thiện nữa: «Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh được tội lỗi của họ» (Is 53,11)

Như vậy, tự nguyện chấp nhận đau khổ (chịu đau đớn, cực hình, chịu thiệt thòi, mất tiền, mất thì giờ, mất sức khỏe, bị nghi ngờ, hàm oan, v.v...) vì tha nhân là một hành vi bác ái, là một phương tiện thực hiện yêu thương. Vì nhờ ta chấp nhận đau khổ mà nhiều người nên công chính và được hạnh phúc. Vì thế, người có lòng yêu thương thật sự sẽ sẵn sàng lợi dụng đau khổ của mình để làm lợi cho người khác. 



3. «Gắn liền với» hay «ở lại trong» Đức Giêsu là gì?

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu dùng nhiều lần hai từ ngữ «ở lại trong» và «gắn liền với» Ngài, và coi đó như điều kiện cần thiết để «sinh hoa trái» (Ga 15,2) hay «sinh nhiều hoa trái» (Ga 15,5). Chẳng hạn câu: «Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy» (Ga 15,4)

Hai từ ngữ ấy có nghĩa gì? Chúng ta đã thật sự «ở lại trong» và «gắn liền với» Đức Giêsu chưa? – Thực ra, ai là người Kitô hữu thì cũng, một cách nào đó, đã «ở lại trong» và «gắn liền với» Đức Giêsu rồi. Nhưng phải nói rằng tình trạng ấy có nhiều mức độ khác nhau, từ hời hợt bên ngoài đến thâm sâu bên trong.

Thật vậy, nhiều người mang danh Kitô hữu, nhưng chẳng có tinh thần Kitô hữu bao nhiêu. Họ là những người Kitô hữu «hữu danh vô thực». Thánh Phaolô có nói về một tình trạng tương tự như vậy trong Do-thái giáo (x. Rm 2,17-23). Có nhiều Kitô hữu có vẻ rất ngoan đạo, đi lễ và rước lễ hằng ngày, có vẻ rất hăng hái trong những việc liên quan đến nhà thờ, hội đoàn, công tác tông đồ. Nhưng đời sống của họ lại chẳng toát lên được tinh thần Kitô giáo, là chân thật, công bằng, yêu thương, thông cảm, tha thứ (x. Mt 23,23b).

Tình trạng «ở lại trong» và «gắn liền với» Đức Giêsu phải được thể hiện trong ba phạm vi:

Ý thức: luôn luôn ý thức Đức Giêsu ở với mình, ở trong mình. Ngài là tình yêu và sức mạnh của mình. Ngài vô cùng quyền năng, nên với Ngài ta có thể làm được mọi sự. Luôn luôn ý thức Ngài yêu thương mình, nên hoàn toàn tin tưởng và phó thác mọi sự cho tình yêu của Ngài. Nhờ đó, ta luôn luôn bình an, không phải lo lắng gì cho bản thân mình: «Chúa khoan nhân là mục tử tôi, tôi không còn thiếu gì, tôi không còn e sợ nỗi gì…» (Tv 23). Ý thức này phải trở thành một tâm trạng thường hằng của ta.

•  Tình cảm: luôn luôn yêu mến Ngài, hướng về Ngài, lấy Ngài là lẽ sống cho cuộc đời mình. Vì thế, dấn thân hết mình cho Ngài, cho Nước Ngài, cho kế hoạch cứu độ của Ngài, một cách quảng đại, không so đo tính toán. Ngoài ra, tình yêu của ta đối với Ngài phải được thể hiện cụ thể nơi những hiện thân của Ngài, là tha nhân chung quanh ta, đặc biệt những người gần gũi ta nhất (cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè…)

•  Hành động: luôn luôn làm theo ý muốn của Ngài, theo sự đòi hỏi của tình yêu trong lòng mình. Ý muốn của Ngài được thể hiện qua lời Ngài, qua luật yêu thương của Ngài, qua tiếng lương tâm, qua những biến cố hay hoàn cảnh xảy ra trong đời, đặc biệt những nghịch cảnh.

•   Quan niệm: có cách nhìn, cách quan niệm về mọi vấn đề, mọi thực tại giống như Ngài nhìn hay quan niệm. Có như vậy, ta mới biết được Ngài muốn gì để làm theo ý muốn của Ngài, biết được động lực hay lý do tại sao Ngài làm thế này mà không làm thế kia, để bắt chước, noi gương Ngài. Muốn thế thì phải đọc và suy gẫm Tin Mừng để nhận ra cách Ngài nhìn hay cách Ngài quan niệm vấn đề thế nào. 

Khi luôn luôn «gắn liền với» hay «ở lại trong» Ngài một cách đúng nghĩa, ta sẽ nhận được sức sống, sức mạnh của Ngài, và đời ta sẽ trở thành một cuộc đời tươi đẹp, ý nghĩa, chẳng những đầy sức mạnh, an vui, hạnh phúc mà còn là nguồn sức mạnh, nguồn an vui hạnh phúc cho mọi người nữa.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha là nguồn sống, nguồn sức mạnh, nguồn tình yêu của muôn loài vạn vật. Con muốn «gắn liền với» Cha, hay «ở lại trong» với Cha để nhận được sự sống, sức mạnh và tình yêu hầu sống một cuộc sống tươi đẹp, ích lợi, đồng thời để những ai tiếp xúc với con cũng nhận được sự sống, sức mạnh và tình yêu của Cha từ nơi con. Xin hãy giúp con gắn bó mật thiết với Cha.

Nguyễn Chính Kết




Share:

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

Những gì đáng sợ hơn cái chết?



Những gì đáng sợ hơn cái chết?
Vũ Thạch


«Chết diễm phúc phải là chết già, trên giường, và có người chung quanh khóc ầm ĩ».

Ít nhất đó là hình ảnh hầu hết người Việt chúng ta được dậy từ thuở nhỏ. Hơn thế nữa, chúng ta còn nghĩ  hình ảnh «chết lý tưởng», «chết êm ả» đó cũng là ước muốn chung của loài người. Chí ít cũng bao gồm mọi người thuộc văn hóa Đông phương.

Nhưng thật thế không?

Có ngay thí dụ: Một trong những điều giới võ sĩ đạo Nhật sợ nhất là phải chết già, chết trên giường. Họ tha thiết cầu phật khấn thần để đừng phải chết như vậy. Cảnh một samurai lưng còng, chân tay run rẩy, không cử động được theo ý muốn, ngay cả đi đứng cũng phải cậy dựa vào người khác là cơn ác mộng đối với họ. Rõ ràng viễn cảnh trở nên «vô dụng» đối với họ đáng lo hơn cái chết.

Và có thể nói hầu hết chiến binh phương Đông, từ Mông Cổ đến Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, đều khoái được «da ngựa bọc thây» hơn nằm giường.

Sang đến văn hóa phương Tây thì người ta lại càng không thích để lại hình ảnh chết già. Người càng có học, có tài, có tiếng càng muốn cả người thân lẫn công chúng chỉ nhớ tới thời điểm cực thịnh mà họ đẹp nhất, thành công nhất, quyền thế nhất, hay sáng chói nhất về trí tuệ. Rõ ràng họ quan tâm đến di sản họ để lại hơn cái chết rất nhiều.

Do đó, quan điểm «chết già là sướng» chẳng đáng được điểm cao đến thế đâu. Và ngược lại «chết lúc chưa già» cũng chưa chắc đáng sợ như ta vẫn nghĩ. Còn lắm thứ đáng sợ hơn cái chết nhiều.

Nhiều cán bộ lớn tuổi tâm sự điều mà họ sợ nhất vào cuối cuộc đời là phải nhìn lại những gì họ đã làm hay không làm trong những năm dài đã qua. Từ đó, họ sợ những nạn nhân đang chờ họ ở thế giới bên kia hơn sợ cái chết, vì chết chỉ là ngưỡng cửa bước qua trong khoảng khắc. Với thời đại Internet, chúng ta có thể thấy được khá nhiều lãnh đạo đảng đi qua giai đoạn cuối đời như vậy, kể cả những hung thần một thời như Tố Hữu, Lê Khả Phiêu, …

Cũng có lãnh đạo sợ phải đối diện những người bạn đang chờ họ bên kia thế giới hơn cả cái chết. Đó là những đồng đội mà họ từng phản bội hay bỏ rơi để giữ an toàn cho bản thân, kể cả những người đứng lên theo lời kêu gọi của họ. Chúng ta có thể thấy loại ân hận đó ở những ông Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp, …

Và cũng có những lãnh đạo sợ phải thừa nhận mình đã sống qua cả một cuộc đời vô ích, vô nghĩa, vô vị. Vì quá lo an toàn cho bản thân mà chẳng để lại được gì, chẳng hoàn thành được gì. Mà cái chết, tức lằn ranh sau cùng của an toàn, vẫn đến, chẳng né tránh được. Hơn thế nữa, họ phải thừa nhận chính họ là một phần của cỗ máy đem lại điêu linh cho biết bao người khác. Chúng ta có thể nhận ra loại tâm tư này ở những ông Phạm Văn Đồng, Trần Quang Cơ, …

Trong tình trạng thê thảm của dân khí hiện nay, chúng ta khó còn cảm được lời dạy của cha ông: Chết vinh hơn sống nhục. Nhưng 5 chữ đó là kết tinh kinh nghiệm sống của biết bao cuộc đời. Một trong những lý do chết vinh hơn sống nhục là vì «sống nhục» chỉ được một thời gian ngắn rồi vẫn dẫn đến cái chết, mà luôn là «chết nhục». Mọi hối tiếc vào lúc sắp «chết nhục» đều đã quá trễ.

Qui luật đó ứng dụng cho cả nhân loại chứ không riêng gì người Việt. Gần 80 năm trước, hàng triệu người Do Thái khi gần chết trong trại tập trung của Đức Quốc Xã mới quặn lòng hối tiếc đã không tham gia kháng chiến vì sợ chết; hối tiếc đã không mang thân ra hứng đạn cản đường cho vợ con chạy trốn vì sợ chết; hối tiếc đã riu ríu kéo cả nhà lên xe vào trại tập trung vì sợ chết, … để rồi giờ đây vẫn chết, chết riêng từng người, chết từng phần cơ thể vì kiệt lực, và chết với nhận thức từng người trong gia đình mình ở đâu đó cũng đang chết dần ở mức dưới hàng súc vật như mình. Đối với họ cái đau của hối tiếc lớn hơn cái đau của sự chết.

Ngày nay, tại nước ta, cả dân tộc đang bị đẩy vào loại chọn lựa đó. Gần nhất là những bà con tại 4 tỉnh miền Trung đang sống dở chết dở vì thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nhiều người đang phân vân: đứng lên đấu tranh đòi tẩy rửa môi trường bây giờ có thể bị trấn áp nhưng dẫu có chết đi nữa thì vẫn hơn cảnh ngồi nhìn từng người trong gia đình nhiễm ung thư, đau đớn nhiều năm tháng, rồi lần lượt ra đi, kể cả bản thân mình. Cái đau của hối tiếc sẽ lớn hơn nhiều cái đau của sự chết. Còn nếu đứng lên đấu tranh giành lại môi sinh bây giờ, gia đình mình sẽ sống.

Dĩ nhiên câu hỏi lương tâm này cũng được đặt ra cho từng người chúng ta chứ chẳng riêng gì bà con 4 tỉnh miền Trung. Chất độc nay không chỉ có trong cá mà trong hầu hết mọi loại thực phẩm và không từ một ai trên cả nước. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải đóng ngay các cánh cửa dẫn chất độc vào Việt Nam? hay ngồi chờ ngày ung thư đến đón từng người trong gia đình ra đi?

Và còn nhiều quốc nạn khác nữa, đặc biệt là số phận của đất nước sau thời điểm 2020. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên bảo vệ chủ quyền đất nước ngay  bây giờ, bất kể những kẻ cứ nhất định ôm chân quân xâm lược? hay ngồi chờ ngày «chết nhục» dưới chân chủ mới như dân tộc Tây Tạng?  Đến lúc đó có muốn chọn lại cũng đã quá muộn.

oOo

Chẳng ai muốn tìm lấy cái chết nhưng nghĩ cho cùng chết có phải là chuyện khủng khiếp nhất chưa?




Chính trị − Văn hóa − Xã hội
Share:

Truyền thống tàn bạo và dâm đãng của người Trung Hoa



TRUYỀN THỐNG TÀN BẠO VÀ DÂM ĐÃNG CỦA NGƯỜI TRUNG HOA
cfff1,2,3
Xe tăng nghiền nát sinh viên ởThiên An Môn năm 1989
1* Mở bài
Người Trung Hoa có một truyền thống lâu đời về dâm đãng và tàn bạo trong lịch sử loài người. Các hoàng đế thường có tới 3,000 cung phi mỹ nữ, mục đích là để phục vụ tình dục cho nhà vua. Vua chúa đi tìm thuốc trường sinh, thuốc kích dục, cường dâm để sống lâu hành lạc.
Từ thời vua Trụ cho đến Mao Trạch Đông cho thấy tính dâm đãng và tàn bạo của người Trung Hoa.
Người đàn bà nổi tiếng đa dâm , tàn bạo trong lịch sử nước Tàu là Võ Tắc Thiên và sau nầy là Giang Thanh.
1.          CHI TIẾT
1* Võ Tắc Thiên dâm đảng và tàn bạo
1.1. Võ Tắc Thiên tàn bạo
cfff 4 5 6
Võ Tắc Thiên tên thật là Võ Chiếu, sinh ngày 17-7-625, là nữ hoàng duy nhất của TH. Tự xưng là Thánh Thần Hoàng Đế, trị vì 15 năm (690-705).
Vào hậu cung thời Đường Thái Tông (Lý Thế Dân). Lý Thế Dân là con của Lý Uyên, đã giết anh ruột, em ruột và ép buộc vua cha phải nhường ngôi.
Phim bộ Hồng Kông Hoàng Hà Đại Phong Vân có nói về cuộc đời của Lý Thế Dân.
Võ Tắc Thiên được phong làm Tài Nhân, là một trong 9 người thiếp xếp hàng thứ năm của Lý Thế Dân. “Vợ” vua theo thứ tự từ trên xuống dưới là: Hoàng hậu, Hoàng phi, Thần phi, Chiêu nghi và Tài nhân.
Thời gian làm Tài nhân, Võ Tắc Thiên lại tư tình với con của Lý Thế Dân là Thái tử Lý Trị. Khi Lý Thế Dân mất, theo tục lệ thì Võ Tắc Thiên phải vào chùa xuống tóc đi tu.
Lý Trị lên ngôi, rước Võ Tắc Thiên về cung và phong làm Chiêu nghi. (Cấp thứ tư)
Việc nầy làm triều thần phản đối vì Võ Tắc Thiên là vợ của vua cha rồi lại làm thiếp của vua con.
Năm 654, Võ Tắc Thiên sinh con gái đầu lòng, hoàng hậu họ Vương đến thăm, sau khi Vương hoàng hậu ra về, thì Võ Tắc Thiên bóp mũi cho chết con mình để vu oan giá hoạ, khiến cho hàng hậu bị phế bỏ. Võ Tắc Thiên được phong lên làm Thần phi rồi Hoàng hậu. Võ hậu.
Võ hậu lại giết Vương hoàng hậu và con gái của bà một các dã man để trừ hậu hoạn.
Năm 660 Lý Trị bị trúng gió đột quỵ. Thế là Võ Tắc Thiên tham gia triều chính cùng với Lý Trị ở sau rèm, gọi là Nhị Thánh lâm triều..
Võ hậu lấn quyền, quyết định mọi việc, khiến cho Lý Trị bất mãn, ngầm ra lịnh cho Thượng Quan Nghi truất phế. Việc bại lộ, Võ Tắc Thiên đem giết Thượng Quan Nghi.
Sau đó, Võ hậu lại giết Lý Trung là con của Lý Trị với một cung phi khác, để đưa con của mình với Lý Trị là Lý Hoằng lêm làm Thái tử, là người sẽ lên nối ngôi vua cha.
Sau đó lại phế Lý Hoằng, đưa con thứ hai là Lý Hiền lên làm thái tử, rồi lại giáng Lý Hiền, đưa con thứ ba là Lý Hiển lên làm thái tử.
Năm 683, Lý Trị băng hà, Lý Hiển lên ngôi, là Đường Trung Tông. Nhưng một tháng sau, Võ hậu lại phế Lý Hiển, đưa Lý Đán lên làm vua, là Đường Duệ Tông.
Những năm tiếp theo, bà lần lượt loại trừ những con cháu họ Lý ra khỏi quyền lực và đưa các người cháu họ Võ của mình vào nắm quyền.
Tháng 9 năm 690, Võ hậu lên ngôi Hoàng đế, đổi quốc hiệu là Nhà Chu. Võ Chu.
Trung Hoa không có lệ cho phụ nữ làm vua, cho nên nhiều người chống đối. Bà lập ra cảnh sát mật, thẳng tay dập tắt mọi chống đối, giết hại rất nhiều người.
Võ Tắc Thiên cai trị bằng sự xảo quyệt tài tình, dối trá và vô cùng tàn bạo.
Năm 705, lúc 80 tuổi, Võ hậu cưng chiều 2 tên nô tài phục vụ tình dục là Trương Xương Tông và Trương Diệc Chi, 2 tên nầy lộng quyền cho nên Tể tướng Trương Giản Chi đem 500 quân vào hậu cung làm đảo chánh, giết chết 2 tên nô tài và ép Võ hậu phải nhường ngôi lại cho con là Lý Hiển.
Võ Tắc Thiên là người rất tàn bạo, dâm đãng. Đã giết con mình, giá hoạ cho Vương hoàng hậu để tranh giành địa vị. Bà sai chặt hết tay, chân của Vương hoàng hậu và đứa con gái rồi bỏ vào chum rượu ngâm, để họ chết từ từ trong đau đớn.
Võ hậu cũng giết Triệu Thục phi bằng cách đó. Thục phi nguyền rũa sẽ biến thành mèo, đêm đêm hiện về xé xác, cho nên Võ hậu sợ mèo, từ đó ai ai cũng biết.
1.2. Võ Tắc Thiên dâm đãng
cfff 7 8
Võ Tắc Thiên lúc 80 tuổi vẫn còn sung sức
80 tuổi vẫn còn sung sức bởi “thốc kê hoàn”
Đến những năm Võ Tắc Thiên quá tuổi trung niên, khả năng sinh lý đã giảm, bà cho vời ngự y đến để nghiên cứu tìm thuốc hồi xuân. Ngự y đã tìm và chế thuốc đem dâng, tâu rằng uống xong chỉ chốc lát là có thể hưởng lạc thú tuổi thanh xuân. Từ đó, ngày nào Võ hậu cũng dùng thuốc hồi xuân và hiệu quả thật bất ngờ.
Thời đó, quan Thái thú Lã Cung Đại đã 70 tuổi nhưng chưa có con vì bất lực. Ông đã dùng bài thuốc hồi xuân kể trên mà sinh được 3 con trai. Từ đó, ông không dùng nữa. Số thuốc còn lại, ông vứt ra vườn. Có con gà trống chạy đến mổ ăn sạch, ăn xong liền đi tìm gà mái đạp ngay, vừa đạp vừa mổ gà mái. Con gà trống dính liền trên lưng gà mái mấy ngày không xuống, làm “gà mái trọc cả đầu”. Vì thế, thuốc có tên là Thốc kê hoàn (thốc là trọc đầu
Thốc kê hoàn gồm các vị: Nhục thung dung, viễn chí, tục đoạn, mỗi thứ 40 g; ngũ vị tử 30 g, xà sàng tử 25 g, chỉ thực 25 g. Tất cả tán mịn, dùng dạng bột hoặc lấy nước gạo hòa tán nhuyễn làm viên dùng dần. Mỗi lần uống 12 g với nước nguội hòa ít rượu để dẫn thuốc nhanh. Uống buổi sáng lúc đói và buổi tối trước khi đi ngủ 1 tiếng..
Hoài Nghĩa.
Võ hậu được con gái là Thái Bình công chúa tiến cử một người lực lưỡng đã từng phục vụ cho mình, bắt giả làm nhà sư thường xuyên được gọi vào cung để thông dâm. Được Võ hậu cưng chiều, sủng ái, Hoài Nghĩa trở nên kiêu căng hống hách.
Trầm thái y
Võ hậu bị bịnh, Trầm thái y vào bốc thuốc. Trầm thái y dâng lên một phương thuốc kích dục rất có công hiệu. Võ hậu bắt ông ta phải phục vụ tình dục cho mình. Dù bồi bổ thế nào, Trầm thái y cũng không đáp ứng nổi, cuối cùng kiệt sức mà chết.
Thời gian Võ hậu đam mê Trầm thái y, Hoài Nghĩa ghen tức, đốt cả chùa và tượng Phật mà ông làm cho Võ hậu. Võ hậu không tiện trị tội, Thái Bình công chúa gọi Hoài Nghĩa vào vườn hoa rồi cho các cung nữ khoẻ mạnh phục kích đánh cho đến chết.
Anh em Trương Xương Tông và Trương Diệc Chi
Sau khi Trầm Thái y chết, Thái Bình công chúa lại đưa người phục vụ tình dục của mình cho Võ Tắc Thiên. Đó là Trương Xương Tông, rất đẹp trai, khoẻ mạnh lại có biệt tài về nghệ thuật phòng the, khiến cho Võ hậu rất hài lòng. Một mình không xuể, Xương Tông lại tiến cử người anh là Trương Diệc Chi vào hầu hạ. Cả hai rất được cưng chiều, phong chức tước và cấp bổng lộc hậu hĩ. Đó là lý do để Tể tướng Trương Giản Chi đem quân vào hậu cung giết chết 2 tên nầy.
Các quan trong triều biết được tính đa dâm của Hoàng đế, bèn cho con em của mình, thậm chí cả những người cảm thấy có tài nghệ cũng vào phục vụ Võ Tắc Thiên.
Lập Phụng Thần Viện
Võ hậu lập ra Phụng Thần viện, lấy danh nghĩa nuôi chim hạc, tuyển chọn những thanh niên đẹp trai, khoẻ mạnh để thoả mãn dâm dục.
Phụng Thần viện là nơi dâm loạn nhất của triều đại nhà Đường.
2* Giang Thanh tàn bạo và dâm đãng
2.1. Tàn bạo trong Cách Mạng Văn hoá vô sản
cfff 9, 10
Cách Mạng Văn Hoá Vô Sản được Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) phát động và tiến hành trong mười năm (1966-1976). Mục đích bên ngoài là loại bỏ những phần tử còn mang tư tưởng “Tư Bản Tự Do”, nhưng thực sự là thanh trừng nội bộ mà Mao Trạch Đông (MTĐ) muốn cũng cố lại quyền lực sau thất bại thê thảm của bước “Đại Nhảy Vọt”. Đối thủ lợi hại mà MTĐ muốn loại trừ là Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và Bành Đức Hoài.
Kế hoạch bước “Đại Nhảy Vọt” của Mao Trạch Đông thất bại, đưa đến kiệt quệ kinh tế làm cho TH lâm vào cảnh đói, giết chết 40 triệu người. Địa vị của MTĐ bị đe doạ, cho nên phát động cuộc Cách Mạng Văn Hoá (CMVH) để thanh trừng nội bộ, cũng cố địa vị.
2.1.1. Diễn tiến của cuộc Cách Mạng Văn Hoá
cfff 11, 12
Ngày 16-5-1966, Mao Trạch Đông và Bộ Chính Trị ĐCSTQ ban hành một thông cáo chính thức cho phát động cuộc Cách Mạng Văn Hoá Vô Sản.
Ngày 8-8-1966, Trung Ương ĐCSTQ nhất trí thông qua Quyết định phát động cuộc CMVH, một cuộc CM rộng lớn, đụng chạm đến tất cả mọi người. Đó là đấu tranh giai cấp với tư sản về mặt văn hoá tư tưởng.
Ngày 16-8-1966, mười một triệu Hồng Vệ Binh (HVB) (Sinh viên) từ khắp nơi kéo về Quảng Trường Thiên An Môn (BK) để được MTĐ và Lâm Bưu làm lễ phát động chiến dịch. Đây là chủ trương lớn của đảng. Những chỉ dẫn của Mao được in thành sách nhỏ là “Hồng Bảo Thư” mà mỗi Hồng Vệ Binh mang theo bên mình làm kim chỉ nam hành động.
Ngày 22-8-1966, ĐCSTQ thông cáo ra lịnh cho cảnh sát không được can thiệp vào hành động của HVB. Trái lịnh là phản động, mang tội chết.
Giang Thanh là vợ thứ tư của Mao, được đưa vào Bộ Chính Trị, đứng đầu tổ CMVH. Giang Thanh, Lâm Bưu và Diêu Văn Nguyên chỉ huy, giám sát và đôn đốc chiến dịch.
Thế hệ bị đảng nhồi sọ nầy chẳng nể sợ ai cả, điên cuồng, ngạo mạn, chà đạp pháp luật bắt đầu lục soát từng nhà nhân dân trên toàn quốc. Khủng bố mở màn.
Tất cả 5 “Giai cấp đen” là đối tượng phải tiêu diệt: chủ sở hữu ruộng đất, địa chủ, nông dân giàu có, trí thức phản động, các phần tử xấu đều phải giết toàn bộ gia đình.
Nên biết rằng, những đối tượng nầy đã sống sót sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất hồi 1952 mà
5 triệu người đã bị giết chết, cho nên địa chủ xem như không còn nữa.
Ngày 5-9-1966, Mao Trạch Đông kêu gọi HVB mở rộng cách mạng về Bắc Kinh. Vào lúc nầy, Giang Thanh, Lâm Bưu công khai chỉ trích Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình là mở đường cho tư bản, là mối đe doạ của CNXH. Đồng thời, Bành Đức Hoài cũng được đưa về Bắc Kinh để đấu tố trước quần chúng.
Vào tháng 2 năm 1967, Giang Thanh, Lâm Bưu nhấn mạnh là CM phải chuyển sang ngành quân đội. Thế là nhiều tướng lãnh bị tố bằng các phương tiện truyền thông nằm trong tay của Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên.
Lưu Thiếu Kỳ bị trục xuất ra khỏi đảng và bị cầm tù. Đặng Tiểu Bình bị giáng chức và quản chế….Tất cả những đối thủ của MTĐ đã bị loại.
Đồng thời, một chiến dịch nổ ra nhằm tôn sùng MTĐ như là thần thánh.
Mục đích đã đạt, MTĐ cho ngưng cuộc CMVH.
2.1.2. Nạn ăn thịt người trong Cách Mạng Văn hoá
Nguồn gốc
Bước Đại Nhảy vọt của đảng CSTQ là một thất bại gây ra thảm hoạ kinh tế, tạo ra nạn đói làm chết 40 triệu người.
Đại Nhảy Vọt là muốn từ nông nghiệp nhảy thẳng sang Công nghiệp bằng cách mọi người TH phải tham gia luyện thép. Nông dân bỏ cả hoa màu thúi rữa ngoài đồng, thi đua luyện thép cho đạt chỉ tiêu quy định. Nhà nước lại xung công hoa màu như là hình thức đánh thuế. Đồng thời tiến hành chiến dịch hết sức ngu dốt gọi là Diệt chim sẻ.
Sau 5 loại người bị đảng CSTQ tiêu diệt, đến 4 loài vật phải bị giết, đó là chim sẻ , ruồi, muổi và chuột. Đảng cho rằng chim sẻ ăn thóc lúa nên phải diệt. Tất cả nông dân phải tham gia: đập, gỏ nồi niêu gây tiếng động ồn ào để đuổi chim. Ổ chim bị lùng phá, trứng chim và chim con thì đem làm thịt.
Cái dốt của đảng là không biết được rằng chim sẻ ăn châu chấu nhiều hơn thóc lúa. Vì thế, năm sau châu chấu tràn ngập vùng quê, phá hoại mùa màng kéo theo là nạn đói.
Các gia đình không nở ăn thịt con mình, nên trao đổi con cho nhau mà làm thịt. Ăn thịt ngay cả những người chết, những người từ các khu vực khác chạy đến lánh nạn để trốn tránh bị ghép tội.
Nạn ăn thịt người đã có từ thời đảng CSTQ cai trị, và cho đến nay, món “Thai nhi” vẫn còn được những người giàu có thưởng thức..
Trở lại việc Hồng Vệ Binh ăn thịt người ở Quảng Tây.
Ngoài sinh viên ra, nhiều địa phương còn kết nạp nông dân vào đội ngũ HVB. Những nông dân đó đã từng thưởng thức món thịt người trong nạn đói trước kia.
Nhà văn Trịnh Nghĩa mô tả lại việc ăn thịt người ở Quảng Tây như sau.
Những tên đã từng giết người, có kinh nghiệm, dạy lại người khác. Khi mổ bụng một người còn sống, chỉ cần cắt chéo trên bụng nạn nhân, rồi lên gối vào bụng dưới thì tất nhiên tim và gan lòi ra ngoài, nếu nạn nhận bị cột đứng. Trường hợp nạn nhân bị trói nằm ngữa, thì đạp chân lên bụng dưới là xong ngay. Tim, gan và bộ phận sinh dục thì được ưa chuộng nhất.
Ăn thịt người đã trở thành một phong trào tràn lan trên qui mô lớn. Nhiều người rất thích thú thưởng thức những bữa tiệc thịt người.
Khi một kẻ “phản động” ngã xuống, thì rất nhiều người thủ sẵn dao bén trong người, nhào đến cắt bất cứ bộ phận nào có thể ăn được. Tim, gan, thận… được luộc, xào, hấp, nướng trên lửa, chiên với gia vị.
Những cảnh tượng khủng khiếp đó được thi hành ở những nơi có trang trí cờ xí và khẩu hiệu dưới hình ảnh của Bác Mao vĩ đại..
Một bài hát cách mạng có câu:” Xã hội cũ biến con người thành ma, xã hội mới biến ma quỷ thành người”. Đúng vậy, đảng Cộng Sản là những con quỷ mang thú tính, đội lốt người.
2.1.3. Kết quả của cuộc Cách Mạng Văn Hoá.
– 7,730,000 người bị giết hoặc bị chết bất thường.
– 4.2 triệu bị giam giữ.
– 7.03 triệu bị tàn phế.
– 71,200 gia đình bị tiêu diệt toàn bộ.
Nhiều trí thức nổi tiếng bị giết hoặc tự tử.
Chủ trương Cách Mạng Văn Hoá là CSTQ, chủ động thi hành là Mao Trạch Đông, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên. Giang Thanh và 3 tên tiếp theo bị ghép vào Bè Lũ 4 Tên, sau khi Mao Trạch Đông chết.
3.* Những cái chết do thanh trừng nội bộ trong Cách Mạng Văn Hóa
cfff 13,14, 15, 16, 17






























          Mao T. Đông       Lưu Thiếu Kỳ           Lâm Bưu           Bành Đức Hoài        Đặng T.Bình
3.1. Lưu Thiếu Kỳ (24-11-1898-12-11-1969)
Là Chủ tịch nước, từng là nhân vật số hai đã bị chết thảm. Vào sinh nhật thứ 70, MTĐ và Chu Ân Lai cho mang quà sinh nhật đến là cái Radio để nghe tường thuật buổi họp của Đại Hội Đảng là “Vĩnh viễn khai trừ tên phản bội , gián điệp và nổi loạn Lưu Thiếu Kỳ ra khỏi đảng và tiếp tục truy tìm các tòng phạm của hắn”.
Lưu Thiếu Kỳ nằm liệt giường, không cử động được cho nên cổ, lưng, mông và gót chân bị lỡ loét chảy mũ. Sau đó, toàn thân bị thúi rữa. Đảng ra lệnh lột hết quần áo, quấn người trong cái mền, dùng máy bay chở từ Bắc Kinh đến nhà tù Khai Phong nhốt rong một cái lô cốt kiên cố. Không cho y tá chăm sóc sức khoẻ.
Lưu Thiếu Kỳ chết trong toàn thân bị hủy hoại, tóc bạc dài 6 tấc.
Thật ra, Lưu Thiếu Kỳ chết cũng đáng đời, bởi vì, những thành viên của Đảng CSTQ ít nhiều gì tay cũng đã nhuộm máu nhân dân.
3.2. Cái chết của Lâm Bưu
2.2. Mao Trạch Đông giết Lâm Bưu
Lâm Bưu là thuộc cấp của Bành Đức Hoài, lừa thầy phản bạn, được Mao cho thay thế BĐH ở chức vụ Bộ trưởng Quốc Phòng, rồi làm Phó chủ tịch đảng, là nhân vật số hai và được chọn làm người kế vị Mao. Lâm Bưu là “Kiến trúc sư” của cuộc Cách mạng Văn hoá.
Mao còn cho vợ của Lâm Bưu (LB) vào Bộ Chính Trị. Bà nầy không có tài mà còn nổi tiếng là đa dâm. Ở Nga, là bồ bịch với sĩ quan Nga, về nước thì quan hệ tình dục buông thả vì Lâm Bưu bất lực, tạng yếu, sợ nước, sợ gió và tiếng động. Mật vụ của Mao còn ghi âm những buổi trao đổi tình ái mùi mẫn trên điện thoại của bà với viên Tổng tham mưu trưởng họ Hoàng.
Lòng tham quyền lực của LB không có giới hạn. LB muốn nắm lấy ghế Chủ tịch nước, thay thế Lưu Thiếu Kỳ.Trái lại, Mao Trạch Đông thì muốn bãi bỏ chức vụ đó, vì muốn trong nước chỉ có một chủ tịch, là chủ tịch đảng của Mao mà thôi.
Bất đồng ý kiến nảy sinh. Mao là người nham hiểm, ra tay triệt hạ những thủ hạ thân cận của LB. LB biết không chống lại nổi Mao, cho nên có ý định đưa vợ con chạy trốn.
Kế hoạch đã vạch nhưng chưa biết sẽ chạy trốn ở đâu, Hồng Kông, Nga hay Đài Loan. Lâm Bưu, vợ là Diệp Quần và con trai là Lâm Lập Quả, có bí danh là Hổ, sẽ đào thoát.
Hổ rất ghét Mao. Thường gọi Mao là bạo chúa, là B-52 bụng bự chứa đầy những tư tưởng xấu xa để giết đám đông.
Hổ âm mưu ám sát Mao nhưng không thực hiện được.
Một sai lầm lớn của Hổ là viết thơ cho chị là Lâm Lập Hành bảo về nhà gấp để sáng sớm hôm sau cả nhà lên đường chạy trốn.
Nhưng người chị ruột nầy là người mê muội, bị nhồi sọ và là 1 người rất tích cực trong Cách mạng Văn Hoá, cho rằng chạy ra nước ngoài là một hành vi phản bội tổ quốc, cho nên đã mật báo với lực lượng an ninh. Tin tức nầy được thông báo ngay cho Chu Ân Lai, và Chura lịnh kiểm soát vị trí của tất cả những phi cơ, nhất là chiếc Trident mà Lâm Bưu thường dùng.
Hổ được bạn bè báo tin về lịnh kiểm soát của Chu Ân Lai, cho nên phải chạy trốn gấp.
23giờ 50, xe chở gia đình Lâm Bưu vào sân bay, nhưng xe không dừng ở trạm kiểm soát mà chạy vượt qua cổng, làm cho viên quản lý thường đưa LB ra phi trường, biết rằng có việc chạy trốn, nên hô hoán lên và nhảy ra khỏi xe. Có vài tiếng súng nổ.
Chiếc Trident đang đổ xăng mới có 12 tấn rưởi nhưng phải cất cánh ngay. Phi hành đoàn 9 người nhưng chỉ còn có 4. Lại thêm một người bạn của Hổ trên chuyến bay.
2 giờ sau, phi cơ đến Ngoại Mông trên đường qua Liên Xô thì kim báo nhiên liệu sắp hết và phi cơ bị nổ tung lúc 2 giờ 30 ngày 13-9-1971. Không ai sống sót. Nguồn tin cho rằng phi cơ bị hoả tiển bắn hạ.
Đó cũng là quả báo nhản tiền cho những tên đồ tể đảng viên đảng Cộng Sản, chết không toàn thây.
3.3. Cái chết của Giang Thanh
Giang Thanh là vợ thứ tư của MTĐ. Vốn là một diễn viên sân khấu. Sau khi MTĐ chết, Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh bắt giữ Bè Lũ Bốn Tên là Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diêu Văn Nguyên.
Ngày 25-1-1981, toà án Đặc biệt kêu án tử hình, sau giảm xuống còn chung thân, rồi sau cùng, thắt cổ tự tử vào năm 1991. Những tên sát nhân còn lại cũng chết vì bịnh ung thư và tiểu đường ở trong nhà tù.
3.4. Giang Thanh lộng hành và dâm đảng
cfff 18, 19
Giang Thanh và bè lũ bốn tên (Tứ nhân bang)
Mao Trạch Đông đã dưa Giang Thanh vào Bộ Chính Đảng, đứng đầu Ban CMVH, với quyền sinh sát to lớn trong tay.
Là một diễn viên sân khấu quen lối sống xa hoa, kiêu ngạo và buông thả. Luôn luôn có 4 thanh niên khoẻ mạnh và đẹp trai hầu cận. Sai bác sĩ lấy máu của thanh niên truyền sang cho mình, nghĩ rằng máu thanh niên sẽ làm trẻ lại, khoẻ lên về mọi mặt, nhất là về sinh lý. 4 thanh niên luân phiên nhau phục vụ cho Cách Mạng Văn Hoá thông qua Giang Thanh.
Giang Thanh bắt những người phục vụ phải quỳ, cúi rạp đầu xuống, không được để đầu của bất cứ ai, ngang bằng hoặc cao hơn đầu của bà cả.
Giang Thanh sai xây hồ bơi lấy nước từ con suối cách xa hàng chục kilomét.
Sai người đuổi bắt hết ve sầu trên cây, chim chóc quanh nhà để bà lớn được ngủ yên.
3.5. Mao Trạch Đông Dâm Dục
Mao có cung tần, mỹ nữ như những hoàng đế dâm dục nhất. Không có ai quan hệ tình dục gấp gáp, vô độ, bất kể đạo đức, bất cần dư luận như Mao cả.
Mao cho tuyển những văn công quân đội, văn công không quân từ 17, 18 tuổi, bằng con cháu mình.
Mao sai thiết lập ngay tại Đại Lễ Đường Nhân Dân, một phòng riêng cho mình, để giữa những cuộc họp TrungƯơng Đảng, giữa Đại Hội Đảng, Mao có thể quan hệ tình dục với gái trẻ.
Còn sai đóng một cái giường bằng gổ quý dài, rộng, lót nệm lông quý, có độ nghiêng để cùng một lúc làm tình với 2, 3 cô gái. Về mặt nầy, Mao là quán quân quốc tế của thời đại.
Mao Trạch Đông và đảng CSTQ phải chịu trách nhiệm về cái chết của 70 triệu người TH qua những cuộc cách mạng và những hành động tàn sát dã man của đảng CSTQ.
4* Sự kiện Thiên An Môn
Đảng Cộng Sản TQ đã tàn sát 10,000 người
Ngày 4-5-1989, khoảng 100,000 sinh viên, trí thức, công nhân biểu tình tuần hành trên đường phố Bắc Kinh. Yêu cầu tự do báo chí và tố cáo tham nhũng.
Sinh viên chiếm Quảng Trường Thiên An Môn và tổ chức tuyệt thực.. Cuộc biểu tình xảy ra 2 ngày trước khi Michail Gorbachev, Tổng bí thư Liên Xô có khuynh hướng cải cách đến viếng thăm Bắc Kinh.
Đặng Tiểu Bình lúc đó là Quân Ủy Trung Ương ra thiết quân luật và đưa quân đội vào Bắc Kinh. Triệu Tử Dương là Tổng Bí thư đảng.
Lúc 10 giờ tối ngày 3-6-1989, xe tăng và quân đội vũ trang súng lưỡi lê từ các ngỏ tiến vào đám biểu tình. Xe tăng xả súng bắn thẳng vào đám đông. Rất nhiều người bị xe tăng nghiền nát. Những sinh viên chạy trốn thì bị quân lính lôi ra đập bằng gậy.
Đến 5:40 sáng ngày hôm sau, ngày 4-6-1989, đoàn biểu tình đã bị dẹp tan. Việc đàn áp xảy ra ban đêm.
Số người chết và bị thương
Nhiều nguồn tin đưa ra những con số khác nhau.
Tình báo NATO đưa ra con số người chết, khoảng 7,000 người.
Khối Xô Viết: khoảng 10,000 người chết
Đảng CSTQ lại một lần nữa tàn sát dã man đồng bào của mình. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân thật sự đã giải phóng kiếp nô lệ của nhân dân mình..
Cái gì có mang 2 chữ “Nhân Dân” thì quả thật là những chiêu bài bịp bợm mà thôi.
5* Đảng Cộng Sản Trung Quốc đàn áp dã man Pháp Luân Công
5.1. Pháp Luân Công
cfff 20, 21, 22
Là một hệ thống “tu dưỡng cơ thể và tinh thần”, được ông Lý Hồng Chí giới thiệu cho công chúng năm 1992. Pháp Luân Đại Pháp có 5 bài tập khí công nhẹ nhàng. 4 bài động công ở tư thế đứng và 1 bài tĩnh công toạ thiền.
Ngày 20-7-1999, nhà nước Trung Cộng bắt đầu đàn áp trên toàn quốc, những người tập môn khí công nầy. Cho đến nay, có hơn 100,000 người tập môn khí công nầy bị bắt nhốt vào các trại cưỡng bách lao động, các bịnh viện tâm thần, tra tấn rất dã man.
Phỏng đoán có khoảng 7,000 người bị hành hạ cho đến chết. Chỉ cần có một chút xíu nghi ngờ là tập Pháp Luân Công thì bị bắt nhốt vào trại lao động cưỡng bách 3 năm mà không cần xét xử.
Ngày 6-7-2006, Ông David Kilgour, nguyên Giám đốc Phân Ban Châu Á Thái Bình Dương của Bộ Ngoại giao Canada và luật sư David Matos, đã phát hành một bản báo cáo độc lập, sau 2 tháng điều tra của họ, qua 18 dữ kiện, bằng chứng về việc nội tạng cơ thể của các đệ tử Pháp Luân Công (PLC) đã bị mổ đem bán giá cao cho những người có nhu cầu.
Ông cho rằng việc làm nầy của nhà nước Trung Cộng là điều vô nhân đạo duy nhất trên thế giới từ xưa đến nay và chỉ có đảng CSTQ mới làm được mà thôi.
Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân là những tên đồ tể của thời đại ngày nay.
5.2. Một trăm kiểu tra tấn tàn bạo của Đảng CSTQ
cfff 23,24,25
Giải phẩu người sống lấy nội tạng tươi đem xuất khẩu
Những nạn nhân trốn thoát được kể lại hơn 100 thủ đoạn tra tấn tàn bạo dã man của nhà nước Trung Cộng.
Công an đánh đập tàn nhẫn, rồi khuyến khích các tù nhân khác đánh đập người tập PLC. Nhiều người bị lọt tròng mắt, điếc vì rách màng nhĩ, gãy răng. Xương sọ, xương sườn, xương sống, xương quai xanh, xương chậu và tay chân bị vở, gãy. Chân tay bị cắt đi vì những thương tích do tra khảo gây ra. Bóp dịch hoàn nam giới, đá vào khu vực cơ quan sinh dục phụ nữ.
Nhiều người bị rách da, lòi mỡ, hở thịt. Cơ thể trở thành dị dạng, be bét máu me vậy mà bọn Công an còn đổnước muối lên ngực họ và tiếp tục dùng dùi cui điện tra tấn. Mùi khét của máu thịt trộn lẫn với nhau, cùng với tiếng rên la thảm thiết rất thương tâm. Tại sao trên đời nầy lại có những tổ chức dã man, mọi rợ đến như thế?
Cho điện giật là một hình thức thường dùng nhất ở các trại lao động cưỡng bách. Công an cho dùi cui điện giật vào những vùng nhạy cảm trên thân thể bao gồm miệng, đĩnh đầu, ngực, cơ quan sinh dục nam, mông, đùi, gan bàn chân, ngực và vú phụ nữ.
Nhiều công an dùng trên 10 dùi cui điện cho giật một lúc, cho đến khi nghe mùi khét của da thịt bị cháy mới thôi. Dùng thuốc lá đang cháy đốt tay, mặt, gan bàn chân, ngực, lưng, núm vú phụ nữ. Dùng bật lửa đốt tay và cơ quan sinh dục đàn ông.
Các thanh sắt được chế tạođặc biệt để tra khảo, được nung đỏ bằng điện đốt cháy chân người PLC.
Nhiều thiếu nữ trẻ đẹp nhưsinh viên, dược sĩ, bác sĩ bị công an Trung Cộng hãm hiếp và hãm hiếp tập thể.Những phụ nữ bị lột trần truồng ném vào xà lim của tù đàn ông và sau đó, lại bịbọn tù hãm hiếp tiếp theo.
Dùng 4 bàn chảy đánh răng buộc lại rồi chọc vào âmđạo, chà xác và ngoáy mạnh.
5.3. Thế giới lên án hành động tra tấn dã man của Đảng Cộng Sản Trung Quốc
cfff 26, 27
Tên man rợ Giang Trạch Dân và đồng bọn
Hạ Viện Hoa Kỳ
Hạ Viện HK đã thông qua QN 188, đồng thuận 420/0, kêu gọi TQ hãy ngừng những cuộc đàn áp và tra tấn những người tập luyện Pháp Luân Công.
Những người Pháp Luân Công khắp nơi trên thế giới thu thập chữ ký, khẩn cầu Toà Án QT Nhân Quyền xét xử Giang Trạch Dân và những người lãnh đạo liên hệ đến sự đàn áp dã man mọi rợ đó.
Tháng 1 năm 2004, tại 12 quốc gia trên thế giới, đã có 16 vụ án tố giác Giang Trạch Dân và những người liên hệ về tội chống nhân loại và diệt chủng.
Tháng 11 năm 2009, một thẩm phán Toà Án Tây Ban Nha đã truy tố 5 viên chức trong ĐCSTQ về tội tra tấn, và diệt chủng những học viên PLC ở TQ. Toà án đã phát lịnh triệu tập Giang Trạch Dân, La Cán, Bạc Hy Lai, Ngô Quang Chính và Giả Khánh Lâm. Yêu cầu giải thích hành vi diệt chủng của họ.
Nếu không phản hồi thì Toà án nầy có thể phán quyết những bị cáo nầy 20 năm tù và chịu trách nhiệm về những thiệt hại và tổn thất mà ĐCSTQ đã gây ra cho các học viên PLC.
Các bị cáo có từ 4 tới 6 tuần lễ để trả lời. Từ chối trả lời có thể đưa đến việc dẫn độ và lịnh cấm quốc tế. Điều nầy sẽ hạn chế tối đa việc đi lại của các bị cáo, đến bất cứ quốc gia nào có ký hiệp ước dẫn độ với Tây Ban Nha.
Một tháng sau đó, tháng 12 năm 2009, thẩm phán Octavio Araoz de Lamadrid, thuộc Toà án Liên Bang số 9 Argentina, đã truy tố và yêu cầu phòng Cảnh Sát Hình Sự Interpol địa phương thuộc Cảnh sát Argentina, phối hợp trong việc bắt 2 viên chức cao cấp của ĐCSTQ là Giang Trạch Dân và La Cán về tội chống lại loài người.
Phán quyết dài 142 trang được công bố ngày 19-12-2009.
Các toà án quốc gia không làm gì được ĐCSTQ, nhưng ít ra cái bản mặt tàn bạo dã man vô nhân đạo cũng bị phơi bày trên thế giới về cái nền văn minh của Hán tộc.
III. KẾT LUẬN
Từ Võ Tắc Thiên đến Giang Thanh, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân thì thấy cái văn hoá dâm đãng, tàn bạo của người TQ thể hiện rõ nét như thế nào rồi.
Mao Trạch Đông được biết đến như con quỷ dâm dục và người đồng chí Cộng sản ở phía Nam luôn luôn tôn thờ và học tập cái thói tàn bạo và dâm đãng của Mao vĩ đại đó, cũng bắt chước cái thói đa dâm của hắn.
Thế mà Đảng đã tổ chức học tập theo gương đạo đức của hắn, thì thật là mỉa mai cho cả một dân tộc, vì hắn là tay chơi quỵt, chơi chạy, không chịu trách nhiệm về hành vi dâm đãng của mình. Chính hắn là người chà đạp nhân phẩm phụ nữ, vì xem phụ nữ như một món đồ chơi dùng để thoả mãn thú tính.
Thật bết bác quá! Cả đời không có khả năng tìm cho mình được một người đàn bà mà mình thích.
Trúc Giang






Chính trị − Văn hóa − Xã hội
Share: