Thứ Năm, 21 tháng 6, 2018

Một Nghịch Lý Rất Thực Tế



Một Nghịch Lý Rất Thực Tế


Cuộc đời thường có những nghịch lý, tức những điều khó hiểu vì chúng xảy ra ngược lại với cách suy nghĩ hay lý luận bình thường. Có những nghịch lý ít xảy ra, nhưng có những nghịch lý luôn luôn xảy ra và hết sức thực tế trong mọi thời đại. Chẳng hạn trong những xã hội đầy bất công và đàn áp luôn luôn có tình trạng nghịch lý này, mà một nhà thơ (xin được dấu tên) diễn tả một cách biểu tượng, sâu sắc và ý vị trong bài thơ sau đây:

Chuyện của rừng


«Bão táp nổi lên thật cuồng bạo,
«Rừng xác xơ cây cối ngả nghiêng,
«Đám cổ thụ giữa rừng khiếp vía,
«Cúi rạp mình rên rỉ van xin.

«Bão vẫn cứ tung hoành ngang dọc,
«Bỏ ngoài tai những tiếng nỉ non,
«Mắt không thấy lệ rơi thống thiết,
«Đầm đìa trên nứt nẻ làn da.

«Ở cuối rừng kìa một đám sậy,
«Mím chặt môi áp sát vào nhau,
«Mắt trừng lên nhìn thẳng mặt bão,
«Tay trong tay đảo chao chống chọi.

* * *

«Rồi bão lặng.

«Có eo óc một vài tiếng chim,
«Cỏ vật vờ dăm ba cánh bướm,
«Vội vàng cổ thụ lau nước mắt,
«Môi dúm dó cố nở nụ cười,
«Và đám sậy ngửa cổ nhìn mây.»

Trước những bất công đàn áp, những kẻ có quyền thế, những kẻ đáng kính đáng nể, có khả năng, có tiếng nói mạnh mẽ, những kẻ có bổn phận phải lên tiếng, những kẻ có thể thay đổi được tình huống thì lại khiếp vía trước bạo lực, không dám nói gì hay làm gì cả, đành chấp nhận cho bất công hoành hành. Nếu có những kẻ nào dám chống lại bạo lực, dám tố cáo bạo lực, thì những kẻ ấy rất nhiều khi lại nằm trong số những kẻ thấp cổ bé miệng, không có tiếng nói, không có thế lực hay một tấc sắt trong tay. Họ chẳng làm được gì ngoài việc cho những kẻ đàn áp biết sự sai trái của chúng. Làm như thế, họ phải sẵn sàng chấp nhận tất cả mọi hậu quả khủng khiếp có thể xảy ra cho họ, cho gia đình họ, bạn bè họ.


Thật là nghịch lý phải không? Tại sao những người có thế giá hơn họ, có tiếng nói mạnh mẽ hơn họ, những kẻ đáng lý phải lên tiếng chứ không phải họ, những kẻ nếu có lên tiếng cũng được an toàn hơn họ rất nhiều, và gây được ảnh hưởng to tát hơn họ biết bao, thì lại câm lặng như những kẻ hèn nhát? Tại sao thế?


Có phải vì những người này thấy mạng sống của họ quí giá hơn những người kia? Còn những người kia thì thấy mạng sống mình rẻ mạt nên sẵn sàng hy sinh? Có phải vì họ sợ bị tra tấn, đánh đập, tù đày, bị điều tra, sách nhiễu, quản chế tại chỗ? Hay vì họ còn có nồi cơm hoặc những điều kiện cần thiết để sống cần phải bảo vệ, không phải chỉ cho họ mà còn cho gia đình họ, hay những người họ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục? Rất có thể, nhưng những kẻ thấp cổ bé miệng mà lên tiếng thì có nhiều nguy cơ phải chấp nhận đau thương như thế gấp trăm lần: cha mẹ còn sống phải lo lắng khổ sở, vợ con nheo nhóc lao đao, con cái mất học, mất việc làm, gia đình có thể tan rã!


Thật ra, ai cũng hết sức quí trọng và bảo vệ mạng sống mình! Có điều cũng khá dễ hiểu là những ai sống trên nhung lụa, đang được kẻ hầu người hạ, thì sợ chết, sợ đau, sợ khổ hơn những người khác rất nhiều. Và một nghịch lý nhỏ khác là trong số những người này, có nhiều người vẫn tự hào mình đang sống lý tưởng dấn thân, phục vụ, cho chân lý, công lý, người nghèo, nhân dân, theo chân giáo chủ này hay anh hùng nọ. Điều nghịch lý ở đây là: sợ chết sợ khổ như thế làm sao theo lý tưởng cao cả ấy được?


Họ còn sợ gì nữa? Có phải họ sợ phải xuống khỏi cái ghế đang ngồi mà họ đã phải bỏ ra bao công, bao của, bao thời gian mới trèo lên được? Hay là vì họ có một vài cái «tẩy» nào đấy phải tuyệt đối giữ bí mật? Công chúng biết được cái «tẩy» này thì họ chẳng còn mặt mũi nào mà tiếp tục ngồi trên cái ghế cao cả ấy, và lúc ấy nồi cơm nấu bằng gạo thơm của họ trên bếp cũng trở nên khê cháy chẳng ăn được. Vì thế, ai mà nắm được những cái «tẩy» ấy, thì có thể làm áp lực, tống tiền, thậm chí sai khiến họ được. Có phải vì thế mà họ đành phải im lặng, chịu đựng cho qua «truông»?


Còn những kẻ thấp cổ bé miệng, có thật là trong đám ấy có những người dám lên tiếng, dám nói sự thật, dám tố cáo bất công, dám bênh vực công lý, dám chống lại «bão», đang khi những kẻ quyền thế hơn lại phải im lặng không ? Hiện nay họ là những ai? Đó là những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Đoan Trang, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Trung Tôn, v.v... nhiều lắm, không tiện kể hết. Họ là những kẻ thấp cổ bé miệng nhưng lại dám lên tiếng. Đặc biệt, trong số những vị thuộc loại có tiếng nói mạnh hơn đã dám lên tiếng như Lm Đặng Hữu Nam, Lm Nguyễn Đình Thục, Lm Nguyễn Duy Tân, v.v... và trước đây có HT Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh, Thích Thiện Minh, Lm Nguyễn Văn Lý, Lm Nguyễn Hữu Giải, Lm Phan Văn Lợi... Tất cả những con người can đảm ấy là những ngôn sứ cho sự thật, cho công lý của thời đại.


Nhưng cũng cần phải xét xem họ làm như thế là can đảm hay ngu xuẩn? Rất nhiều người khen họ là can đảm, nhưng cũng không ít người chê họ là ngu xuẩn! Kẻ khen người chê, ai cũng có lý của mình, tùy theo quan niệm và não trạng mà mỗi người có. Thật khó mà xác định được ranh giới giữa khôn ngoan và hèn nhát, giữa can đảm và ngu xuẩn! Biết bao người núp bóng hay nhân danh khôn ngoan để tha hồ mà hèn nhát! Họ hèn nhát nhưng lại cứ tưởng mình khôn ngoan! Nhưng cũng có biết bao kẻ bạo dạn chỉ vì «điếc không sợ súng»! Họ ngu xuẩn mà cứ tưởng mình can đảm! Liệu những người dám lên tiếng kia có phải là những kẻ «điếc không sợ súng»? Không phải đâu, vì ai trong bọn họ cũng đều nhìn thấy trước mắt những nghịch cảnh mà họ phải chấp nhận cho sự lên tiếng của họ! Nhiều người đang bị nghịch cảnh mà vẫn tiếp tục lên tiếng!


Những kẻ chỉ biết nghĩ tới quyền lợi của mình và gia đình mình chắc chắn sẽ cho họ là quá ư dại dột! Có rất nhiều trường hợp tương tự như thế trong lịch sử. Anh hùng ta ngày xưa chủ trương «châu chấu đá xe» là ngu xuẩn hay can đảm? Chắc chắn vẫn có những người cho họ là ngu xuẩn! Hãy xem: đang khi cả một phần ba thế giới tôn sùng và theo chân Đức Giêsu như gương mẫu của khôn ngoan và đức hạnh, thì vẫn có những Hêrôđê chê Ngài là dại dột (x. Lc 23,11), và trong đám dân chúng vẫn có những kẻ cho rằng Ngài bị «mát», bị «mất trí» (x. Mc 3,21)! Biết sao được?! Phải chấp nhận!

Những kẻ dám lên tiếng ấy dường như «không sợ chết, không sợ tù, không sợ bị đau, không sợ tra tấn, không sợ người thân bị liên lụy, không sợ bị sách nhiễu, bị mất nồi cơm». Phải vậy chăng? Không phải đâu! Họ cũng sợ những thứ ấy không kém gì người khác. Giữa họ cũng có những người bản tính nhút nhát nên sợ những thứ ấy còn hơn những người bình thường khác!

Nhưng tại sao họ lại có vẻ nhưkhông sợ? Chính vì họ có một nỗi sợ kháclớn hơn: «sợ phản bội lương tâm mình, sợ bị lương tâm cắn rứt, sợ bị lương tâm kết án là hèn nhát». Họ không chịu nổi những điều ấy. Song song với nỗi sợ cao cả ấy là tình yêu quê hươngđất nước, yêu tôn giáo của mình, yêu đồng loại, và ý thức trách nhiệm của mình đối với những đối tượng mình yêu thương ấy: «Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách» mà!

Họ ý thức hơn ai hết: sống là phải chọn lựa, mà chọn cái này rất nhiều khi lại phải từ bỏ cái kia, không chọn cả hai được! Cái tốt cái đẹp nào cũng đều phải trả giá mới có được! Lương tâm, tình yêu và ý thức trách nhiệm là những thứ mà họ quí nhất, muốn giữ được những thứ ấy, họ đành phải mất những thứ khác mà họ cũng hết sức yêu quí. Trước khi quyết định lên tiếng họ đã phải trầy da tróc vẩy tranh đấu kịch liệt với chính mình và họ đành chấp nhận thương đau khi phải hy sinh mất đi những thứ quí giá ấy.

Thế còn những người có thế giá, có tiếng nói, có bổn phận phải nói phải làm, nhưng vì sợ hãi, sợ mất quyền lợi, sợ mất «ghế», sợ bị «lật tẩy» mà im lặng, họ có đáng trách không? Đáng trách thì vẫn đáng trách, nhưng thiết tưởng cũng còn có thể thông cảm và chấp nhận được, vì bản tính con người yếu đuối mà! Họ chỉ không làm điều mà đáng lẽ họ phải làm thôi! (đáng buồn!). Rất mong mọi người bao dung thông cảm cho họ. Trong Giáo Hội Công giáo, trong những Giáo Hội khác, tôn giáo khác và trong bất kỳ một tập thể nào, vẫn luôn luôn có những trường hợp tương tự.

Nhưng còn một hạng người nữa mà bài thơ trên chưa đề cập đến. Đó là những hạng người mặc dù biết rõ ai tốt ai xấu, ai lợi dân ai hại dân, nhưng chỉ vì chút ít hư danh hay quyền lợi chóng qua mà sẵn sàng làm tay sai, chỉ điểm, «ăng-ten», làm công cụ tiếp tay cho những kẻ áp bức, cho ngoại bang, cho kẻ thù của đồng bào mình, gây tai họa thêm cho đám dân lành đang chịu đủ mọi thứ thiệt thòi. Nếu họ không đủ can đảm để nói sự thật, để chống lại bất công bạo tàn, thì ít ra họ nên giữ im lặng hay chấp nhận «án binh bất động», như thế lại đỡ tội! Đằng này họ biết rõ sự thật, nhưng lại sẵn sàng nói sai, sẵn sàng làm chứng dối, sẵn sàng phản bội lương tâm! Họ biết rõ ai thiện ai ác nhưng lại sẵn sàng đồng lõa hoặc tiếp tay với tội ác!

Trong lịch sử Việt Nam, thời nào cũng có những tên Việt gian như thế! Trong lịch sử các nước, thời nào cũng có những tên Hán gian, Pháp gian, Mỹ gian sẵn sàng tiếp tay cho kẻ thù của dân tộc mình, phản bội lại dân tộc mình! Trong lịch sử các tôn giáo thời nào cũng có những tên giáo gian! Những người này có thể xuất thân từ bất kỳ ngành nghề nào, cấp bậc nào trong xã hội hay trong các tôn giáo: từ những kẻ có quyền thế cao nhất trong xã hội đến những kẻ cùng đinh, từ những chức sắc cao cấp nhất trong các tôn giáo đến những tín đồ không tên không tuổi. Nếu không có những người này tiếp tay cho kẻ xấu, kẻ áp bức, cho ngoại bang, thì những thế lực ác ấy không thể làm gì được. Vì thế, họ cũng là những kẻ phạm tội ác, họ sẽ bị lịch sử lên án, tên tuổi họ sẽ bị những thế hệ mai sau khinh chê và phỉ nhổ cùng với các quan thầy của họ!

Rất mong bạn, người đang đọc bài này, và cả tôi, người viết bài này, không bao giờ ở trong số hạng người ấy! Hãy xử sự làm sao để lúc nào chúng ta cũng có thể «ngửa mặt nhìn đời» một cách bình thản, không mặc cảm, không hổ thẹn. Hãy can đảm sống theo đòi hỏi của lương tâm mình!

Sự việc rồi sẽ kết thúc giống như đoạn cuối của bài thơ trên:

«Rồi bão lặng.
«Có eo óc một vài tiếng chim,
«Cỏ vật vờ dăm ba cánh bướm,
«Vội vàng cổ thụ lau nước mắt,
«Môi dúm dó cố nở nụ cười;
«Và đám sậy ngửa cổ nhìn mây.»


Nguyễn Chính Kết

Share:

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

Student from Cornell University Cuts 27 lbs On University Budget!



Student from Cornell University Cuts 27 lbs
On University Budget!

by Suzanne Pischner
Sunday, June 17, 2018


(CNN) - Amanda Haughman, a student at Cornell University, was able to drop 27lbs off her waist in 1 month without ever using a dime of her own money. Amanda is studying nutrition sciences at Cornell, and for a required research project Amanda thought it would be perfect to use university funds to find out how to ‘hack’ her weight loss. According to Amanda, «the most expensive piece of it all was actually finding what worked. But the actual solution only cost about $5.»

«I had struggled with my weight my whole life. I tried things like Weight Watchers and Jenny Craig, which just didn’t work as good as they promised. I am a single Mom with a kid at home and I am also working towards my degree, so I don’t have any time to be at the gym. When I was assigned this big research project, I saw it as a perfect opportunity to get a deeper look at the natural weight loss opportunities that are out there, and that is when I found out about combining Slim Ultra Garcinia and apple cider vinegar. The best part of it all, I can tell that my daughter is proud of me.» - Amanda Haughman


Since the study, Amanda shared the Slim Ultra Garcinia and apple cider vinegar combination with her close friend, Mark, who had also been struggling with his weight. Mark’s results are even more impressive than Amanda.

Mark lost over 130lbs in under 12 months with Amanda’s help

We sat down with Amanda to ask her more about how she found out about Slim Ultra Garcinia and whether or not that is all that she used to lose 27lbs so quickly.

CNN: Tell us, how did you know where to start?

Amanda: To be honest, I really didn’t. I was given a budget for the project by the university, and I spent nearly all of it researching everything under the sun. I looked into other previous research, case studies, and even successful weight loss stories of others.

CNN: So, how did you find out about Slim Ultra Garcinia and apple cider vinegar?

Amanda: It’s sort of funny, while I was looking into weight loss stories of others I decided to see if I could find out more about how celebrities were able to lose so much weight so quickly. Surprisingly, even with all of the tabloids, it was pretty challenging to find concrete information on exactly how they did it. However, I was able to find a radio interview where some actresses credited their entire weight loss to combining Slim Ultra Garcinia with apple cider vinegar.

CNN: Was it expensive to get Slim Ultra Garcinia?

Amanda: It actually was not very expensive at all, and thankfully so. By the time I had found out about Slim Ultra Garcinia and apple cider vinegar, I had about $13 left in my project budget. Since Slim Ultra Garcinia is a completely natural formula, the supplier doesn’t spend a lot to manufacture it. Additionally, they actually provided me with a free 1 month sample and I just paid for shipping! So I got Slim Ultra Garcinia for $5 and picked up a bottle of apple cider vinegar for $6 from a local grocery store, and I still had $2 left in my budget!

CNN: That’s impressive! Could you explain how it works?

Amanda: There isn’t much to it, and that is the appeal of it all. Every morning, I made tea with 1 - 2 teaspoons of apple cider vinegar and took Slim Ultra Garcinia with it. Other than that, I didn’t change a single thing in my daily routine. 30 days later, I am 27lbs off the waist and in better shape than ever before!

Since helping her friend Mark, Amanda has gone on to share the Slim Ultra Garcinia and apple cider vinegar recipe with many others!

Why is Slim Ultra Garcinia so effective?

Slim Ultra Garcinia contains the naturally occurring ingredient, hydroxycitcric acid, which boosts weight loss by blocking excess body fat production while increasing resting metabolism by more than 130%. This combination makes the body go from a fat-gain to fat-loss state while resting.

Slim Ultra Garcinia with apple cider vinegar has been clinically proven to:
● Increase Resting Metabolism More Than 130%
● Flush Out Harmful Toxins
● Boosts Energy Levels and Increase Mood
● Block Excess Fat Production
For our readers, Amanda Haughman has provided the week by week breakdown of her weight loss, the apple cider vinegar recipe she used, and the link to get a free 1 month sample of Slim Ultra Garcinia.

Results - Amanda lost 27lbs of pure body fat in just 1 month using Slim Ultra Garcinia


1. Mix in a glass, 1-2 teaspoons of organic Apple Cider Vinegar with warm water.

2. In the morning, take one Slim Ultra Garcinia capsule with your drink.

Week One:

One week after combining Slim Ultra Garcinia with apple cider vinegar every morning I was surprised at the dramatic results. My energy level was up, and I wasn’t even hungry. A welcomed side effect of Slim Ultra Garcinia is its power to curb the appetite.

Best of all, I didn’t even change anything about my daily routine. On Day 7, I got on the scale and couldn’t believe my eyes. I had lost 9.5lbs. But I still wasn’t convinced, since they say you lose a lot of water weight at the beginning of any diet. I wanted to wait and see the results in the upcoming weeks.

Week Three:

After 3 weeks, all my doubts and skepticism had absolutely vanished! I am down 2 pant sizes after losing another 16.5lbs. And I still have a ton of energy. Quite often, around the third week of other diets, I would tend to run out of steam. But with Slim Ultra Garcinia my energy levels didn’t dip, instead they remain steady throughout the day.

Week Four:

After the fourth week, my final results were shocking. I lost an unbelievable 27lbs since starting with apple cider vinegar and Slim Ultra Garcinia! I feel blessed to share this with other people who are struggling with their weight as well. Using Slim Ultra Garcinia in week 4, I lost an additional 11 lbs.


*EDITOR’S NOTE: Amanda Haughman has worked with the official suppliers of Slim Ultra Garcinia to temporarily provide free 1 month samples for our readers!

**Update: LIMITED FREE SAMPLES AVAILABLE - As of Sunday, June 17, 2018 , There Still FREE Samples!

Step 1
FREE 30 DAY SUPPLY OF Slim Ultra Garcinia
GET A FREE SAMPLE
Free Sample Promotion Ends On
Sunday, June 17, 2018 At Midnight!

Share:

SN Gioan Tẩy Giả 2 − Lời chứng do chứng kiến hay cảm nghiệm thật sự mới có giá trị




CHIA SẺ TIN MỪNG

Sinh Nhật Gioan Tẩy Giả

(24-6-2018)

Bài đào sâu

Lời chứng do chứng kiến
hay cảm nghiệm thật sự mới có giá trị




ĐỌC LỜI CHÚA


  TIN MỪNG: Ga 1,6-12

Gioan đến để làm chứng

(6) Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. (7) Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. (8) Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. (9) Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. (10) Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. (11) Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. (12) Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.




CHIA SẺ

Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trước Đức Giêsu để chuẩn bị cho Ngài đến. Sứ mạng và vai trò của ông là làm sứ giả và làm chứng cho Ngài trước dân chúng Do Thái. Ông đã hoàn thành sứ mạng ấy một cách tuyệt vời. Vì thế, Gioan Tẩy Giả là một mẫu gương và là thầy dạy chúng ta về việc làm chứng cho Thiên Chúa. 

Ta thử tìm hiểu cách làm chứng của Gioan để áp dụng trong cuộc đời Kitô hữu và chứng nhân của ta.



1. «Ông đến để làm chứng và làm chứng cho ánh sáng» (Ga 1,7)

Gioan Tẩy Giả sinh ra và sống trong thế gian là để làm chứng. Trong các tòa án, người làm chứng phải là người chứng kiến tận mắt sự việc xảy ra, và phải chịu trách nhiệm về lời chứng của mình. Nếu lời chứng bị phát hiện là gian dối, họ phải chịu một hình phạt của tòa án. Để lời chứng có giá trị, đôi khi người làm chứng phải thề để mọi người tin rằng điều mình nói là sự thật. Có những người sẵn sàng chấp nhận chịu những đau khổ khủng khiếp và cả cái chết để chứng tỏ lời chứng của mình là sự thật. Một lời chứng như thế thật đáng tin.

Người làm chứng phải là người có kinh nghiệm thật sự về điều mình làm chứng: hoặc thấy tận mắt sự việc, hoặc cảm nghiệm được sự việc. Nếu mình làm chứng về một điều mà mình chỉ nghe nói, nghe thuật lại, thì lời chứng của mình kém hẳn giá trị. Vì thế, để là một người làm chứng cho Thiên Chúa, thì chính người ấy phải có kinh nghiệm đích thực về Thiên Chúa, phải cảm nhận được tình yêu và quyền năng của Ngài trong đời sống mình. 

Nếu mình chỉ học được một mớ lý thuyết thần học, chỉ nghiên cứu Kinh Thánh hay Lời Chúa như một nhà khoa học nghiên cứu một bản văn, thì mình chưa đủ tư cách làm chứng. Nếu mình chỉ tin Thiên Chúa cách lý thuyết, chính mình chưa xác tín và thật sự sống điều mình làm chứng, thì mình chẳng thể sống chết cho niềm tin ấy, lời chứng của mình sẽ chẳng mấy giá trị

Do đó, chỉ những ai có kinh nghiệm thật sự về Thiên Chúa mới có thể làm chứng cho Ngài một cách hợp tình hợp lý mà thôi. Mình chưa có kinh nghiệm mà đã làm chứng, nhất là làm chứng một cách quả quyết, thì lời chứng ấy đã vượt quá khả năng của mình. Chẳng khác gì một người chỉ nghe nói một sự việc mà đã quả quyết 100% là sự việc ấy có thật như thể mình chứng kiến sự việc ấy.

Gioan đến để «làm chứng cho ánh sáng» (Ga 1,7b.8b). Ánh sáng tượng trưng những gì tích cực, như chân lý, công lý, tình thương… Ngược với ánh sáng là tối tăm. Tối tăm tượng trưng những gì tiêu cực như gian dối, bất công, hận thù… Người của ánh sáng không thể làm chứng cho tối tăm, cũng không thể đồng lõa với tối tăm bằng sự bất động, không phản ứng gì trước những gian dối, bất công, hận thù… Im lặng bất động trong những trường hợp này không phải là tư cách của một người làm chứng đích thực. 

Để làm chứng, đôi khi phải chấp nhận trả giá. Không chấp nhận trả giá thì lời chứng của mình không đáng tin. Chấp nhận trả giá càng cao, lời chứng càng giá trị, càng đáng tin. Đức Giêsu, Gioan Tẩy Giả, các tông đồ đã chấp nhận trả giá cho lời chứng của mình bằng cái chết. Chính vì thế, lời chứng của các ngài mới được thế giới tin theo.



2. Tinh thần xóa mình khi làm chứng

Thánh sử Gioan nói về Gioan Tẩy giả: «Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng cho ánh sáng» (Ga 1,8). Khi làm chứng cho ánh sáng, ông không tự đồng hóa mình với ánh sáng, không tự nhận mình là đại diện hay biểu trưng của ánh sáng để được mọi người nể trọng, và cũng không lợi dụng ánh sáng để tìm vinh danh hay lợi lộc cho mình. Ông chỉ biết sứ mạng của mình là làm chứng cho ánh sáng thôi. 

Khi làm chứng, người ta tưởng ông là Đấng Kitô. Ông thành thật nói mình không phải. Người ta nghĩ ông là một ngôn sứ, nhưng ông không tự nghĩ mình là ngôn sứ, mặc dù đời sau coi ông là ngôn sứ cuối cùng của thời Cựu ước. Như vậy, tuy ông thực hành vai trò ngôn sứ, nhưng ông không hề tự phong cho mình danh hiệu ấy. Danh hiệu ngôn sứ là do người đời sau ban tặng cho ông. 

Ông hoàn toàn xóa mình, không tự coi mình là quan trọng, là một nhân vật cao cả. Ông chỉ tự xưng «là tiếng người hô trong hoang địa» (Ga 1,23), một người xem ra chẳng là gì cả, chẳng mấy ai quan tâm chú ý tới. Đối với Đức Giêsu, người mà ông làm chứng cho, ông luôn chủ trương: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30). Người làm chứng có chịu để cho mình nhỏ đi, thì người mình làm chứng mới lớn lên được!

Còn chúng ta, khi làm việc cho Chúa, làm tông đồ, ta muốn được mọi người tôn vinh, ta thích tự đề cao mình, tự phong cho mình một chức vụ quan trọng, tự xưng là đại diện cho một nhân vật cao cả để mọi người trọng vọng ta. Ta muốn mọi người phải gọi ta bằng danh này hiệu nọ, nếu không được thì ta buồn bực, khó chịu… Đang khi đó, có thể ta chẳng làm chứng cho Thiên Chúa, cho ánh sáng, cho chân lý hay công lý được bao nhiêu, là vì ta muốn mình lớn lên nên Ngài phải nhỏ đi. Trước mặt Thiên Chúa, có khi ta chẳng hơn ai, nhưng ta muốn mọi người phải kính nể ta và dành nhiều ưu đãi cho ta, chỉ vì ta nghĩ mình đang làm việc cho Thiên Chúa…


3. «Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết» (Ga 1,26)

Gioan muốn làm chứng về «một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết» (Ga 1,26). Rất có thể chính Đức Giêsu đang ở giữa chúng ta, trong chúng ta, bên cạnh chúng ta… mà chúng ta không mấy khi ý thức được. Thật vậy, ít khi ta ý thức Ngài đang hiện diện trong chính bản thân ta. Do đó, sự hiện diện của Ngài trong ta trở nên thụ động tương tự như khi Ngài ngủ trên thuyền của các tông đồ giữa cơn phong ba bão tố (x. Mt 8,23-27). Vì thế, giữa cuộc đời bão tố, ta vẫn cảm thấy cô đơn, lo lắng, sợ hãi, tưởng như chẳng ai sẵn sàng cứu giúp ta, chẳng ai tiếp sức mạnh cho ta, khiến ta vẫn yếu đuối, khiếp nhược. Ta vẫn muốn chạy đến cầu khẩn, van xin một Thiên Chúa, một Đức Giêsu ở bên ngoài ta, ở xa ta, qua trung gian một ai đó. Vì thế, ta không nhận được sức mạnh từ một Thiên Chúa ở trong ta.

Ngoài ra, Thiên Chúa còn hiện diện rất sống động bên cạnh ta, nơi những người đang sống quanh ta, nhưng ta không hề nghĩ đến sự hiện diện ấy. Ta vẫn không hề cảm nhận được Thiên Chúa đang ở nơi họ, để đối xử với họ như những hiện thân cụ thể của Ngài.

Do đó, Thiên Chúa đối với ta dường như vẫn rất trừu tượng, vô hình, im lặng, vắng mặt, không sao cảm nhận được! Và lời chứng của ta về Thiên Chúa vẫn là lời chứng của một người chỉ biết Ngài cách lý thuyết, vì chỉ nghe người khác nói về Ngài. Nên lời chứng ấy không phải là lời chứng sống động, mạnh dạn và đầy thuyết phục về một Thiên Chúa mà đúng ra chính ta phải cảm nhận được cách rất cụ thể.




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi con tự hào rằng con là chứng nhân của Cha, của Thiên Chúa, của Đức Giêsu. Nhưng thật ra, con chưa có kinh nghiệm nhiều về Cha, về Thánh Thần, về Đức Giêsu, chưa có quan hệ mật thiết với Cha, với Đức Giêsu, và chưa gắn bó với Cha đến độ có thể sống chết vì Cha. Con chỉ biết và tin vào Cha cách lý thuyết sau khi đã học hỏi một mớ giáo lý hay thần học về Thiên Chúa, về Đức Giêsu một thời gian. Thế là con đã cảm thấy mình có thể làm chứng về Thiên Chúa, về Đức Giêsu cho mọi người, như một nhà làm chứng chuyên nghiệp. Nghĩ lại, nhiều khi con cảm thấy mình hơi hợm hĩnh. Xin Cha giúp con cảm nghiệm được đích thực về Cha, về Đức Giêsu đang sống động trong bản thân con và trong đời sống của con, đồng thời thật sự sống những gì con cảm nghiệm, để lời chứng của con trở nên xác đáng hơn, giá trị hơn, đáng tin hơn. Amen.


Share:

SN Gioan Tẩy Giả − Sống và làm chứng cho Tin Mừng quan trọng hơn rao giảng hay loan báo Tin Mừng




CHIA SẺ TIN MỪNG

Lễ Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả

(24-6-2018)


Sống và làm chứng cho Tin Mừng
quan trọng hơn rao giảng
hay loan báo Tin Mừng 




ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 49,1-6: (1b) Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi. (2) Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén, đã giấu tôi dưới bàn tay của Người.

  Cv 13,22-26: (24) Để dọn đường cho Đức Giêsu, ông Gioan đã rao giảng kêu gọi toàn dân Ítraen chịu phép rửa tỏ lòng sám hối. (25) Khi sắp hoàn thành sứ mệnh, ông Gioan đã tuyên bố : «Tôi không phải là Đấng mà anh em tưởng đâu, nhưng kìa Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người».

  TIN MỪNG: Lc 1,57-66.80

Gioan Tẩy Giả ra đời và chịu phép cắt bì

(57) Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Êlisabét sinh hạ một con trai. (58) Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

(59) Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Dacaria mà đặt cho em. (60) Nhưng bà mẹ lên tiếng nói : «Không, phải đặt tên cháu là Gioan». (61) Họ bảo bà : «Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả». (62) Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. (63) Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết : «Tên cháu là Gioan». Ai nấy đều bỡ ngỡ. (64) Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa. (65) Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giuđê. (66) Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi: «Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây?» Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

(80) Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ítraen.





CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.  Giữa việc rao giảng và làm chứng, việc nào khó hơn, cần thiết hơn, đòi hỏi phải dấn thân và hy sinh nhiều hơn? Người Kitô hữu thường quan tâm hơn đến việc nào? Có cần sửa đổi gì trong cách suy nghĩ và hành động của chúng ta không? 
2. Nhân loại hiện nay –nhất là người nghèo, người chịu áp bức– mong Giáo Hội rao giảng chân lý và công lý cho họ, hay muốn Giáo Hội làm chứng cho chân lý, cho công lý và tình thương, bằng cách thật sự sống những gì mà Giáo Hội đang rao giảng để biến đổi thế giới nên tốt đẹp hơn? Trước mắt họ cần cái nào hơn? 
3. Nhờ đâu các ngôn sứ của Thiên Chúa dám mạnh dạn làm chứng cho Thiên Chúa, cho chân lý, công lý và tình thương, bất chấp thiệt thòi nguy hiểm?


Suy tư gợi ý:

1. Gioan Tẩy giả, một ngôn sứ dám làm chứng cho công lý

Gioan Tẩy Giả là một ngôn sứ trong một đất nước đang thời nhiễu nhương: một đằng bị đế quốc Rôma cai trị hà khắc, nhiều phe nhóm trong dân muốn nổi loạn, đằng khác vị vua cai trị, Hêrôđê, là một hôn quân bạo chúa, sống loạn luân. Hoàn cảnh xã hội thời của Gioan tương tự như thời CSVN hiện nay, có điều là ít tệ hại hơn thời CSVN hiện nay rất nhiều. Thời nay, dưới chế độ độc tài cộng sản, tội ác và bất công lớn hơn và phổ biến hơn thời Gioan rất nhiều. Lương tâm ngôn sứ đã thúc đẩy Gioan lên tiếng can ngăn và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua, mong nhà vua trở về với đường ngay nẻo chính. Vì thế, ông đã bị nhà vua hãm hại (xem Mt 14,3-12; Mc 6:17-29).

Là Kitô hữu, chúng ta đều có chức năng ngôn sứ mà chúng ta đã lãnh nhận khi chịu phép rửa. Nhưng đa số chúng ta có khuynh hướng chỉ muốn là ngôn sứ của chân lý, chứ không phải của công lý và tình thương. Chúng ta thường chỉ muốn rao giảng, tuyên xưng chân lý, nhất là những chân lý vô thưởng vô phạt, không đụng chạm đến ai, và chúng ta sẵn sàng kết án những đồng đạo nào có tư tưởng khác với những gì chúng ta cho là chân lý. Nhưng chúng ta lại không muốn hoặc không dám làm chứng cho những điều mình rao giảng, nhất là làm chứng cho công lý và tình thương. 

Điều ấy cũng dễ hiểu, vì rao giảng xuông thì dễ dàng, không đòi hỏi phải hy sinh và dấn thân cho bằng làm chứng. Chẳng hạn, rao giảng rằng bản chất của Kitô giáo là công bằng và bác ái, rằng công bằng là nền tảng của bác ái, rằng tình yêu là cao cả, là tuyệt vời, là quí giá, và mọi người phải yêu thương nhau, thì chẳng mất mát hay phải hy sinh gì nhiều. Nhưng chứng tỏ điều mình rao giảng ấy là xác thực, là chân lý, bằng chính đời sống của mình, thì phải chấp nhận mất mát, thiệt thòi và hy sinh, có khi phải hy sinh cả «nồi cơm», cả sự ổn định hay bình an của cuộc sống, thậm chí đôi khi cả mạng sống nữa (như trường hợp TGM Oscar Romero, TGM Nguyễn Kim Điền, v.v...).

Khổ một nỗi là hiện nay, tinh thần khoa học thực nghiệm của người thời đại đòi hỏi mọi phát biểu đều phải được chứng minh bằng hành động, bằng thực tế thì mới tạo được niềm tin. Thật vậy, làm sao tin được một người quảng cáo một thứ thuốc nào đó là tuyệt vời nhất, hữu hiệu nhất, tiết kiệm nhất, nhưng khi bị bệnh thì người ấy lại dùng một loại thuốc khác hẳn? Cũng vậy, ai mà tin được một người rao giảng rằng tình yêu là quí giá hơn tất cả, rằng cần thiết phải yêu thương nhau, nhưng chính người ấy lại đối xử với mọi người chẳng tình nghĩa chút nào? Nếu chính người rao giảng về tình yêu lại coi tình yêu không quí bằng những quyền lợi nhỏ nhoi, và sẵn sàng hy sinh tình nghĩa chứ không để bị mất quyền lợi, thì lời rao giảng ấy ai mà dám tin? Rất nhiều nơi trong Giáo Hội, việc loan báo Tin Mừng bị thất bại vì chúng ta chỉ biết rao giảng mà không dám làm chứng bằng đời sống cho điều mình rao giảng.


2. Do đâu mà người ngôn sứ lại dám làm chứng, bất chấp… nguy hiểm?

Người Kitô hữu không những phải làm chứng cho Thiên Chúa, cho Đức Giêsu, mà còn cho chân lý, cho công lý, cho tình yêu nữa. Mà muốn làm chứng thì phải dám chấp nhận thiệt thòi, mất mát, nguy hiểm. Làm ngôn sứ mà lại muốn được an toàn bản thân, và bảo toàn đủ mọi mặt những gì mình đang có, không muốn hy sinh hay mất mát điều gì, thì như thế chỉ có thể là «ngôn sứ kiểng» (dùng làm cảnh) mà thôi.

Nhưng chúng ta ai cũng cảm thấy mình yếu đuối, thì lấy can đảm hay dũng khí ở đâu để làm chứng? Các ngôn sứ nổi tiếng xưa có cảm thấy mình yếu đuối như chúng ta không? Điều gì khiến họ «dám»? 

Chúng ta hãy trở lại bài Tin Mừng hôm nay.


a. Tin vào quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa

Sức mạnh và lòng can đảm của người ngôn sứ hệ tại niềm tin vào quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy hai vợ chồng Dacaria và Êlisabét đều đã lớn tuổi đến nỗi không ai nghĩ được rằng họ còn có thể sinh con nữa, thế mà quyền năng Thiên Chúa đã thực hiện điều ấy. Vì «đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được» (Lc 1,37). Vả lại, Ngài luôn luôn quan phòng, không để chuyện gì xảy ra ngoài thánh ý Ngài, như Ngài đã quả quyết: «Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào, phải không? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi. Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ» (Lc 12,7); Ngài cũng xáv định: «Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu!» (Lc 21:17-18)

Tuy nhiên, dù tin cậy nơi Chúa tới mức độ nào, người ngôn sứ vẫn luôn luôn có những nỗ lực riêng của mình, trong mọi trường hợp, vẫn luôn luôn cố gắng hết sức mình, và hành động với tất cả sự khôn ngoan mà Chúa ban cho mình, chứ không ỷ lại vào quyền năng và sự quan phòng của Chúa. Trong đời thường, người ngôn sứ vẫn luôn tập luyện bản thân, làm quen với gian khổ, để khi phải sống trong khó khăn, tâm hồn người ngôn sứ vẫn không hề nao núng. Gioan Tẩy giả đã tập sống kham khổ trong sa mạc ngay từ nhỏ. Còn Phaolô thì: «Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết» (Pl 4,13).


b. Tin vào sự khôn ngoan và hợp lý của Thiên Chúa

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: cứ theo sự hợp lý bình thường của con người, thì con ông Dacaria cũng phải tên là Dacaria (là tên của mọi người trong dòng họ) mới đúng. Nhưng Thiên Chúa lại yêu cầu ông đặt tên cho con là Gioan. Tại sao lại như thế thì lúc ấy chẳng ai hiểu được. Nhưng chắc chắn Thiên Chúa có lý của Ngài. Điều hợp lý đối với Thiên Chúa không hẳn đã là hợp lý đối với con người. Vì thế, đối với người tin yêu Thiên Chúa, thì vâng lời Ngài luôn luôn là khôn ngoan hơn là làm theo ý mình. Dacaria đã làm theo ý Chúa chứ không phải ý mình khiến mọi sự rốt cuộc đều tốt đẹp.

Khi làm mọi công việc, người ngôn sứ luôn nghĩ rằng mình chỉ là công cụ mà Thiên Chúa dùng để làm công việc của Ngài chứ không phải của mình. Mình làm ngôn sứ cho Ngài chứ không phải cho mình. Thiên Chúa luôn luôn là chủ, nên mọi việc mình làm cho Ngài đều phải theo thánh ý của Ngài, chứ không phải theo ý riêng của mình. Vì thế, người ngôn sứ luôn an tâm khi thấy mình đã hành động đúng với ý Chúa, được biểu hiện qua tiếng lương tâm và sự khôn ngoan Thiên Chúa ban cho mình, đồng thời qua những dấu chỉ thời đại (những sự kiện đã và đang xảy ra). Nếu chúng ta làm theo ý Chúa thì Ngài sẽ chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do việc chúng ta làm. Và hậu quả xảy ra thế nào đều là do thánh ý của Ngài, người ngôn sứ không cần phải bận tâm hay thắc mắc. 


c. Có bàn tay Thiên Chúa trong cuộc đời ta

Thấy sự việc lạ lùng đối với trẻ Gioan, «ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi : “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây?” Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em» (Lc 1,66). Người ngôn sứ khi làm công việc của Chúa chứ không phải của mình, thì luôn luôn có bàn tay Thiên Chúa ở với mình, phù hộ và hướng dẫn cuộc đời mình. Chỉ khi nào mình bắt đầu làm theo ý riêng mình, và làm vì mục đích của mình chứ không phải của Chúa khiến ta từ chối sự hướng dẫn của Chúa, thì ta mới bắt đầu mất đi sự khôn ngoan và phù trợ của Thiên Chúa. Gương của vua Saolê ngày xưa rất rõ nét về vấn đề này (xem 1Sm 15,24-28).

Niềm tin có bàn tay Thiên Chúa ở với mình là một trong những động lực mạnh nhất khiến các ngôn sứ – mặc dù bản tính có thể rất nhút nhát – vẫn dám làm những việc mà ngay cả người có bản tính can đảm tự nhiên vẫn không dám làm, miễn là việc đó là việc của Chúa, là việc mà lương tâm mình đòi buộc phải làm.




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con biết can đảm như Gioan, dám sống ngay chính và dám làm chứng cho Cha, cho chân lý, công lý và tình thương giữa lòng thế giới đảo điên hôm nay. Xin giúp con biết tin cậy vào quyền năng vô biên và sự quan phòng đầy khôn ngoan của Cha, để con luôn an tâm và mạnh dạn khi thi hành chức vụ ngôn sứ mà Cha đã trao cho con, cũng như đã trao cho bất kỳ người Kitô hữu nào khi họ lãnh nhận phép Rửa. Amen


Share:

«An ninh mạng» kiểu Việt Nam



«An ninh mạng» kiểu Việt Nam


Nguyễn Tường Thụy

«An ninh mạng», khái niệm phổ biến và khái niệm kiểu... Việt Nam.

Có nhiều khái niệm về «An ninh mạng» là gì? Dù diễn giải cách nào thì tựu trung có thể hiểu «An ninh mạng» là quá trình thực hiện những biện pháp bảo vệ các thông tin, dữ liệu của người dùng mạng, chống những truy cập trái phép hay tấn công vào các website, tài khoản cá nhân, thay đổi, phá hủy, đánh cắp thông tin của người khác nhằm mục đích phá hoại hay lừa đảo tài sản. An ninh mạng là những hoạt động nhằm phát hiện, ngăn chặn và ứng phó với các cuộc tấn công vào máy tính.

Tuy nhiên, khái niệm «An ninh mạng» đối với nhà cầm quyền Việt Namlại khác. Luật An ninh mạng vừa được quốc hội Việt Nam thông qua hôm 12/6/2018 giải thích «An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân».

Như vậy, từ chỗ «An ninh mạng» là một khái niệm thuần túy kỹ thuật thì với nhà cầm quyền Việt nam lại ở lĩnh vực chính trị. An ninh quốc gia ở đây là an ninh của chế độ.

Nếu đối tượng của «An ninh mạng» theo khái niệm phổ biến là tin tặc thì với nhà cầm quyền Việt Nam, đối tượng của «An ninh mạng» lại là những người bất đồng chính kiến, nói đúng hơn, những người bất đồng chính kiến là đối tượng hàng đầu. Vì vậy, trong giới bất đồng chính kiến và ủng hộ dân chủ đã dấy lên một phong trào phản đối luật «An ninh mạng». Trong bài viết này chỉ đề cập một số điểm về luật «An ninh mạng» với giới bất đồng chính kiến.

Luật «An ninh mạng» thủ tiêu tự do ngôn luận

Cũng như những đạo luật khác, Luật «An ninh mạng» có những điều cấm. Những điều cấm kỵ này không phải bây giờ mới đưa vào luật mà đã được đề cập ở nhiều đạo luật khác, trong luật này chỉ là nhắc lại cho thêm phần nghiêm trọng mà thôi.

Đề cập chủ yếu trong Luật «An ninh mạng» nhằm vào giới bất đồng chính kiến và cả những người dân phản ứng bột phát là nội dung tuyên truyền chống nhà nước. Những điều cấm này cũng rất mơ hồ, hiểu như thế nào là do chủ quan của người xử lý. Ví dụ như thế nào là phỉ báng? Như thế nào là kích động bạo loạn? Người ta sẵn sàng qui chụp người kêu gọi biểu tình là kích động bạo loạn, lôi kéo tụ tập đông người (cách gọi của nhà cầm quyền chỉ hoạt động biểu tình)...

Với Luật «An ninh mạng», doanh nghiệp nước ngoài phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam. Luật yêu cầu các nhà mạng phải cung cấp thông tin người dùng cho công an. Như vậy, tất cả thư tín cá nhân, bí mật riêng tư kể cả các cuộc hẹn hò tình ái đều phơi ra trước mắt «An ninh mạng» nếu họ muốn. Những bài đăng không vừa ý nhà cầm quyền sẽ bị xóa. Người đưa thông tin trái ý họ sẽ bị bắt bất cứ lúc nào. Người sử dụng mạng sẽ bị cắt dịch vụ cung cấp mạng hoặc bị cấm dùng mạng, bị cấm đăng ký tài khoản nếu có yêu cầu của công an. Những yêu cầu này sẽ chẳng cần phải tranh luận với đối tượng bị xử lý để ra văn bản sao cho tâm phục khẩu phục, thậm chí chỉ cần yêu cầu miệng của một cá nhân nào đó.

Mọi qui định của Luật rào kín các ngả khiến người sử dụng internet không biết làm gì hơn ngoài việc trưng diện, khoe các cuộc ăn nhậu, tán tỉnh nhau trên mạng, tự do cổ vũ cho lối sống vị kỷ với những dục vọng tầm thường.

Tuy nhiên, những yêu cầu phi lý và phản tiến bộ này có được các công ty mạng nước ngoài chấp nhận hay không và chấp nhận đến đâu lại là chuyện khác. Và ở Việt Nam, luật nào cũng có kẽ hở nên vẫn có thể lách. Lách luật để chống lại sự quản lý hà khắc, xâm phạm đến quyền tự do của con người được qui định ở Hiến pháp, không phải là điều tội lỗi.

Khi các công ty google, facebook không chịu đựng được sự can thiệp thô bạo của nhà cầm quyền bởi Luật «An ninh mạng», họ sẽ phải rời Việt Nam mà không cần đuổi, như Công ty Google đã phải bỏ thị trường Trung Quốc hồi năm 2010. Khoảng trống này sẽ là cơ hội cho các công ty mạng Trung Quốc như Weibo, WeChat nhảy vào Việt Nam. Giá dịch vụ mạng sẽ rẻ như trái cây ướp bằng chất hóa học hay chân gà, lòng lợn thiu từ Trung Quốc tràn vào thị trường Việt Namvậy. Việc kiểm soát Internet của nhà cầm quyền trở nên đơn giản hơn bao giờ hết vì quan hệ Việt Nam– Trung Quốc đặc biệt duy nhất trên quả đất này. Có vẻ đây là một kịch bản khi họ ban hành Luật «An ninh mạng».

Luật «An ninh mạng» với giới đấu tranh ở Việt Nam

Chẳng phải bây giờ khi ra Luật «An ninh mạng» nhà cầm quyền Việt Nam mới bắt đầu xử lý những «sai phạm» khi sử dụng mạng xã hội. Đã có nhiều người bị bắt và đi tù về viết blog như Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày) và các thành viên Câu lạc bộ Nhà báo tự do, Nguyễn Quang Lập, Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm), Trần Đình Ngọc (blogger Nguyễn Ngọc Già), Hồng Lê Thọ (bloger Người Lót Gạch). Những blogger này bắt tạm giam dài ngày hay bị kết án mà không ai biết họ tuyên truyền chống chính quyền ở chỗ nào. Nhiều người viết facebook cũng đã bị bắt, bị sách nhiễu hoặc bị đe dọa.

Với những người sử dụng mạng làm phương tiện bày tỏ chính kiến, có công khai danh tính rõ ràng thì không phải đắn đo gì nhiều. Họ đã trưởng thành qua những bản tin, bài bình luận các sự kiện theo nhãn quan độc lập, biểu đạt chính kiến theo qui định của Hiến pháp Việt Nam và Công ước quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị, đã quen với sự răn đe sách nhiễu của công an. Chỉ có điều, với Luật «An ninh mạng», các bài viết của họ sẽ dễ dàng bị xóa bỏ, bí mật thư tín đời thường dễ bị kiểm soát và đặc biệt có thể bị cấm mở tài khoản cá nhân hay cắt Internet. Còn tính đến việc bị bắt vẫn là điều đương nhiên.

Ở khía cạnh khác, với những với những người còn sợ hãi, khi tài khoản cá nhân phải công khai danh tính thì họ không dám nêu lên quan điểm chính trị của mình, không dám đưa tin, thậm chí với cả những tin hoàn toàn trung thực ví dụ những đoạn video tại hiện trường không qua lắp ghép, tẩy xóa. Số này rất đông, nếu họ không dám mở miệng thì lượng thông tin, tính đa dạng của những tiếng nói phản biện bị hạn chế đi rất nhiều.

Luật «An ninh mạng» sẽ không áp dụng cho người thi hành công vụ?

Chẳng phải đợi Luật «An ninh mạng» nhà cầm quyền mới ra tay mà thực tế họ đã can thiệp từ lâu, ngay từ khi mạng xã hội ra đời. Điều này ai cũng nhìn thấy. Nhiều website, blog hay email, các trang facebook bị đánh phá, những thông tin trong các tài khoản cá nhân không còn bí mật được nữa. Những điểm nóng như biểu tình thường xuyên bị phá sóng. Nhiều người bị khóa điện thoại, bị cắt mạng theo thời điểm.

Ngay cả khi chưa có Luật «An ninh mạng» thì ngay cả các những đoạn video vốn đúng như sự thật cũng bị biến mất một cách khó hiểu. Bản thân tôi đã từng bị đánh sập 5 blog, 3 tài khoản email, 3 tài khoản facebook chỉ trong một thời gian ngắn.

Còn nhớ Trung tướng Vũ Hải Triều, tổng cục phó Tổng cục An ninh từng khoe đã đánh sập 300 báo mạng và blog cá nhân. Ngang nhiên phạm luật và ngang nhiên khoe những hành vi ấy, đủ biết mọi thứ luật có điều chỉnh được hành vi của những người được coi là thi hành công vụ hay không.

Tất cả những hành vi ấy đều vi phạm pháp luật nhưng không có ai bị xử lý.

Luật «An ninh mạng» đưa ra những hành vi bị cấm, xem ra cũng hợp lý như xử lý những hành vi như đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật. Nhưng nếu hành vi đưa tin sai sự thật từ phía chính quyền có bị xử lý không? Đương nhiên là không. Ở Việt Nam, ai cũng biết đến điều này. Vì vậy, dù luật «An ninh mạng» hay luật nào đi chăng nữa cũng chỉ để áp dụng cho người dân chứ không áp dụng cho người của chính quyền nếu hành vi của họ nằm trong cái gọi là thi hành công vụ. Không phải tự nhiên mà bà Ngô Bá Thành nói, ở Việt Nam có cả một rừng luật nhưng khi xét xử lại dùng luật rừng.

Ai là vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc?

Tôi chưa có thời gian tìm hiểu cặn kẽ Luật «An ninh mạng» và không phải luật sư nên không thể nhận xét toàn diện về đạo luật này, chỉ nêu ra vài ý kiến sơ bộ. Trước khi kết thúc bài viết, xin đề cập một chuyện khá khôi hài là Luật «An ninh mạng» còn xử lý cả hành vi xúc phạm vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc.

Nhưng cho đến nay, ngoài Nguyễn Du và Nguyễn Trãi được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa ra thì không có một cơ sở nào cho thấy ai là vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc để mà... né. Khi xử lý phải căn cứ vào văn bản pháp luật chứ không thể căn cứ vào việc nói với nhau qua miệng. Có khi, người được tuyên truyền là anh hùng dân tộc nhưng ở nước ngoài lại bình xét là tội đồ thì biết đâu mà lần.

Vì vậy, trước hết, phải định nghĩa, thế nào là vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc.

Tiếp theo, cần ra văn bản pháp luật qui định cấp nào được công nhận vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc? Các tổ chức nào trên thế giới có quyền công nhận?

Tiếp theo nữa, cấp có quyền hạn phải ra quyết định công nhận đối với từng vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc.

Xong lại phải thông báo cho toàn thể nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng cho dân biết để mà... tránh.

Rõ ràng phải có một qui trình chặt chẽ như thế, chứ không thể nói khơi khơi ông này là lãnh tụ, ông kia là danh nhân được.

Chẳng hạn đưa một bloger ra tòa vì tội xúc phạm ông Y, ông này được coi là lãnh tụ. Nhưng khi ra tòa, hỏi giấy chứng nhận lãnh tụ của ông Y thì lại không có. Khi ấy, xử thế nào.

Mang những người bị qui chụp xúc phạm vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc ra tòa, các ông thua là chắc, trừ khi dùng quyền lực kết án bừa.
***

Internet là một thành tựu kỳ diệu của con người. Nó thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ tất cả mọi lĩnh vực của đời sống. Người lần đầu tiên tiếp xúc với Internet không tránh khỏi cảm giác kinh ngạc vì tính chất ma quái của nó. «Các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet» (wikipedia).

Thế nhưng, một thiểu số vài nước, trong đó có Việt Nam lại tìm cách kiểm duyệt hay chối bỏ Internet nhằm hạn chế thông tin, ngõ hầu đảm bảo sự thống trị lâu dài của thể chế được đánh đồng với tổ quốc, với dân tộc. Luật «An ninh mạng» ra đời nhằm vào mục đích ấy.

Tuy nhiên, Internet vẫn tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh chóng như từ khi nó mới manh nha. Sự phát triển ấy sẽ vô hiệu hóa dần dần Luật «An ninh mạng». Ví dụ lúc mà hàng ngàn vệ tinh được phóng lên không gian để phủ sóng internet toàn cầu.

Nguyễn Tường Thụy

14/6/2018



Chính trị − Văn hóa − Xã hội
Share: