Thứ Tư, 25 tháng 7, 2018

Bộ Trưởng Công An Tô Lâm: Tên Tội Phạm Nguy Hiểm Nhất Thế Giới!



Bộ Trưởng Công An Tô Lâm: Tên Tội Phạm Nguy Hiểm Nhất Thế Giới! 

24/07/2018
Ls.Nguyễn Văn Đài



Cảnh sát điều tra Đức trong vụ bắt cóc TXT khai trước tòa Thượng thẩm Berlin: «Trong thời gian vụ bắt cóc TXT xẩy ra, Có cuộc gọi từ Berlin tới Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam Tô Lâm, máy điện thoại cầm tay của ông Lâm với số đuôi 8888»”

Tô Lâm ( bên phải) trong một lần tới Berlincùng Bộ trưởng Bộ công thương VN Vũ Huy Hoàng.

Tô Lâm sinh ngày 10 tháng 7 năm 1957 tại Hưng Yên, bố là Đại tá Tô Quyền cựu giám đốc công an tỉnh Hưng Yên, trước khi nghỉ hưu là cục trưởng cục V26 (nay là Tổng cục 8). Trước khi lên Bộ trưởng, Tô Lâm từng giữ chức phó Tổng cục trưởng, rồi Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh phụ trách khu vực Âu châu, rồi lên Thứ trưởng phụ trách đối ngoại.

Khi còn giữ chức phó Tổng cục trưởng, Tô Lâm chỉ huy mạng lưới an ninh hoạt động tại các nước Đông Âu, Liên Xô cũ. Bởi vậy trong vụ án bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại CHLB Đức, Tô Lâm đã chỉ huy trung tướng Đường Minh Hưng, đàn em và đang là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh (vị trí của Tô Lâm trước đây) và mạng lưới an ninh tại Đức, các nước Đông Âu cùng với an ninh từ Việt Nam sang để thực hiện. Tô Lâm còn trực tiếp bay sang Slovakiađể nhờ mượn máy bay của chính phủ Slovakiachở Trịnh Xuân Thanh sang Nga, rồi sau đó về Việt Nam.

Chỉ riêng trong vụ án bắt cóc Trinh Xuân Thanh, Tô Lâm đã giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu. Hành vi phạm tội của Tô Lâm không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam, mà còn vi phạm luật pháp của CHLB Đức, vi phạm luật pháp quốc tế. Tô Lâm không chỉ là tội phạm của Việt Nammà còn là tội phạm quốc tế. Hành vi phạm tội của Tô Lâm gây chấn động nước Đức và Âu Châu, gây ra cuộc khủng hoảng ngoại giao tồi tệ nhất giữa Việt Nam và CHLB Đức. Tới mức ngày 22 tháng 9 năm 2017, CHLB Đức đã tuyên bố tạm đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam. Giờ đây khi nhắc tới Việt Nam, người dân Đức nghĩ ngay đến một số từ như bắt cóc, khủng bố, vi phạm nhân quyền.

Đầu tháng 10 năm 2017, Cơ quan điều tra của CHLB Đức đã phát lệnh truy nã trung tướng Đường Minh Hưng, mà lẽ ra phải phát lệnh truy nã đỏ đối với Tô Lâm.

Ngày 17 tháng 7 năm 2018, sau khi Nguyễn Hải Long đã thú nhận tham gia vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Chính phủ CH Séc đã tuyên bố ngưng cấp visa dài hạn cho công dân Việt Nam. Và lý do mà Bộ trưởng Bộ nội vụ CH Séc đưa ra là «Việt Namđã trở thành một mối nguy an ninh trong lĩnh vực xuất khẩu tội phạm có tổ chức.»”

Ở trong nước, từ ngày ngày Tô Lâm lên Bộ trưởng Bộ công an, đã tiến hành các chiến dịch đàn áp, bắt giữ hàng trăm người hoạt động nhân quyền, tự do và dân chủ, hoạt động môi trường.

Will Nguyễn – công dân Mỹ bị công an VN đánh đổ máu và kéo lê trên phố Sài Gòn
Tại sao Tô Lâm lại điên cuồng phạm tội như vậy?

Những ai theo dõi tình hình chính trị Việt Nam thì đều thấy rõ khi Nguyễn Tấn Dũng còn đang là đương kim Thủ tướng. Tô Lâm và Nguyễn Tấn Dũng như hình với bóng, nhất là trong các chuyến công du quốc tế của Nguyễn Tấn Dũng.

Tại Hội nghị trung ương 6 của đảng CSVN tháng 10 năm 2012, thực hiện quyết định của Bộ chính trị là đưa Nguyễn Tấn Dũng ra xem xét kỷ luật. Trong suốt thời gian diễn ra hội nghị, việc kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng gần như đã thống nhất, nhưng ngay trước khi bỏ phiếu, Tô Lâm đã có phát biểu với hàm ý bảo vệ Nguyễn Tấn Dũng và đe dọa những ai dám bỏ phiếu kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng. Kết quả cuối cùng là Nguyễn Tấn Dũng không bị kỷ luật và tại vị cho tới hết nhiệm kỳ. Điều này làm Nguyễn Phú Trọng vô cùng tức tối và uất ức tới mức đã khóc khi phát biểu kết thúc hội nghị.

Tháng 10 năm 2015, khi diễn ra đại hội đảng bộ tỉnh Kiên Giang để bầu bí thư tỉnh ủy. Tô Lâm trực tiếp đến dự và chỉ đạo hội nghị với hàm ý ủng hộ Nguyễn Thanh Nghị, con trai của Nguyễn Tấn Dũng. Kết quả Nguyễn Thanh Nghị giành 100% số phiếu bầu.

Sau khi đánh bại được Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng coi Tô Lâm là kẻ đáng ghét nhất và cần phải tìm cách kiểm soát và khi có cơ hội sẽ loại bỏ. Bởi vậy, lần đầu tiên trong lịch CSVN, một Tổng bí thư tham gia đảng ủy công an trung ương.

Tô Lâm lên Bộ trưởng với hàm thượng tướng và đã được nửa nhiệm kỳ mà chưa được phong đại tướng. Trong khi những người tiền nhiệm như Lê Hồng Anh, trước khi lên Bộ trưởng chỉ là binh nhất, ngay sau đó được phong đại tướng. Trần Đại Quang lên Bộ trưởng với hàm trung tướng, chỉ chưa đầy một năm đã lên thượng tướng rồi đại tướng. Điều này cho thấy, Nguyễn Phú Trọng đã dùng quyền lực trong đảng để ngăn chặn và khống chế Tô Lâm.

Để từng bước lấy lòng và tránh để Nguyễn Phú Trọng trả thù, cũng như tỏ ra trung thành với đảng, chế độ. Tô Lâm đã làm mọi việc một cách tận tụy để chiều lòng Nguyễn Phú Trọng. Như đàn áp khốc liệt phong trào dân chủ, đấu tranh nhân quyền ở trong nước. Khi biết mong muốn của Nguyễn Phú Trọng là bắt Trịnh Xuân Thanh bằng mọi giá. Tô Lâm đã bất mọi hậu quả khi vi phạm pháp luật Việt Nam, CHLB Đức, và quốc tế trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Trung tướng Đường Minh Hưng có mặt trong cuộc gặp giữa Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm và Bộ trưởng Bộ nội vụ Slovakia hôm 26.7.2017 tại khách sạn Boris, ngay sau vụ bắt cóc TXT xẩy ra.
Tại sao Tô Lâm lại là tên tội phạm nguy hiểm nhất?

Giới tội phạm quốc tế trong các lĩnh vực khủng bố, bắt cóc, buôn lậu ma túy, buôn bán người… Không có tên nào chính thức, công khai trong bộ máy chính quyền và giữ chức vụ Bộ trưởng quan trọng như Tô Lâm. Đứng đầu Bộ công an với quân số hàng trăm ngàn người, có mạng lưới điệp viên trải rộng trên thế giới, được vũ trang và trang bị những thiết bị hiện đại nhất cho ngành an ninh. Nên việc phạm tội của Tô Lâm gây ra nguy hiểm cho mọi người dân trong nước và cả cộng đồng quốc tế.

Ở trong nước, Tô Lâm cùng với ngành công an không chỉ phạm tội trực tiếp như tham ô, hối lộ, mua quan bán chức, vi phạm các quyền con người, bảo kê cho các nhóm lợi ích phạm tội, bảo kê cho các loại tội phạm khác và dùng các nhóm lưu manh côn đồ tấn công bạo lực những người hoạt động nhân quyền và dân chủ. Tô Lâm còn thực hiện việc xuất khẩu tội phạm có tổ chức ra nước ngoài (như lời của Bộ trưởng Nội vụ CH Séc đã tuyên bố).

Khi Tô Lâm thực hiện một hành vi phạm tội, thì có rất nhiều, thậm chí có hàng trăm, hàng ngàn người có chức vụ cùng tham gia, với các phương tiện, thiết bị hiện đại. Tô Lâm còn có thể dùng quyền lực vừa là ủy viên bộ chính trị, Bộ trưởng công an để huy động các ngành, các cấp ở trong và ngoài nước cùng tham gia phạm tội. Tô Lâm cùng sử dụng cả các quan hệ ngoại giao, chính trị quốc tế để phục vụ cho việc phạm tội của mình.

Bởi vậy, có thể kết luận rằng: Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ công an Việt Nam là tên tội phạm nguy hiểm nhất thế giới!

Chiếc xe biển số Séc đã được mật vụ Việt Namdùng để bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh hôm 23. 7. 2017, đưa vào ĐSQ Việt NamBerlin

Ghế chiếc xe VW T5, biển Công hòa Séc dùng để bắt cóc TXT đầy vết máu.

Ls. Nguyễn Văn Đài

Share:

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2018

Tố cáo tên tuổi những đứa bán nước chóp bu Việt Nam


Tố cáo tên tuổi những đứa bán nước chóp bu Việt Nam


Thư ngỏ của một sỹ quan Công an gửi các bạn đồng nghiệp - Tác giả gửi tới Dân Luận

Thưa các anh chị,

Tôi là một sỹ quan công tác trong lực lượng Công an như các anh chị. Tôi viết nên những dòng này sau nhiều đắn đo, cân nhắc. Là một người Việt, yêu nước Việt Nam, tôi thấy mình phải lên tiếng, góp phần dù ít hay nhiều để bảo vệ Đất nước.

Tôi xin khẳng định việc viết thư ngỏ hoàn toàn xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm của một người lĩnh lương từ những đồng tiền thuế của Nhân dân. Tôi cũng khẳng định không ai xúi giục tôi, và tôi kịch liệt phản đối mọi hành động tấn công cá nhân, mọi quan điểm quy chụp tôi viết với động cơ vì tiền, cũng như chụp mũ tôi là kẻ bất mãn. Tôi là người bất bình với những điều xấu xa, chỉ đơn giản vậy thôi! Hãy tranh luận với các luận điểm mà tôi đưa ra, đừng tấn công cá nhân tôi.

Thưa các anh chị,

Đất nước này không chỉ cho chúng ta, mà còn cho các con cháu, các thế hệ sau này. Nếu chúng ta không làm gì, có thể chỉ một thời gian ngắn nữa thôi Việt Nam sẽ biến thành một khu vực như Tân Cương, Tây Tạng, bị bành trướng Trung Quốc thâu tóm và đô hộ. Từ sâu thẳm trong tâm can, không có gì đau xót hơn khi thấy viễn cảnh u ám về việc nước nhà mất độc lập, bị ngoại bang nuốt chửng. Vì vậy tôi thấy phải có trách nhiệm viết lên thư ngỏ này.

Chẳng có luật nào của nước Việt Nam quy định đối tác cụ thể của các dự án phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng phải là Trung Quốc. Nhưng có một thực tế không thể chối bỏ là gần như tất cả các dự án lớn nhỏ hiện nay đều dính tới Trung Quốc. Hầu như toàn bộ các dự án nhiệt điện, nhà máy xi măng từ Bắc tới Nam, hoặc các dự án xây dựng lớn như đường sắt Cát Linh-Hà Đông đều do các công ty Trung Quốc thực hiện. Công nghệ Trung Quốc lạc hậu, ô nhiễm, dự án đội vốn gấp nhiều lần so với giá ban đầu, đó là thực tế mà bất cứ ai cũng có thể thấy được. Người Trung Quốc vào, việc phụ là làm dự án, việc chính là tìm cách lũng đoạn, lập làng, lập xóm, ngăn sông cấm chợ người Việt. Anh chị em làm công tác xuất nhập cảnh rất mệt mỏi với đám người TQ vào làm công nhân nhưng không có visa.

Một nước Việt Namsuy yếu, bất ổn sẽ là cơ hội để Đại Hán thỏa mộng bành trướng mà chúng nuôi giữ bao năm nay. Việc nhiều quan chức phát biểu trước báo chí, lấp liếm bằng cách nói Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc (tạm gọi là Luật Đặc khu) không liên quan đến Trung Quốc, không có mối đe dọa nào về an ninh là hành động ngụy biện và thể hiện tâm địa xảo trá, đê tiện.

Người Trung Quốc là bậc thầy trong việc mua chuộc và đưa hối lộ, còn các quan chức Việt Nam là “bậc thầy” trong việc nhận hối lộ và làm bậy. Bây giờ chưa có Luật Đặc khu nhưng trên khắp mảnh đất hình chữ S này, người Trung Quốc đã chiếm lĩnh, cát cứ nhiều vùng đất có vị trí chiến lược để biến thành đất riêng của chúng. Bên nước Lào, người Trung Quốc đã hối lộ cho chính quyền để thuê được một thị trấn và biến nó thành của Trung Quốc: ngôn ngữ chính thức, tiền giao dịch, múi giờ đều theo Trung Quốc. Thử hỏi đến lúc Luật Đặc khu của Việt Nam được phê chuẩn và đi vào triển khai, bọn bành trướng Tàu cộng sẽ sá gì mà không mua chuộc quan chức Việt Nam để làm tương tự với những khu vực được quy định là đặc khu?

Đất nước Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam, là của gần 100 triệu người Việt, không phải là tài sản riêng của nhóm lãnh đạo chóp bu Đảng CSVN để chúng muốn bán thì bán, muốn cho thì cho. Đảng không có quyền thay mặt gần 100 triệu người dân định đoạt số phận của cả Đất nước. Tôi viết đến đây hẳn sẽ có người vặn lại rằng, việc phê chuẩn Luật sẽ do Quốc hội (QH) quyết định, mà QH là đại diện cho dân. Tôi xin thưa ngay, QH Việt Nam không hề đại diện cho dân, họ chỉ là công cụ để Đảng hợp thức hóa các nghị quyết của Đảng. Quốc hội, được mang danh là cơ quan quyền lực cao nhất, là đại diện cho dân, nhưng trớ trêu thay lại do Đảng thâu tóm và kiểm soát. Và có một thực tế là gần như 100% đại biểu là đảng viên, vì vậy đương nhiên họ phải tuân theo chỉ thị của Đảng, dù nó có sai trái và phi lý cỡ nào đi nữa.

QH chưa họp, chưa bàn mà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch QH đã xơi xơi phát biểu rằng sẽ thông qua Luật Đặc khu. Bằng hành động đó, bà ta coi tất cả các đại biểu QH khác như đám thuộc hạ, muốn sai bảo thế nào cũng được. Nên nhớ rằng trong ngành lập pháp, Chủ tịch QH không phải là “sếp” và cũng không có quyền chỉ đạo, lãnh đạo các đại biểu QH. Người lãnh đạo các ĐBQH chính là Nhân dân. Đại biểu QH phải đại diện cho ý nguyện của Nhân dân, và chỉ chịu sự chi phối từ đông đảo người dân mà không phải bất kỳ một thế lực, đảng phái, hay một cá nhân cụ thể nào cả. Và cũng cần biết rằng, các bộ máy Đảng, nhà nước, chính phủ, quốc hội… đều là các thực thể sống bám vào tiền thuế của Nhân dân, vì vậy nếu những thực thể này phản bội lại lợi ích của Nhân dân thì tốt nhất là vứt bỏ chúng và thay thế bằng bộ máy lành mạnh và sạch sẽ hơn.

Đảng phái chỉ là nhất thời, Dân tộc mới là vạn đại. Đất nước Việt Nam trưởng thành, phát triển hàng ngàn năm qua đâu có cần Đảng CSVN? Và hơn nữa, Đảng CSVN trong nhiều chục năm gần đây đã lộ nguyên hình là một thế lực phản dân hại nước, vậy nó có còn xứng đáng với nước Việt Nam nữa không?

Quốc hội là nơi để Đảng hợp thức hóa các nghị quyết, quyết định, và đa số là sai trái và có hại cho Đất nước, cho Nhân dân.

Tôi không nói điều này vu vơ mà có bằng chứng cụ thể.
Chắc hẳn các anh chị còn nhớ những năm 2008, 2009, Bộ Chính trị của Đảng (mà đứng đầu là Nông Đức Mạnh, một kẻ bất tài, ngu ngốc nhưng tham lam tột độ) sôi sục, ép buộc triển khai bằng được Bô xit Tây Nguyên. Thực tế là sau gần 10 năm vận hành, Bô xit Tây Nguyên đã trở thành điểm nóng nhức nhối. Kinh khủng hơn về sự thua lỗ, ô nhiễm môi trường là thực tế người Trung Quốc vào xây dựng, lập làng, khoanh vùng cấm địa, không cho người Việt Nam vào trong. Và không ai có thể biết rằng liệu trong các nhà máy TQ kia có phải là những doanh trại quân đội với đầy đủ súng ống, khí tài, khi có lệnh là bung ra để trấn áp người Việt hay không.

Chắc hẳn các anh chị còn nhớ về Formosa, ngay khi nổ ra thảm họa nhiễm độc biển Hà Tĩnh, một mặt Đảng ra lệnh cho các cơ quan báo chí không được đưa tin rộng rãi. Mặt khác Đảng cho các quan chức ra tắm biển, ăn cá để gửi đi thông điệp rằng biển vẫn an toàn, cá chết là do tảo biển. Chỉ sau đó một thời gian, chính Formosa, dưới sức ép của Quốc hội Đài Loan (thật mỉa mai lại không là Quốc hội Việt Nam), đã phải công bố về thảm họa do chính Formosa gây ra, xả thải ra môi trường, tận diệt biển. Cá chết, biển nhiễm độc là do Formosa xả thải, chứ không phải do tảo biển như báo Đảng đã đăng.

Nhưng ngay cả khi vụ việc vỡ lở, Đảng vẫn ra lệnh cho báo chí chỉ được gọi là sự cố, mà thực ra phải là gọi là thảm họa mới đúng bản chất vụ việc. Nhưng có lẽ luật nhân quả là có thật, một kẻ cò mồi tuân lệnh Đảng lừa dối dân như tên Nguyễn Xuân Anh diễn trò tắm biển đã ngã ngựa, còn tên Trương Minh Tuấn, Bộ trưởng 4T diễn trò ăn mực Vũng Áng thì sắp sửa bị các đồng chí của hắn làm thịt vì phàm ăn.

Những người có tâm, có trách nhiệm đứng ra phản đối những quyết định vô lý thì bị Đảng chụp mũ là phản động rồi cho lực lượng công quyền hành hung, bỏ tù người ta. Đó là biểu hiện rõ nhất cho bản chất của lãnh đạo chóp bu của Đảng CSVN: Độc tài, chuyên quyền, tàn ác và vong bản. Tàn ác với những người đồng bào của mình nhưng hèn nhát với giặc. Trung Quốc cấp tập xây dựng trên những đảo cướp được của Việt Nam, kéo vũ khí, khí tài, triển khai quân lính trên đảo thì không thấy lãnh đạo chóp bu há miệng phản đối. Nhưng chỉ cần vài người dân Việt Namtụ tập phản đối là các lực lượng bu như nhặng xanh đỏ để đàn áp người ta. “Hèn với giặc, ác với dân” là cụm từ chính xác mô tả bản chất của chế độ cầm quyền hiện nay.

Nhiều lúc tôi băn khoăn tự hỏi, các quan chức của Đảng giàu sụ, tiền tham nhũng của chúng có ăn mấy đời không hết nhưng chúng vẫn tham lam vơ vét để làm gì?

Câu trả lời khá đơn giản, lòng tham của chúng vô đáy, vơ vét để chúng mua nhà ở Mỹ, Âu Châu, Úc Châu, để khi có biến là chúng vọt sang đó. Tôi nói điều này là có bằng chứng cụ thể. Rất nhiều các quan chức cấp tỉnh, cấp Trung ương, đại biểu quốc hội, hoặc trong ngành CA cỡ lãnh đạo các cục, tổng cục trở lên, hoặc lãnh đạo công an các tỉnh từ Bắc chí Nam đều gửi con sang Mỹ, Úc, New Zealand học, gửi tiền mua nhà, dần dần hợp thức hóa để định cư dài hạn. Một ví dụ rõ ràng nhất là tên Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm UBKT Quốc hội, ra sức bảo vệ BOT, bảo vệ Luật Đặc khu, tên này có nhà ở Đức, có con lấy chồng Đức, đi về Đức như đi chợ.

Các anh chị có bao giờ thử hỏi tại sao những người này không gửi con sang học và định cư ở các “thiên đường” XHCN (như Đảng gọi tên) như Trung Quốc, Cubahay Bắc Triều Tiên không? Đơn giản vì với chúng, CNXH hay một đảng chỉ là công cụ lợi dụng để vinh thân, phì gia để khi cần có thể chuồn đi định cư ở các nước tư bản giàu có.

Đối với những kẻ như vậy Đất nước hay Dân tộc không có ý nghĩa gì nhiều nhặn cho lắm, tiền mới là thứ chúng cần, vì vậy nếu có cơ hội bán nước để có thêm tiền, chúng sẽ làm!

Với những bằng chứng đó, có thể kết luận rằng không có một thực thể chính trị nào lại vong bản và vô loài như đám lãnh đạo chóp bu của Đảng CSVN, vì miếng ăn mà sẵn sàng bán rẻ quyền lợi Dân tộc, bán rẻ Đất nước ngàn năm do Ông Cha xây đắp và bảo vệ. Ngày nay, nếu có thần Kim Quy hiện lên, chắc hẳn Ngài sẽ chỉ thẳng vào dân Việt Nammà hét to lên: Giặc đang ở trên đầu các người đó!

Và tôi tự hỏi, đến bao giờ các anh chị mới chịu thức tỉnh rằng: Đám lãnh đạo chóp bu Đảng CSVN đang rắp tâm bán rẻ Đất nước cho Tàu cộng? Và tôi tự hỏi, đến bao giờ các anh chị mới chịu thức tỉnh rằng: Mình đang phục vụ những kẻ bán nước?

Và tôi tự hỏi, đến bao giờ các anh chị mới chịu nhận ra rằng: Đất nước, Dân tộc mới là giá trị cần phải bảo vệ, chứ không phải là Đảng CSVN? Khi Đảng đã trở nên phản bội lợi ích của Dân tộc, nó có còn xứng đáng để các anh chị bảo vệ không?
Qua thư ngỏ này, tôi có lời nhắn gửi đến các vị đại biểu quốc hội còn có lương tâm và biết suy nghĩ: hãy bấm nút không thông qua cho Dự luật Luật Đặc khu!

Những kẻ nào dám bấm nút thông qua sẽ được Lịch sử bêu tên là những kẻ bán nước. Tôi xin được khởi đầu cho việc điểm danh những kẻ thể hiện dã tâm bán nước bằng được, thông qua những phát ngôn của chúng, kèm theo các bài viết liên quan làm bằng chứng:

1. Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội

2. Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội

3. Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng

4. Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

5. Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm UB Kinh tế Quốc hội.

6. Nguyễn Ngọc Phương, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình

7. Nguyễn Thị Thủy, Đại biểu Quốc hội Tỉnh Thái Nguyên

8. Nguyễn Văn Thắng, Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội

9. Phạm Trọng Nhân, Đại biểu Quốc hội Tỉnh Bình Dương

Danh sách này chắc còn dài hơn nữa, nó sẽ được Nhân dân tiếp tục cập nhật. Những kẻ nào rắp tâm bán nước bằng cách bấm nút đồng ý thông qua Luật Đặc khu chắc chắn sẽ được ghi nhớ và tính sổ đầy đủ. Mong các anh chị đồng nghiệp hãy thức tỉnh và nghĩ về đất nước mình.

Từ bây giờ đến 15.6 là ngày lũ vong nô bấm nút đồng ý hợp thức hóa Luật Đặc khu để rước giặc vào nhà, các anh chị hãy làm gì đó để ngăn chúng lại. Làm gì cũng được, viết bài, chụp ảnh... miễn là đừng ngồi im, mũ ni che tai. Và quan trọng nhất là đừng tuân lệnh đàn áp đồng bào mình nếu họ xuống đường biểu tình phản đối. Họ làm vậy là để bảo vệ Đất nước, bảo vệ mảnh đất Tổ Tiên ngàn đời để lại, và cũng là bảo vệ các anh chị, các thế hệ mai sau của chúng ta. Hãy là một người Việt tử tế và yêu nước, đừng yêu Đảng!

Xin nhắn gửi đến toàn thể Nhân dân Việt Nam, kiều bào ở nước ngoài: đồng bào hãy hành động, đoàn kết và xuống đường biểu tình phản đối cộng nô bán nước cho giặc. Hoặc là bây giờ, cho đến trước ngày 15.6, hoặc là không bao giờ cả! Một vài người xuống đường chúng có thể cản, nhưng vài nghìn rồi vài chục nghìn người, thì không thế lực đen tối, phản tiến bộ nào có thể ngăn cản được. Dư luận quốc tế, các nước văn minh sẽ ủng hộ, và đặc biệt là Công an, Quân đội sẽ phải đứng về phía Nhân dân. Tôi biết nhiều anh chị em sỹ quan, rất nhiều người có tâm, trăn trở với vận mệnh Đất nước và họ sẽ sẵn sàng ủng hộ Nhân dân khi có cơ hội. Chúng ta biết rằng sự phẫn nộ ở trong Nhân dân đã lên rất cao, và chỉ cần một đốm lửa nhỏ sẽ làm bùng lên đám cháy đốt ra tro chế độ độc tài phản dân hại nước.

Mẹ Việt Namcần sự dấn thân của tất cả chúng ta!

Kính thư,
Một sỹ quan yêu nước

Nguồn FB
Share:

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2018

Lời kêu gọi của Đức Giám Mục Thomas Nguyễn Thái Thành, Giám mục phụ tá Địa Phận Orange, Hoa Kỳ



Lời kêu gọi của Đức Giám Mục Thomas Nguyễn Thái Thành,
Giám mục phụ tá Địa Phận Orange, Hoa Kỳ


Garden Grove ngày 28 tháng sáu 2018. 
Kính thưa anh chị em tín hữu, quý đạo hữu và đồng hương.
Sau nhiều đêm trăn trở âu lo trước hiện tình quê hương Việt Nam, khi hay tin CSVN mưu đồ ban hành Luật đặc khu kinh tế và Luật An Ninh Mạng, tôi xin được thố lộ tâm tình như sau.
Luật Đặc Khu chỉ là bình phong để che đậy và hợp thức hoá hành vi bán nước từng phần của Đảng CSVN lâu nay. Vấn đề thời sự nóng bỏng là ba đặc khu này lại nằm ở ba địa điểm chiến lược quan trọng của đất nước. Nếu chuyện này thực sự xảy ra thì sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước sẽ không được đảm bảo.. Và như vậy, có thể người Việt Nam chúng ta phải làm nô lệ cho ngoại bang ngay trên đất nước mình.
Còn với Luật An Ninh Mạng , nó chính là vũ khí tinh vi của chế độ để bóp chết thông tin, che mắt, bịt miệng, và tước đi quyền tự do ngôn luận của người dân.
Kính thưa quý vị,
«Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách»”. Ý thức rằng: Dù là một Giám Mục Công Giáo, tôi luôn tâm niệm rằng, tôi vẫn là một người Việt Nam, mang dòng máu Lạc Hồng. Đã từng là nạn nhân Cộng sản, tôi rất cảm thương cho số phận đồng bào ruột thịt mình đang bị bách hại ở quê nhà. Cách riêng những thành phần thấp cổ bé miệng, nhất là những nạn nhân đang bị chế độ bạo ngược của tập đoàn Cộng sản vô thần, vô tổ quốc, khủng bố, bức hiếp, xâm phạm thân thể, giam giữ bất công trong tù. Giản dị chỉ vì lòng yêu nước, ham chuộng tự do, hoà bình, công lý mà đồng bào ta không ngại nguy hiểm, dấn thân tham gia những cuộc xuống đường chống bè đảng «hèn với giặc, ác với dân»”, gian tham bán nước, can tâm làm tay sai cho Tàu Cộng.
Trong tâm tình «Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ»”, và trước sự sống còn của quê hương đất nước, tôi mạo muội khẩn thiết kêu gọi tất cả quý anh chị em tín hữu, quý đạo hữu và đồng hương hải ngoại hãy cùng nhau hướng về quê hương, thắp lên một nén nhang, dâng một lời cầu nguyện và nhất là tích cực đồng hành và yểm trợ tinh thần cũng như vật chất, để giúp đồng bào quốc nội thêm kiên cường bất khuất, sẵn sàng chịu hy sinh trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này, để đấu tranh cứu nguy dân tộc, bảo toàn lãnh thổ, chống lại âm mưu nhượng biển, bán đất cho Tàu Cộng, và dần dần đồng hoá dân Việt chúng ta.
Riêng các bạn trẻ, tôi tha thiết mong các bạn đừng quên cội nguồn của mình. Dù các bạn tuổi trẻ tài cao, thành đạt nơi quốc gia mình đang sống, các bạn cũng là những người Việt Nam máu đỏ da vàng. Nếu các bạn thờ ơ vô cảm, đến khi nước mất nhà tan, các bạn sẽ trở thành người mất gốc, vô tổ quốc ! Các bạn đừng quên các bạn chính là hy vọng, là tương lai của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Hãy mạnh dạn kết nối với những bạn trẻ trong nước qua việc cầu nguyện, thông tin trên mạng internet và tiếp tay đóng góp tài năng của mình, cùng nhau biểu dương sức mạnh của tuổi trẻ, dấn thân đáp lời sông núi, bảo vệ quê cha đất tổ, và dành lại tự do, dân chủ và nhân quyền cho quê hương Việt Nam.
Nguyện xin Thiên Chúa và Đức Mẹ La Vang chúc phúc và đồng hành cùng dân tộc Việt Namchúng con trong cuộc hành trình tìm lại những quà tặng mà Chúa trao ban cho chúng con.
Thân ái,
Thomas Nguyễn Thái Thành
Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Orange, Hoa Kỳ.

Share:

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

TN17 - Đức Giêsu quan tâm đến cả những nhu cầu thực tế của dân chúng




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 17 Thường Niên

(29-7-2018)


Đức Giêsu quan tâm đến cả những nhu cầu thực tế của dân chúng



ĐỌC LỜI CHÚA

  2V 4,42-44: (42) (Với hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm) ông Êlisa nói: «Phát cho người ta ăn». (43) Tiểu đồng hỏi: «Có bằng này, sao phát cho cả trăm người ăn được?» Ông bảo: «Cứ phát đi! Vì Đức Chúa phán: Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư». (44) Tiểu đồng phát cho họ ăn mà vẫn còn dư.

  Ep 4,1-6: (1) Là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em.

  TIN MỪNG: Ga 6,1-15

Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều

(1) Sau đó, Đức Giêsu sang bên kia Biển Hồ Galilê, cũng gọi là Biển Hồ Tibêria. (2) Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. (3) Đức Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. (4) Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Dothái.

(5) Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Philípphê: «Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?» (6) Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. (7) Ông Philípphê đáp: «Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút». (8) Một trong các môn đệ, là ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, thưa với Người: (9) «Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!» (10) Đức Giêsu nói: «Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi». Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 

(11) Vậy, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. (12) Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: «Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi». (13) Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. 

(14) Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giêsu làm thì nói: «Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!» (15) Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Đức Giêsu có quan tâm và dấn thân cho những nhu cầu cụ thể –như ăn uống, sức khỏe, sự thoải mái thể chất– của dân chúng không? Nếu không quan tâm đến những nhu cầu cụ thể ấy, Ngài có thể loan báo Tin Mừng một cách hiệu quả không? dân chúng có chịu đến để nghe Ngài dạy dỗ không? 
2. Trong một xã hội đầy bất công, áp bức, nhiều tệ nạn xã hội, người dân phải chịu đựng nhiều đau khổ, mà người tông đồ lại chỉ quan tâm đến nhu cầu tâm linh của họ, không đếm xỉa gì đến những đau khổ, những nhu cầu cụ thể và cấp bách của họ, thì việc tông đồ ấy có kết quả không? Tại sao?  
3. Trong những xã hội đầy bất công như thế, nhu cầu cụ thể và cấp bách của dân chúng là gì? Chúng ta chỉ cần xoa dịu những đau khổ cho dân chúng hay cũng cần giải quyết tận gốc những đau khổ ấy?


Suy tư gợi ý:

1. Đức Giêsu quan tâm tới cả nhu cầu thể chất của dân chúng

Bị cám dỗ sau khi ăn chay 40 ngày, Đức Giêsu nói với Satan: «Người ta sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra» (Mt 4,4). Nghĩa là con người không chỉ sống bằng thể chất, mà còn sống bằng tinh thần. Hành động của Ngài trong bài Tin Mừng hôm nay dường như muốn nói một câu đồng nghĩa như vậy, nhưng theo chiều ngược lại: «Người ta sống không nguyên bởi Lời Chúa, mà còn sống bởi bánh nữa». Nghĩa là con người không chỉ sống bằng tinh thần, mà còn sống bằng thể chất. Vì con người không chỉ thuần túy là tinh thần hay thần khí, cũng không chỉ là thể chất, mà là cả hai. Nên con người vừa có nhu cầu tinh thần, vừa có nhu cầu thể chấtĐức Giêsu quan tâm tới con người toàn diện, nghĩa là quan tâm tới cả nhu cầu tinh thần lẫn thể chất.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy điều ấy. Mặc dù sứ mạng của Ngài là cứu độ nhân loại khỏi nô lệ tội lỗi, nghĩa là chủ yếu về mặt tâm linh, nhưng không vì thế mà Ngài quên đi nhu cầu thể chất của con người. Thật vậy, khi «nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình», Ngài liền hỏi môn đệ: «Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?» (Ga 6,5). Thật ra, Ngài có thể để mặc họ trở về nhà với cái bụng lép xẹp, và chắc chắn chẳng ai lên tiếng trách móc Ngài vì đã để mặc họ như vậy. Nhưng Ngài không làm như vậy. Tình thương và sự nhạy cảm đối với đau khổ và hạnh phúc của con người đã thúc đẩy Ngài đáp ứng nhu cầu của họ. Họ cần nghe Ngài rao giảng, nhưng để có thể nghe Ngài, họ cũng cần phải no bụng.

Chính vì Ngài tỏ ra yêu thương họ, quan tâm đến những nhu cầu cụ thể của họ, mà họ đến với Ngài, sẵn sàng nghe Ngài dạy dỗ. Nếu Ngài không làm như vậy, sẽ có nhiều người chẳng đến với Ngài và chẳng nghe Ngài dạy bảo. Ở Việt Nam, nhiều người truyền đạo trong các tôn giáo khác cũng phần nào làm tương tự như Đức Giêsu: họ mở phòng thuốc, khám bệnh, chữa bệnh và cho thuốc miễn phí, và khi thuận tiện thì nói về đạo pháp cho những ai muốn nghe.

Như vậy, Đức Giêsu không chỉ lo phần rỗi đời sau cho con người, mà còn lo cả những gì cần thiết cho đời sống hiện tại của họ nữa. Ngài cũng ra lệnh cho các môn đệ ngoài việc rao giảng Tin Mừng, còn phải giải quyết những nhu cầu thể chất và cấp bách của họ: «Anh em hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Hãy chữa lành người đau yếu, làm sống lại kẻ chết, làm sạch bệnh người phong hủi, và khử trừ ma quỷ» (Mt 10-7-8)

Lo cho người ta về thể chất chính là cách biểu lộ tình thương đối với họ, đó là tạo điều kiện để lo cho họ một cách hữu hiệu về tâm linh.



2. Tình yêu đòi buộc ta phải ưu tiên đáp ứng những nhu cầu bức thiết nhất của người chung quanh ta

Nếu ta thật sự yêu thương những người chung quanh ta, ta sẽ hành xử với họ giống như ta vẫn hành xử với những người ta yêu thương nhất, như những người trong gia đình ta. Yêu thương ai, ta sẽ đáp ứng đúng nhu cầu của họ. Cho dù ta là một thầy giáo, một giáo sư đại học, một linh mục hay giám mục, không khi nào ta thấy người thân của ta đói, khát, hoặc bị một ai đó ức hiếp, đánh đập mà ta lại tặng họ một cuốn sách giá trị, hay một cuốn Thánh Kinh, cho dù những thứ đó cũng rất cần thiết cho họ. Nếu ta hành xử như vậy, mọi người sẽ nghĩ ta là người mất trí. Trường hợp đó, trước tiên, ta phải cho họ ăn, uống, hoặc nhảy vào can thiệp để người thân ta khỏi bị đánh đập đau đớn. Thế nhưng hiện nay, có biết bao người mang danh hiến thân phục vụ con người, lại chỉ biết lo cho họ về mặt tâm linh, chẳng đếm xỉa gì đến nhu cầu hết sức cụ thể, bức thiết và trước mắt của họ. Thế mà lúc nào những người ấy cũng vẫn tự hào mình đang hiến thân cho một sứ mạng cao cả là phục vụ con người.

Quả thật, trong xã hội và Giáo Hội vẫn luôn luôn có những con người «cao cả» theo kiểu đó, nghĩa là cao cả một cách phi thực tế. Họ có thể «bình tâm như vại» trước những đau khổ, thiếu thốn, trước những cảnh bất công, áp bức mà những người chung quanh mình phải chịu, trước những bàn tay giơ lên xin họ cứu giúp một cách khẩn thiết và tuyệt vọng. Nhưng những người «cao cả» này vẫn cảm thấy mình không cần phải làm gì cho những người khốn khổ ấy khác hơn là những việc gọi là tâm linh. Và một khi quan tâm lo những chuyện về tâm linh ấy, họ cảm thấy lương tâm mình bình an vì mình đã làm được những việc bác ái rất cao cả. Ngay cả khi làm những việc được gọi là bác ái cao cả ấy, có nhiều vị còn đòi hỏi đối tượng mình phục vụ phải bù đắp lại cho mình một cách cụ thể như những điều kiện phải có, nếu không thì họ sẽ chẳng làm. Nói cách khác, phải được bù đắp cụ thể họ mới chịu làm những việc «cao cả» ấy.


3. Nhu cầu bức thiết của con người trong những xã hội lầm than, nghèo khổ, đầy dẫy bất công áp bức

Trong những xã hội hay đất nước nghèo khổ, đầy dẫy những tệ nạn xã hội, những bất công áp bức, thì nhu cầu bức thiết của người dân rất là cụ thể. Là những người theo Chúa, tuy ta đặt rất nặng mặt tâm linh –đó là điều hợp lý– nhưng ta không thể hoàn toàn lãnh đạm hoặc không biết đến những nhu cầu khẩn thiết và cụ thể của người dân chung quanh ta. Thiết tưởng sống trong một đất nước càng nghèo khổ, càng đầy dẫy sự bất công áp bức, càng lan tràn những tệ nạn xã hội, thì người theo Chúa càng phải quan tâm và dấn thân nhiều hơn cho những vấn đề ấy. Nói cách khác, người theo Chúa đúng nghĩa phải quan tâm đến sự phát triển của con người, sự công bằng của xã hội, và sự tiến bộ của thế giới. Đó là một chiều kích nhân bản không thể thiếu trong việc nên thánh, hay việc nên giống Chúa Giêsu, Đấng «muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ» (Hs 6,6; Mt 9,13), lại càng không thể thiếu trong việc tông đồ, trong việc mở mang Nước Trời.

Tông huấn Giáo Hội tại châu Á viết: «Không thể cắt đứt việc thờ phượng Thiên Chúa với việc chăm sóc người yếu kém, được Kinh Thánh mô tả một cách điển hình là “cô nhi, quả phụ và ngoại kiều” (x. Xh 22,21-22; Đnl 10,18; 27,19), là những người dễ bị tổn thương nhất khi có bất công đe dọa. Thánh Gioan Kim Khẩu viết: Anh em có muốn tôn kính thân thể Chúa Kitô không? Vậy thì đừng bỏ qua Ngài khi thấy Ngài trần truồng. Đừng tôn vinh Ngài với đủ thứ gấm vóc lụa là trong đền thờ, trong khi lại bỏ mặc Ngài đang run lạnh và trần truồng ngoài trời. Đấng đã từng nói “Đây là mình Thầy” cũng chính là Đấng đã nói "Các ngươi thấy ta đói mà không cho ăn"… Có ích gì khi bàn tiệc Thánh Thể thì chất nặng những chén lễ bằng vàng, trong khi Đức Kitô đang hấp hối vì đói khát? Hãy cho Ngài hết đói khát trước đã, rồi mới lấy những gì còn lại mà trang hoàng bàn thờ!» (Tông huấn Giáo Hội tại châu Á, số 41§2)

Tinh thần của những câu trên hoàn toàn phù hợp với lời Đức Giêsu: «Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế» (Mt 9,13) hay «Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình» (Mt 5,23,24). Tại sao theo Chúa mà mình lại chuyên môn làm ngược lại tinh thần của Chúa?

Chính vì để ta dễ dấn thân cho anh em đồng loại của ta hơn, đặc biệt trong những hoàn cảnh nguy hiểm của những xã hội đầy áp bức bất công mà Đức Giêsu đòi hỏi những kẻ theo Ngài phải từ bỏ nhiều thứ thế gian hằng gắn bó. Thật đáng hổ thẹn cho những người tông đồ đã từng cam kết từ bỏ mọi thứ mà lại dấn thân cho anh em không bằng những người không hề cam kết! Thật là mỉa mai khi người tông đồ chủ trương sống độc thân để dễ dàng dấn thân cho đồng loại hơn, lại không thể dấn thân mạnh dạn bằng những người có gia đình! Rất có thể tại vì họ đang sợ mất đi những gì mà họ đã từng cam kết từ bỏ khi dấn thân làm tông đồ!




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, chúng con theo Đức Giêsu, nhưng lại chẳng làm theo gương Ngài. Ngài dùng tình thương để đến với mọi người hầu dẫn họ về với Cha. Còn chúng con, chúng con chỉ muốn dẫn họ về với Cha mà không thèm đến với họ, không cần tỏ ra yêu thương và quan tâm đến những nhu cầu cụ thể bức thiết của họ. Phải chăng chúng con đang làm một chuyện vô ích? và công sức của chúng con đổ ra sẽ chỉ là «công dã tràng»? Xin giúp chúng con noi gương Đức Giêsu, biết yêu thương và quan tâm đến những nhu cầu cụ thể của đồng loại trước khi muốn dẫn họ về với Cha.


Share:

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2018

Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu



Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu
Nguyễn Anh Tuấn

● Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của toàn dân Việt ba miền Bắc- Trung- Nam qua những cuộc biểu tình của hàng triệu người dân xuống đường chống Cộng Sản Việt Nam phản quốc đan tiến hành bán ba Đặc Khu có giá trị chiến lược của đất nước cho Tàu cộng là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc; trước tình trạng vô cùng nguy hiểm là Tàu cộng đang từng bước xâm lăng đất nước thân yêu của chúng ta nhờ sự tiếp tay đắc lực của đảng CSVN;

● Trước những đột biến dồn dập và nóng bỏng đó, đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu? Trước những tử lộ ấy, chúng ta tìm đâu ra sinh lộ cho Dân Tộc này? Làm sao và làm thế nào để đương đầu với thù trong giặc ngoài, chúng độc ác gian manh như ma quỉ? và làm sao để thay đổi và chuyển hóa vận mạng quá đau thương của gần 100 triệu dân đang đứng trước làn sóng xâm lăng dồn dập của giặc Tàu ngoại xâm? Gần 100 triệu con người sống trong đường hầm tăm tối của dòng sử mệnh Việt tìm đâu ra ánh sáng cuối đường hầm?

● Trước tình thế nóng bỏ và sôi động đó…

 Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm, với Đại Hội Song Thất, có những nhận định như sau:

Nhóm Tùng Phong, đứng đầu là ông Ngô Đình Nhu, đã nghiên cứu viết ra cuốn Chính Đề Việt Nam để làm kim chỉ nam cho việc xây dựng nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam ngay trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng của chiến tranh chống cộng sản xâm lăng. Với kim chỉ nam của cuốn Chính Đề, với sự lãnh đạo anh minh của Tổng thống Ngô Đình Diệm và sự hợp tác của dân quân Miền Nam, Miền Nam Việt Nam đã trở thành hòn ngọc Viễn đông chỉ trong vòng 9 năm (1954-1963). Từ cuốn Chính Đề, chúng ta có thể rút ra những bài học lịch sử rất cần thiết cho cuộc tranh đấu chống thù trong giặc ngoài đang vây hãm toàn dân Việt. Sự thật lịch sử cho thấy, chủ thuyết của Karl Marx và Cách Mạng Cộng sản đã chết, không chỉ tại Miền Bắc Việt Nam mà chết trên toàn thế giới. Cách mạng Dân Chủ tại Miền Nam do Tổng thống Diệm chủ trương đã thành công rực rỡ với Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng cuộc Cách Mạng Dân Chủ ấy vẫn còn đang dang dở. Vì thế, ngày nay, thế hệ hậu duệ trong cộng đồng dân tộc phải tiếp nối cuộc CÁCH MẠNG DÂN CHỦ MIỀN NAM ấy để thách đố với những kẻ phản quốc và giặc ngoại xâm là Tàu cộng đang xâm lăng đất nước thân yêu.

Giả sử nếu Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu không bị lật đổ và bị thảm sát vào 1963, thì một tương lai tươi sáng đầy hứa hẹn đã phát triển mạnh mẽ tại Miền Nam, tương tự như nước Nhật đã phát triển đất nước của họ về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, canh nông, điền địa, khoa học kỹ thuật, quân sự, thương mại và giáo dục; Đất nước đã được phát triển toàn diện. Và chỉ 10 năm sau (1963-1973), thì Miền Nam chắc chắn đã trở thành một cường quốc kinh tế tại Á Châu, vì vào thời đó, Việt Nam chỉ đứng sau Nhật Bản và hơn hẳn cả Trung Hoa Lục Địa lẫn Ấn độ.

Quan trọng hơn, nếu Miền Nam vẫn tồn tại với đà phát triển như trên thì chỉ trong 10 năm kế tiếp (1973-1983), chắc chắn Miền Nam không chỉ là một cường quốc kinh tế mà còn là một cường quốc quân sự có bom nguyên tử tại Á Châu mà nước Tàu lúc đó khó sánh kịp. Khi Việt Nam trở thành cường quốc quân sự có nguyên tử, thì kể từ đó, Việt Nam đã chấm dứt được họa xâm lăng của nước Tàu.

Sự an nguy của vận mạng Việt Nam là sự an nguy của cả vùng Đông Nam Á. Việc lật đổ và sát hại Tổng thống Diệm đã đưa đến cái chết cho Miền Nam Việt Nam vào 1975. Mất Miền Nam Việt Nam vào tay cộng sản, và mất Việt Nam vào tay Tàu cộng, đã và sẽ đẩy cả vùng Đông Nam Á vào bàn tay khuynh đảo của Tàu cộng, và cảnh hỗn loạn đã xảy ra như mọi người đều thấy hiện nay tại Biển Đông.

Lật đổ và sát hại Tổng thống Diệm, nhóm tướng lãnh và những người đội lốt Phật giáo Ấn Quang phản loạn cũng như nước bạn đồng minh Hoa Kỳ đã ngây thơ dại khờ không biết phân biệt bạn thù, nên họ không chỉ giết hại những bậc sĩ phu khả kính và những nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc Việt nam, những người suốt đời vì nước vì dân quên thân mình đề lèo lái con thuyền Việt Nam đang lên đênh trên sóng dữ của chiến tranh chống xâm lăng, mà người ta còn giết luôn 14 triệu dân vô tội của Miền Nam Việt Nam, giết luôn nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam như giết một quốc gia vừa mở mắt chào đời tại Á Châu, cũng như phá sập cả Tiền đồn của Thế Giới Tự Do. Vì thế, nền an ninh, hòa bình và ổn định tại Á Châu bị đe dọa từ đó đến nay.

Thực tế lịch sử cho thấy: vào những thập niên 40, 50 và 60, đa số lãnh tụ các đảng phái thuộc phe Quốc Gia và đại đa số dân Việt Nam chưa hiểu và không hiểu cộng sản là gì, thì Tổng thống Diệm và nhóm Tùng Phong đã nhìn thấu tim đen những tên cộng sản đang phát động chiến tranh xâm lăng Miền Nam là Mao Trạch Đông và cộng sản Hoa Lục, và những kẻ xâm lăng đã đẻ ra Cộng sản Bắc Việt để họ làm tay sai cho Mao thực hiện âm mưu quỷ quyệt là mượn tay người Việt giết người Việt. Sinh lực và tiềm lực của một dân tộc quật cường, đã phải nhỏ máu từng giờ suốt 70 năm qua, bây giờ làm sao đứng dậy được trước nanh vuốt hãi hùng của thù trong giặc ngoài đang gieo họa diệt vong cho dân tộc này?

Cuốn Chính Đề Việt Nam vào những thập niên đó đã đưa ra những tiên đoán có giá trị như lời tiên tri sau:

«Chủ trương cộng sản chẳng những không giải quyết được những vấn đề quốc gia trong thời kỳ này, mà còn đưa Dân Tộc Việt Nam vào con đường đen tối cho nhiều thế hệ tương lai… Vì sự lệ thuộc vào chủ nghĩa cộng sản… sự lệ thuộc đã chia đôi đất nước, đã tạo hoàn cảnh cho sự chi phối và âm mưu thống trị của nước Tàu đối với Dân Tộc Việt Nam, đã khơi lại tham vọng bành trướng sôi sục của nước Tàu sau một thế kỷ bị gián đoạn. Ký ức về sự thống trị tàn khốc của nước Tàu còn ghi trong những trang sử, và trong tế bào của mỗi chúng ta.

«Cộng Sản Bắc Việt, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Tàu cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh kinh khủng. Hành động của Cộng sản Bắc Việt nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển, mà còn đe dọa cả Dân Tộc Việt Nam.

«Sở dĩ đến nay, sự thống trị của Tàu cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của Miền Nam dưới ảnh hưởng của Mỹ là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử Miền Nam Việt Nam bị Cộng sản Bắc Việt thôn tính, thì sự thôn tính Việt Nam của Tàu cộng chỉ còn là vấn đề thời gian.

«Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của Miền Nam là sự bảo đảm cho Dân Tộc thoát khỏi ách thống trị của Tàu cộng, vừa bảo đảm cho cơ hội phát triển của chúng ta, vừa bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt khi họ ý thức được nguy cơ mà Tàu cộng đang đến với Dân Tộc Việt Nam. Nhưng ngày nào họ vẫn giữ ý định xâm chiếm Miền Nam, thì họ vẫn nằm trong sự chi phối chính sách chiến tranh xâm lăng của Tàu cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình như Nga hiện nay.

«Vì vậy, sự mất còn của Miền Nam ngày nay trở thành sự kiện quyết định sự mất còn cho tương lai của Dân Tộc Việt Nam. Do đó, tất cả những nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này là phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, vào sự phát triển của Miền Nam để duy trì lối thoát cho cả Miền Bắc, và cứu Dân Tộc thoát khỏi sự thống trị của Tàu cộng một lần nữa» (trích từ cuốn Chính Đề Việt Nam trang 301-302)

Những nhận định trên của nhóm Tùng Phong cho thấy: họ là những người duy nhất trong cộng đồng Dân Tộc Việt thời ấy có được những viễn kiến như những bậc tiên tri trong Thánh Kinh Cựu Ước. Những người Việt Nam chống đối Tổng thống Diệm của cả hai miền Nam-Bắc đã không những không thèm nghe những lời cảnh giác cực kỳ nghiêm trọng có tính cách sinh-tử của cả Dân Tộc, mà họ còn giết cả những bậc tiên tri tiên giác đó để sau đó mang đại họa cho chính dân tộc của họ. Đúng là vì oan khiên nghiệp chướng vĩ đại này mà ngày nay Dân Tộc Việt Nam phải gánh chịu đại họa của giặc ngoại xâm, vì không ai trong những người chống đối Tổng thống Diệm chú ý tới những cảnh giác nghiêm trọng đó. Những con người này chỉ chú tâm tới quyền hành và quyền lợi ích kỷ của riêng họ hay của đảng phái, phe nhóm của họ. Tại sao lúc ấy không mấy ai nghĩ đến nỗi an nguy của cả một dân tộc? Vì nước mất thì nhà tan, rồi sau đó họ sống với ai đây? Hay rồi họ cũng chết trong tủi nhục vì lầm lạc trước những kẻ xâm lăng?

Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, những đảng phái chính trị Miền Nam, những tướng lãnh Miền nam, những vị trí thức khoa bảng, những tổ chức đội lốt Phật giáo Ấn Quang hay 17.000 sinh viên các đại học Miền Nam đều lầm tưởng Tổng thống Diệm, Cố vấn Nhu và các nhà ái quốc trong hệ thống chính quyền Miền nam là những kẻ thù của họ chỉ vì họ không nhìn thấy những âm mưu vô cùng độc ác và quỷ quyệt của Tàu Cộng và Cộng sản Bắc Việt đang mượn tay chính người Việt để xâm lăng Việt Nam. Đau thương hơn nữa là những thành phần kể trên không mấy ai chú tâm tới để tìm hiểu xem VẬN MẠNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM thực sự là gì. Hàng ngũ đông đảo những con người này cũng chẳng mấy ai thấu hiểu được NHỮNG VẤN ĐỀ TRỌNG ĐẠI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM hiện nay cần phải giải quyết là những gì, và làm sao giải quyết, nếu muốn sống còn trước thảm nạn ngoại xâm đang đe dọa sinh mệnh Việt Nam từng giờ?

Ngược lại, Tổng thống Diệm, ông Nhu và các bậc sĩ phu và các nhà ái quốc của thời Đệ I Cộng Hòa khi viết ra cuốn Chính Đề Việt Nam đã nhận ra VẬN MẠNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM đang phải đối mặt với những thử thách kinh hoàng và cực kỳ đen tối. Vận mạng đó được cuốn Chính Đề viết như sau:

«Nước Việt Nam là một nước nhỏ, nhỏ về dân số, nhỏ về lãnh thổ, yếu kém về phát triển kinh tế, luôn luôn sống trong phong ba bão táp do những nước lớn gây ra, và luôn luôn sống trước những đe dọa liên tục của giặc ngoại xâm suốt 8 thế kỷ qua.»

Trước những thực tế thảm thiết của lịch sử, cuốn Chính Đề Việt Nam không chỉ nhận ra được VẬN MẠNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, mà Tổng thống Diệm và các nhà ái quốc thời Đệ I Cộng Hòa còn đưa ra được NHỮNG GIẢI PHÁP THIẾT THỰC ĐỂ THAY ĐỔI VẬN MẠNG ĐEN TỐI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM. Kết quả hiển nhiên mà 14 triệu dân Miến Nam đều thấy rõ, ĐÓ LÀ CHỈ TRONG 9 NĂM (1954-1963), quân dân Miền Nam đã cùng Tổng thống Diệm, không những chiến thắng giặc cộng sản xâm lăng từ Miền Bắc, mà dân quân Miền Nam còn xây nên được Hòn Ngọc Viễn Đông. Nhưng hỡi ôi! thời hoàng kim của Miền Nam Việt Nam nay còn đâu! Lỗi thuộc về ai?

Tại sao và vì lý do nào mà Tổng thống Diệm đạt được những thành quả vĩ đại đến nỗi Giáo sư Buttinger phải nói: «Thành quả chính trị đạt được như một phép lạ». Về vai trò lãnh đạo, cuốn Chính Đề đã viết như sau:

«Thiểu số lãnh đạo đáng tin cậy nhất gồm những con người có đạo đức, sáng suốt, thấu hiểu những vần đề cần giải quyết, có khả năng vật chất, có trí tuệ sáng láng và tinh thần sung mãn để đương đầu và ứng phó với mọi tình thế. Quan trọng nhất và thiết yếu nhất là phải thấu triệt những vấn đề cần giải quyết của cộng đồng quốc gia».

Xét về những giá trị cốt lõi và nền tảng của những ai đứng ra lãnh đạo quốc gia cần phải có, thì những tướng lãnh cầm đầu cuộc Đảo Chánh và sát hại Tổng thống Diệm và ông Nhu để lên nắm quyền hành lãnh đạo quốc gia Miền Nam từ 1963-1975, có ai là người đạo đức, sáng suốt, thấu hiểu những vấn đề cần giải quyết không? có ai có khả năng vật chất, có trí tuệ sáng láng và có tinh thần sung mãn để đương đầu với mọi tinh thế không? Quan trọng nhất và thiết yếu nhất là có ai thấu triệt được những vấn đề cần giải quyết của cộng đồng quốc gia không?

Nếu câu trả lời là «», thì Miền Nam không bao giờ rơi vào tay cộng sản để họ đem bán đất nước Việt Nam cho kẻ thù truyền kiếp như hiện nay. Nếu câu trả lời là «không có» hay «không mấy ai», thì Miền Nam có mất vào tay những người cộng sản phản quốc để họ rước kẻ thù truyền kiếp vào hầu xích hóa quê hương Việt Nam, thì đó cũng là điều dễ hiểu. Những sự thật lịch sử đau lòng đó còn cho thấy một sự thật khủng khiếp nữa mà cũng không mấy ai chú tâm tới, ĐÓ LÀ THẾ GIỚI CHÍNH TRỊ VIỆT NAM, MỘT THẾ GIỚI CHÍNH TRỊ PHE NHÓM(political factionism), trong đó không có hay chưa có thứ chính trị mang tầm vóc quốc gia như Tổng thống Diệm dưới thời Đệ I Cộng Hòa Việt Nam. Trong đó, các đảng phái và các phe nhóm chính trị tranh đấu là để dành quyền lực và quyền lợi cho đảng hay cho phe phái riêng của họ. Những phe phái này thường không chú ý tới quyền lợi của quốc gia và quyền lợi của toàn dân. Vì họ thường hy sinh quyền lợi quốc gia và quyền lợi của toàn dân cho quyền lợi riêng của đảng hay phe phái họ. Vì thế, các đảng hay phe phái rất xa lạ với toàn bộ đời sống quốc gia, và đời sống chính trị tại Việt Nam thường xuyên là những cơn ác mộng hãi hùng liên tục.

Trên đây là tất cả những lý do khiến các đảng phái và phe phái có thái độ thù nghịch với Tổng thống Diệm nên đã tiếp tay lật đổ Tổng thống Diệm chỉ vì ông bảo vệ mạnh mẽ quyền lợi quốc gia và quyền lợi của toàn dân Miến Nam. Việc bảo vệ này va chạm mạnh mẽ quyền lợi của đảng phái và phe nhóm (interest conflict) nên tất cả đã thù ghét Tổng thống Diệm. Tổng thống Diệm và chính quyền của ông không hề phủ nhận quyền hành và quyền lợi của các đảng phái và phe nhóm, mà chỉ muốn tạo nên một sự thăng bằng đồng tiến giữa quyền lợi của dân và quyền lợi của phe nhóm với quyền lợi của quốc gia, nhưng rất tiếc không có đảng phái nào chịu hiểu. Đây là một vấn nạn lớn nhất đã kềm giữ đời sống chính trị quốc gia Việt Nam trong non kém và lạc hậu. Do đó, cần phải chấm dứt vấn nạn này bằng một ý thức chính trị tự do dân chủ pháp trị thật công minh và nghiêm minh, thì đời sống chính trị quốc gia mới trở nên chín chắn và trưởng thành được.

Những thực tế trong xã hội chính trị quốc gia cho thấy, đâu là chủ trương chính trị quốc gia và đâu là đường lối chính trị phe nhóm, cũng như hậu quả của hai khuynh hướng chính trị này. Khuynh hướng chính trị phe nhóm thường xuyên tạo ra những xung đột với cảnh tranh danh đoạt lợi liên tục làm cho sự đoàn kết quốc gia không bao giờ đạt được. Khi phải đối đầu với những thử thách mang tầm mức rộng lớn của quốc gia như vấn nạn xâm lăng hay phát triển quốc gia, chính trị phe phái thường bất lực vì chia rẽ. Đây mới là lý do chính yếu đã đưa đến những thất bại liên tục cho hàng ngũ Quốc Gia từ một thế kỷ nay. Càng duy trì, bảo vệ và củng cố tinh thần phe nhóm thì càng chia rẽ. Đây là một sự thật rất đau lòng mà cũng chẳng có mấy ai chú ý để tìm ra một sự ĐỒNG THUẬN và ĐOÀN KẾT.

Những câu hỏi được đặt ra cho cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay là: Đời sống chính trị quốc gia có cần Đạo Lý không? có cần hiến pháp và luật pháp thật công minh và nghiêm minh không? Tầng lớp lãnh đạo các cấp chính quyền có cần đạo đức, sáng suốt và thấu hiểu những vấn đề thiết yếu của quốc gia cần phải giải quyết không? Trí tuệ của người lãnh đạo có cần sáng suốt không? Tinh thần của người lãnh đạo có cần sung mãn không? Quan trọng và thiết yếu hơn hết là tầng lớp lãnh đạo có cần nắm vững toàn bộ đời sống của quốc gia không? Tầng lớp lãnh đạo có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của quốc gia và quyền lợi của toàn dân không, hay họ chỉ bảo vệ quyền lợi ích kỷ cho riêng mình?

Nếu câu trả lời là «cần thiết phải có» thì thử nhìn lại xem dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Diệm trong chế độ Đệ I Cộng Hòa Việt Nam, có những tiêu chuẩn giá trị lãnh đạo đó không? Từ những giá trị tiêu chuẩn vững chắc đó, người ta thấy sau khi lật đổ Tổng thống Diệm và sát hại ông thì không còn ai xứng đáng và có đủ sức mạnh để đứng ra bảo vệ quyền lợi quốc gia và quyền lợi của toàn dân Việt Nam nữa. Phải chăng Tổng thống Diệm đã gục chết vì tinh thần chính trị phe phái khi ông muốn bảo vệ mạnh mẽ quyền lợi quốc gia và quyền lợi của toàn dân Việt Nam?

Sự thật lịch sử đau đớn nhất, cay đắng nhất, buồn bã nhất, tủi hổ nhất và đáng nguyền rủa nhất là gì? Đó là lật đổ và sát hại Tổng thống Diệm cũng chính là sát hại cả Miền Nam Việt Nam và tạo luôn cơ hội cho Tàu cộng chiếm đoạt cả nước Việt Nam như hiện nay; sự lầm lạc mù quáng mê sảng của một số người tại Miền Nam cũng như tại Miền Bắc đã vô tình tiếp tay với Cộng sản Bắc Việt, khiến gần 100 triệu dân Việt Nam ngày nay phải đối đầu với họa diệt vong của giặc phương Bắc là Tầu cộng. Đây có phải là một sự thật của lịch sử không?

Di ngôn của Tổng thống Ngô Đình Diệm, của Cố vấn Ngô Đình Nhu và các nhà ái quốc thời Đệ I Cộng Hòa để lại cho toàn dân Miền Nam như sau:

«Trách nhiệm ứng phó với thử thách hiện bây giờ đang đè nặng lên vai của Miền Nam Việt Nam. Và chưa bao giờ cộng đồng Dân Tộc đòi hỏi mỗi phần tử phải tham gia vào công cuộc đầy kích thích như ngày hôm nay.

«Không có sự ước mong nào tha thiết hơn là ước mong thấy Dân Tộc lại vượt qua được thử thách, lần này cũng như những lần đã qua trong lịch sử.

«Thử thách quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa cũng như xã hội…

«Vấn đề của giới lãnh đạo quốc gia là phải đào đến đá, đặt nền móng cho một ngôi nhà với quan niệm rõ rệt và thích hợp với Dân Tộc Việt Nam. Chỉ có cách đó khối Quốc Gia mới thay thế và loại trừ hẳn được ngôi nhà cộng sản độc tài».

Theo đó, xây dựng một chế độ dân chủ đáy tầng pháp trị (legal grass-root democracy) là một nhu cầu tất yếu của lịch sử Việt Nam.

Ngày nay, trước những di ngôn mà Tổng thống Diệm đã viết ra để dặn dò các thế hệ hậu duệ vì biết mình sẽ nằm xuống, KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU đứng ra để tổ chức Đại Hội Song Thất hôm nay với mục đích gì? Ý nghĩa gì và tiêu chuẩn giá trị nào? Đây không phải một tổ chức chính trị để tranh đấu nắm quyền hành và quyền lực quốc gia cho riêng mình như một đảng phái chính trị thông thường, mà KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU chỉ khao khát và mơ ước góp những bàn tay bé nhỏ và tiếng nói để phát huy TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM. Tinh thần này là tinh thần cách mạng dân chủ Miền Nam Việt Nam còn đang dang dở và bị gián đoạn kể từ khi Tổng thống Diệm bị bức tử. Những thế hệ hiện nay và sau này cần tiếp nối con đường cách mạng dân chủ đó. Tinh thần này cũng đồng nghĩa với tinh thần:

1) Phát huy Đạo lý, sự thật, đạo đức và công lý trong chính trị quốc gia.

2) Đề cao và cổ súy tinh thần tranh đấu liên tục để bảo đảm cho quyền tối thượng của toàn dân Việt.

3) Dấn thân tranh đấu cách mạng để giúp dân xây dựng những chính quyền của dân do dân và vì dân từ các chính quyền địa phương đến chính quyền quốc gia. Vì để bảo vệ và bảo đảm cho nhân quyền của dân thì phải giới hạn quyền hành của chính quyền, phải phân chia quyền hành và kiểm soát hữu hiệu những người nắm giữ quyền hành quốc gia các cấp.

4) Phát huy và cổ súy tinh thần bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của mỗi cá nhân người công dân và toàn thể người dân.

5) Xây dựng hệ thống chính quyền để phân phối quyền hành và quyền lợi làm sao cho công lý và công bằng được bảo đảm vững chắc để quyền hành và quyền lợi của dân, của các phe phái, và của quốc gia luôn luôn được duy trì trên trạng thái thăng bằng đồng tiến. Khi làm được như thế thì những xung đột và sâu xé vì quyền hành và quyền lợi giữa người dân và chính quyền, giữa quyền lợi phe phái và quyền lợi quốc gia sẽ giảm thiểu tối đa. Có thăng bằng đồng tiến thì đời sống chính trị quốc gia mới có trật tự, hòa bình và ổn định để bảo đảm quyền lợi của từng người dân, bảo vệ quyền lợi của những đảng phái và bảo vệ quyền lợi của quốc gia. Cứu cánh tối hậu của chính quyền là bảo vệ và bảo đảm quyền lợi của toàn dân và quyền lợi quốc gia. Nếu không bảo vệ được quyền lợi quốc gia thì nước sẽ mất. Nước mất thì nhà nhà sẽ tan. Lúc đó các phe phái và đảng phái lấy gì để tồn tại? Vì lẽ đó, đã đến lúc các đảng phái chính trị phải có chủ trương ưu tiên bảo vệ quyền lợi quốc gia cũng như bảo vệ quyền lợi của từng người dân và tất cả người dân, nếu muốn được người dân tin cậy để trao quyền đại diện cho dân trong các cấp chính quyền. Phải hiểu rằng quyền làm chủ quốc gia chính là quyền của người dân, nên bảo vệ quyền lợi của toàn dân chính là bảo vệ quyền lợi quốc gia. Nếu người dân chưa có ý thức quyền làm chủ đất nước, thì hãy giúp dân thấu hiểu vị trí là chủ đất nước của họ.

6) Xây dựng một hệ thống giá trị cho một xã hội đang tan rã để hồi sinh lại sức sống cho dân tộc và đoàn kết quốc gia với một nền văn hóa tổng hợp tinh thần chung của các tôn giáo, của Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước cũng như của các kinh điển Phật giáo, Cao Đài và Hòa Hảo.

7) Làm sáng tỏ vai trò, trách nhiệm, bổn phận và chức năng của các tôn giáo trong đời sống chính trị quốc gia cũng như trong đời sống cộng đồng và đời sống quốc gia trên những giá trị vô hạn của tôn giáo.

Trong Tu Chính Án số 1 của Hiến Pháp Hoa Kỳ có ghi rõ ràng: «Separation of Church and State», tức là «tách giáo hội ra khỏi nhà nước», chứ không bao giờ nói “tách tôn giáo ra khỏi chính trị”. Điều khoản này của Tu Chính Án số 1 cũng có nghĩa là giáo hội hay các tu sĩ tuyệt đối không nắm quyền lực và quyền hành quốc gia hay tham gia vào các chức vụ trong chính quyền. Tuy nhiên chính trị cần có luật lệ, đạo đức và công lý; chỉ có tôn giáo mới có luật lệ và đạo đức và công lý để giúp cho chính trị trở thành một thế giới chính trị có luật lệ thiên nhiên của Trời Cao, có đạo đức và công lý theo đúng luật lệ và lời dạy của Thiên Chúa trong Thánh Kinh hay trong giáo lý của các tôn giáo khác.

Chính trị cần tôn giáo là vì vậy. Tôn giáo có luật thiên nhiên, có đạo đức và công lý, nhưng xã hội muốn áp dụng luật thiên nhiên, áp dụng đạo đức và áp dụng công lý vào đời sống xã hội và quốc gia thì phải có chính trị mới thực hành được. Tôn giáo cần có chính trị là vì thế. Muốn «ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI» thì phải đem Đạo Lý vào chính trị. Vì thế vai trò, trách nhiệm, bổn phận và chức năng của chính trị chính là «thế Thiên hành đạo» trong xã hội con người, và tôn giáo phải giúp chính trị đóng đúng vai trò và chức năng cao quý của chính trị. Như thế mới đúng là ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI… tức đem đạo vào thế giới chính trị như nước Mỹ đã làm được gần 300 năm qua.

8) Cổ súy và thúc đẩy toàn dân xây dựng một nền móng vững chắc cho căn nhà dân chủ đáy tầng pháp trị (legal grass-root democracy) để toàn dân thực thi quyền làm chủ đất nước của họ. Quan trọng và thiết yếu hơn cả là người dân phải tìm hiểu và thấu triệt những những vấn đề cần giải quyết của cộng đồng quốc gia để tham gia trực tiếp vào việc điều hành guồng máy quốc gia.

9) Liên tục nhắc nhở người dân muốn làm chủ đất nước và muốn có tự do và công lý thì phải có trách nhiệm với quốc gia; đặc biệt là người dân phải hết sức thận trọng khi xử dụng quyến tối thượng của dân để xử dụng lá phiếu chọn người đại diện cho họ trong các cấp chính quyền. Phải làm sao chọn được những con người thật xứng đáng − những người đại diện dân phải là những người đáng tin cậy − họ phải là những con người đạo đức, sáng suốt và lo bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của dân và lo bảo vệ hiến pháp. Người dân cần hiểu và sống với đạo đức của công dân nếu họ muốn sống trong tự do và công lý.

Trên đây là tất cả mục đích, ý nghĩa và giá trị tiêu chuẩn mà KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU muốn dâng hiến cho quốc dân Việt để chúng ta lấy cả một hệ thống giá trị thực tiễn đó tạo nên đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc gia, từ đó mới có đủ sức mạnh để đương đầu với những tên phản quốc cộng sản và kẻ thù truyền kiếp đang xâm lăng quê hương thân yêu của chúng ta, đồng thời để bảo vệ quyền tự chủ, tự quyết, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Trong suốt 900 năm qua, theo nghiên cứu lịch sử của nhóm Tùng Phong thì nước Tàu đã xâm lăng Việt Nam 7 lần, trong đó có 6 lần những kẻ xâm lăng đã thảm bại trước ý chí quật cường của Dân Tộc Việt. Tại sao chúng ta đã liên tục thắng được giặc ngoại xâm? nhờ đâu? và do đâu? Cuốn Chính Đề Việt Nam giải thích như sau:

«Chúng ta đã từng đánh bại quân xâm lược và đạp đổ ách thống trị của chúng vì chúng ta có người lãnh đạo và ý thức quốc gia dân tộc được hun đúc và nuôi dưỡng, cũng như những vấn đề của quốc gia được giải thích sâu rộng trong đa số quần chúng. Như vậy quần chúng có ý thức cộng đồng quốc gia và hiểu biết vấn đề cần giải quyết của cộng đồng là lợi khí sắc bén nhất để một quốc gia nhỏ và yếu kém như chúng ta có thể chống lại nạn ngoại xâm…»

Hành trang lên đường của KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNG DIỆM TOÀN CẦU hôm nay là di sản tinh thần vô giá của Tổng thống Diệm và Đệ I Công Hòa Việt Nam để lại sau khi gục chết bởi chính nhóm tướng lãnh phản loạn và những kẻ đội lốt Phật giáo Ấn Quang tại Miền Nam. Chỉ vì một chút hư danh, hư lợi phù phiếm ích kỷ cho riêng mình, mà họ đang tâm sát hại, không chỉ một vị anh hùng khả kính nhất của dân tộc Việt Nam, mà giết hại cả nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam, tạo cơ hội thuận tiện cho những kẻ phản quốc Cộng sản Bắc Việt chiếm Miền Nam, để sau đó đem bán đất nước cho Tàu cộng xâm lăng như ngày nay mọi người đều thấy. Di sản tinh thần thiêng liêng đó ngày nay trở thành ĐUỐC THIÊNG ÁI QUỐC cho các thế hệ hậu duệ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. ĐUỐC THIÊNG ÁI QUỐC này rất cần thiết trên dòng tiến hóa của dân tộc, nhất là sau khi Miền Nam Việt Nam đã chết trong tay những người cộng sản Việt Nam phản quốc, sẵn sàng hạ mình làm thân trâu ngựa cho kẻ thù truyền kiếp là bọn xâm lăng Hán Tộc để có chút lợi danh phù phiếm ích kỷ cho riêng mình.

Những người Việt tỵ nạn cộng sản đến Hoa Kỳ đã sống 43 năm trong vòng tay nhân từ và độ lượng của Hoa Kỳ, nhờ đó mới có cơ duyên để tìm tòi học hỏi về cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ vào 1776, từ đó mới khám phá ra BỐN LUỒNG ÁNH SÁNG NHIỆM MẦU CỦA NỀN VĂN MINH DÂN CHỦ HOA KỲ, là:

1) CUỐN THÁNH KINH CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC,

2) TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HOA KỲ NĂM 1776,

3) HIẾN PHÁP HOA KỲ NĂM 1787,

4) VÀ DỰ LUẬT NHÂN QUYỀN NĂM 1688.

Nhờ bốn luồng ánh sáng thiêng liêng này, không những Hoa Kỳ đã trở nên một quốc gia vĩ đại nhất, mà theo như nhận xét của Alexis de Tocqueville khi đến thăm Hoa Kỳ vào 1831, Hoa Kỳ còn là một quốc gia minh triết nhất trên mặt đất này. Đây là một bí mật sâu thẳm nhất của một quốc gia non trẻ nhất trong cộng đồng nhân loại, NHỜ TÍN NGƯỠNG VÀ ĐỨC TIN MÃNH LIỆT VÀO THIÊN CHÚA TOÀN NĂNG, VÀ NHỜ CUỐN THÁNH KINH MÀ QUỐC GIA NON TRẺ NÀY ĐÃ TRỞ THÀNH MỘT QUỐC GIA VĨ ĐẠI NHẤT VÀ MINH TRIẾT NHẤT TRÊN MẶT ĐẤT NÀY.

Và quốc gia vĩ đại và minh triết nhất trên mặt đất này đã xuất hiện trước một thế giới chính trị chỉ thấy ác mộng hãi hùng trong thế giới con người từ bao ngàn năm qua như một luồng ánh sánh nhiệm mầu cuối đường hầm của lịch sử văn minh nhân loại. Và Hoa Kỳ đã xuất hiện trước lịch sử văn minh nhân loại như một «Đô Thị Trên Đồi Cao» (the City upon the Hill) để mang BỐN LUỒNG ÁNH SÁNH THIÊNG LIÊNG VÀ NHIỆM MẦU ĐÓ soi sáng và hướng dẫn 111 quốc gia trong cộng đồng nhân loại xây dựng nên 111 quốc gia tự do dân chủ sau khi Hoa Kỳ giải phóng cho gần 70 quốc gia đang bị các Đế Quốc Thực Dân Âu Châu chiếm đóng và đô hộ.

Sự thành công của Cách Mạng Dân Chủ Miền Nam là xây nên được Hòn Ngọc Viễn Đông. Và sự thành công của Cách Mạng Hoa Kỳ là xây nên được một quốc gia vĩ đại nhất trong suốt 6000 năm lịch sử của văn minh nhân loại, và là quốc gia minh triết nhất trên mặt đất đã cứu Âu Châu thoát khỏi thảm họa trong Đệ I và Đệ II Thế Chiến, giải phóng các thuộc địa, phá sập thành trì của Quốc tế Cộng Sản để giải phóng 25 quốc gia thoát khỏi nanh vuốt man rợ của cộng sản vô thần.

Cuộc Cách mạng Dân Chủ tại Miền Nam Việt Nam đang để lại di sản tinh thần vô giá của Tổng thống Diệm là ĐUỐC THIÊNG ÁI QUỐC của thời Đệ I Cộng Hòa, và Cách Mạng Hoa Kỳ đang để lại di sản tinh thần là sống theo sự soi sáng của (1) cuốn Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước, (2) Tuyên Ngôn Độc Lập, (3) bản Hiến Pháp của Hoa Kỳ 1787 và (4) Dự Luật Nhân Quyền 1688 (the Bill of Rights). Đó là BỐN LUỒNG ÁNH SÁNG NHIỆM MẦU CỦA ĐÔ THỊ TRÊN ĐỒI CAO sẽ soi sáng và hướng dẫn, không chỉ Việt Nam, mà cả Trung Hoa Lục Địa và các nước Á Châu. Đã đến lúc toàn dân của những quốc gia đó tự động đứng lên để làm cách mạng dân chủ hầu lật đổ các chế độ cộng sản độc tài đảng trị, đòi lại quyền tối thượng cho toàn dân hầu xây dựng nên những chính quyền của dân, do dân và vì dân.

Chính vì những lý tưởng cao đẹp của cách mạng dân chủ mà mọi người đã chứng kiến tại Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ trong cuộc cách mạng dân chủ này.

Khối TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU, khi viết lên bản Tuyên Ngôn này, chỉ ước mơ sao cho Dân Tộc Việt Nam, Trung Hoa hay các nước Á Châu quật khởi vùng lên để phá tan tành xiềng xích nô lệ của các chế độ độc tài đảng trị và những kẻ xâm lăng, để đòi quyền tự chủ và độc lập cũng như quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc cho chính mình, cho dân tộc và cho quốc gia thân yêu của mình.

Muốn được như thế, chúng ta cần có Đuốc Thiêng Ái Quốc của Tinh thần Ngô Đình Diệm và Bốn Luồng Ánh Sáng Nhiệm Mầu đã giúp cho nước Mỹ trở thành, không chỉ một quốc gia vĩ đại nhất, mà còn là một quốc gia minh triết nhất trên mặt đất này.

Chúng tôi xin cúi đầu cảm tạ với lòng biết ơn vô hạn đối với Cố Tổng thống Diệm, ông Cố vấn Ngô Đình Nhu cùng các bậc sĩ phu khả kính và các nhà ái quốc của Đệ I Cộng Hòa Việt Nam, cũng như xin cúi đầu cảm tạ với lòng biết ơn vô hạn đối với các Founding Fathers của Hoa Kỳ đã soi sáng và dẫn dắt các dân tộc khổ đau trên toàn thế giới tìm được tự do và dân chủ khi họ luôn luôn bị tước đoạt quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của họ.

Cuối cùng vẫn còn rớt lại một tra vấn trước đêm tăm tối của dòng sử mệnh Việt hôm nay: Phải chăng Đuốc Thiêng Ái Quốc của Tinh thần Ngô Đình Diệm và Bốn Luồng Ánh Sáng Nhiệm Mầu của Cách Mạng Hoa Kỳ chính là những luồng ánh sáng vừa lóe lên chói lọi cuối đường hầm trên dòng sử mệnhcủa Dân Tộc Việt Nam, Trung Hoa và các nước Á Châu?

SO, HELP ALL OF US, GOD!

KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU.

NGUYỄN ANH TUẤN

Share: