Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

Nhà Tiên Tri Mohammed (570-632) Và Đạo Hồi




Nhà Tiên Tri Mohammed (570-632) Và Đạo Hồi




Phạm Văn Tuấn
(Đặc San Lâm Viên)



1/ Đạo Hồi và ảnh hưởng.
Đạo Hồi (Islam) là một lối sống chứa đủ ba hình thái tôn giáo, chính trị và văn hóa và ba hình thái này hòa lại với nhau, lẫn vào nhau. Đạo Hồi gồm nhiều giáo phái, mỗi thứ lại có thêm các niềm tin riêng khiến cho tôn giáo này thích hợp với các nhu cầu địa phương. Ngày nay có vào khoảng trên 1.5 tỉ người thuộc mọi sắc dân sống trên mọi lục địa của trái đất là các tín đồ của nhà Tiên Tri Mohammed và các quốc gia Hồi Giáo trải dài từ Maroc ở phía tây tới Pakistan ở phía đông, và tại vùng Viễn Đông còn có hai nước theo Hồi Giáo là Mã Lai và Indonesia.

Kinh Koran

Về hình thái tôn giáo, đạo Hồi rất gần với đạo Do Thái (Judaism) và đạo Thiên Chúa (Christianity) và hai thế giới Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo ít khác nhau về ý thức hệ (ideology) hơn là về chính trị và kinh tế. Hệ thống niềm tin của đạo Hồi chứa trong Kinh Koran do Mohammed đọc ra và được bổ túc bằng bộ sách Hadith, ghi lại những gì Mohammed đã nói và đã làm. Rồi vào các thời đại khác nhau và tại các địa điểm khác nhau, các người kế tiếp Mohammed đã biến đổi giáo luật, làm bành trướng Đế Quốc Hồi Giáo, lấn át hai đế quốc Byzantine và Ba Tư (Persian), mở mang tầm ảnh hưởng rộng lớn hơn cả Đế Quốc La Mã với phạm vi trải dài từ Tây Ban Nha tới Ấn Độ.
Nền văn hóa Hồi Giáo là tập hợp của nhiều nền văn hóa khác nhau trong đó có văn hóa Cổ Do Thái, Cổ Hy Lạp, Ấn - Ba Tư của thời Trung Cổ. Trong khoảng 400 năm từ giữa thế kỷ thứ 8 tới thế kỷ thứ 12, nền văn hóa tổng hợp Hồi Giáo đã phát triển rực rỡ và đã là kiểu mẫu cho Khoa Học và Văn Chương của thời kỳ Phục Hưng của châu Âu.
Thánh Kinh và các sách Lễ của Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo là các tuyển tập bao gồm các lời tiên tri và cầu nguyện, các luật lệ, các câu thơ và châm ngôn, các chuyện kể tôn giáo của nhiều thời kỳ, viết ra do nhiều tông đồ khác nhau nhưng, mỗi lời nói trong Kinh Koran của đạo Hồi lại từ miệng của một người duy nhất là nhà Tiên Tri Mohammed đã nói ra trong vòng 22 năm vào đầu thế kỷ thứ 7. Kinh Koran là cuốn sách dày vào khoảng cuốn Tân Ước (New Testament), là một trong các thánh thư đáng kể nhất trong Lịch Sử, đã ảnh hưởng tới đời sống của hàng trăm triệu người.
Kinh Koran là trái tim của Đạo Hồi, gồm có các chương gọi là «suras», một số tuy ngắn gọn nhưng đã đề cập tới «Ngày Phán Xét» (the Day of Judgment) đòi hỏi mọi người phải tôn thờ một Thượng Đế (one God). Các chương khác nói về các lời tiên tri, đề cập tới các quy luật về công lý (justice), tài sản và gia đình. Tất cả các lời kinh được viết bằng tiếng Ả Rập vừa có tính thôi miên (a hypnotic Arabic), vừa mang tính hùng biện khiến cho lời kinh không phải là lời nói của một con người mà có vẻ là lời của chính Thượng Đế (the Word of God Himself).
Trong 6 thế kỷ cho tới năm 1258 khi quân Mông Cổ tàn phá thành phố Baghdad là thủ đô của Hồi Giáo, đạo Hồi đã gây được các ảnh hưởng mạnh mẽ nhất về tôn giáo, chính trị và văn hóa. Văn hóa Hồi Giáo đã liên kết các sắc tộc thuộc các vùng đất xa xôi khác nhau: người Tây Ban Nha, người Phi Châu, người Ba Tư, người Ai Cập, người Ấn Độ… Người theo đạo Hồi đã học hỏi kỹ thuật làm giấy của người Trung Hoa và truyền phát minh này qua Tây Phương. Các chữ số Ả Rập do người Hồi mang về từ xứ Ấn Độ để về sau trở nên các chữ số Toán Học. Người Hồi cũng phiên dịch lại các tác phẩm văn chương, triết học và khoa học của thời Cổ Hy Lạp mà đối với Tây Phương đã bị thất lạc trong nhiều thế kỷ.
Các nhân tài người Hồi đã học hỏi từ nhiều nền văn hóa, khai triển các học thuyết cổ, làm phát triển và đóng góp vào nhiều bộ môn bao gồm cả Y Khoa, Hóa Học, Vật Lý, Toán Học và Thiên Văn Học… Nền Kiến Trúc Hồi Giáo cũng có các nét đặc thù, thêm vào là các ngành nghệ thuật khác như dệt thảm, làm đồ gốm, khắc ngà voi và khắc gỗ… Văn Chương Hồi Giáo cũng bao gồm các tác phẩm danh tiếng chẳng hạn như tập thơ cổ điển Ba Tư Rubaiyat của Omar Khayyam hay tập truyện «Ngàn Lẻ Một Đêm» (the Arabian Nights) mà nhiều học giả cho rằng tập truyện này đã mở đường cho các cuốn tiểu thuyết của Tây Phương (western novels).
Đạo Hồi bắt nguồn từ các vùng đất nhỏ, nóng cháy, khô cằn, rải rác trên diện tích một triệu dặm vuông nằm giữa châu Á và châu Phi. Nơi đây vào mùa hè có các trận gió mạnh nóng hơn 110 độ F (khoảng 43 độ C) còn về mùa đông là các cơn gió lạnh thấu xương. Cư dân trên các vùng đất này là các người thuộc bộ lạc Bedouin trú ngụ trong các túp lều dệt bằng lông dê hay lông lạc đà, họ sống bằng thứ khẩu phần thanh đạm gồm có sữa và trái chà là (dates). Các bộ lạc này trước thời kỳ Hồi Giáo, đã sinh sống dưới nền cai trị của người Ba Tư, người Ethiopia hay người Thổ Nhĩ Kỳ và họ phải đóng thuế cho kẻ thống trị. Tuy nhiên, các bộ lạc này đã không bị chinh phục, họ chạy trốn trước các đoàn quân viễn chinh bằng cách lẩn sâu vào trong sa mạc mênh mông mà chỉ có họ mới biết cách sống còn. Họ thường cướp bóc các bộ lạc khác và coi đó là một lối sống. Do luôn luôn di chuyển, các người Bedouin chỉ mang theo mình các vật dụng cần thiết: một số ít quần áo, túp lều màu đen dệt bằng lông lạc đà, bình nước, vũ khí và yên cương. Họ là những người mù chữ nhưng lại giàu về thi văn truyền khẩu, kể lại lịch sử qua các thế hệ. Chính các bộ lạc Bedouin này đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử của Đế Quốc Hồi Giáo.
Trước khi theo đạo Hồi, người Bedouin thờ các thần linh mà họ cho rằng có các quyền lực siêu nhiên và cư ngụ tại các tảng đá, các gốc cây lớn hay các khúc gỗ quý. Đối với họ, các đức tính tối thượng của con người là lòng trung thành, lòng đại lượng và tính can đảm. Nhờ lòng trung thành (loyalty), con người được bộ lạc che chở để sống còn. Lòng trung thành là căn cốt (core) của tinh thần băng nhóm (clan spirit = asabiyya) và mỗi người phải tỏ ra can đảm cho tới chết để bảo vệ các quyền lợi của bộ lạc và các quyền lợi này liên quan tới miền đất có cây xanh và nước uống mà chính tại nơi khô cằn này, nước còn được quý hơn vàng. Lòng đại lượng (generosity) biểu hiện bằng tình hiếu khách, sẵn lòng cung cấp thực phẩm, nước uống và nơi trú ngụ cho kẻ lữ hành trên sa mạc. Tính can đảm được coi là cần thiết để bảo vệ đàn bà và trẻ em và để tham dự vào các trận cướp bóc, muốn vậy người thanh niên phải thông thạo kỹ năng cưỡi ngựa và kỹ thuật bắn cung.

2/ Khởi thủy của Đạo Hồi.
Vào giữa thế kỷ thứ 6 tại miền bắc của xứ Ả Rập (Arabia) có ba địa điểm đặc biệt tọa lạc trên một vùng núi gọi là Hijaz và vùng này có phía tây là Hồng Hải (the Red Sea) còn phía đông là một sa mạc bao la. Chính giữa vùng Hijaz là thị trấn Yathrib, một ốc đảo (oasis) xanh tươi với các nông trại và làng mạc nhỏ trải dài trên một diện tích 20 dặm vuông. 250 dặm về phía nam của Yathrib là thị xã Taif, nơi nghỉ mát mùa hè của các gia đình Ả Rập giàu có và tại phía tây bắc của Taif, cách Hồng Hải 50 dặm vào sâu trong đất liền là thành phố Mecca, nơi thị tứ sầm uất và quan trọng nhất.
Mecca là nơi dừng chân của các đoàn thương nhân, dùng lạc đà chở rất nhiều sản phẩm như hương liệu, kim loại quý, đồ gốm, ngà voi, lụa… Họ từ miền nam lên, từ Hadhramaut hay từ Yemen, để đi tới các chợ phiên nằm trong xứ Syria. Cũng có các đoàn khác chở hàng hóa từ Hồng Hải, dừng chân tại Mecca rồi đi qua sa mạc đến xứ Iraq. Tới Mecca còn có các tín đồ đi hành hương, họ đến ngôi đền thờ nằm giữa thành phố có kiến trúc mang hình dạng một khối vuông gọi là Kaaba. Vật linh thiêng nhất trong ngôi đền này là một vẩn thạch (meteorite) được gọi là Tảng Đá Đen (the Black Stone) được gắn vào trong tường của đền thờ. Người dân ở đây thờ Allah, là Đấng Tạo Hóa của Vũ Trụ và ngoài Thần Allah còn có khoảng 300 vị thần nam nữ khác với các bức tượng được bày trong đền. Ngoài việc đi hành hương tới Mecca, người dân các vùng khác còn tham dự vào các phiên chợ cùng các đoàn thương nhân ở xa, khiến cho thành phố Mecca càng trở nên sầm uất và giàu có.
Quyền hành điều khiển thành phố Mecca này ở trong tay bộ lạc Kuraish (Quraysh) và họ đã quản trị thành phố với các người đại biểu bầu lên từ các gia đình có thế lực. Chính tại thành phố Mecca bận rộn này mà Mohammed đã ra chào đời, vào khoảng năm 570 sau Tây Lịch, với tên có ý nghĩa theo tiếng Ả Rập là «được ca tụng nhiều». Mohammed là con của ông Abdullah thuộc nhóm Beni Hashim của bộ lạc Kuraish, qua đời chỉ ít lâu sau khi sinh ra Mohammed.  
Tuy không giàu có nhưng theo truyền thống của gia đình có địa vị, Mohammed được gửi tới một bà mẹ nuôi Bedouin để sống ở sa mạc, nơi có khí hậu trong lành hơn. Năm lên 6 tuổi, mẹ chết, Mohammed sống với ông nội rồi sau đó ít lâu, ông già này cũng qua đời và người nuôi dưỡng và là cha đỡ đầu của Mohammed là Abu Talib, một người chú. Do không có tài sản, Mohammed phải làm nhiều việc để kiếm sống như chăn cừu, mua bán… rồi tới làm công cho một người đàn bà góa chồng tên là Khadija, có một cơ sở thương mại nhỏ. Do công việc thương mại của bà góa này, Mohammed đã có lần được cử theo đoàn thương nhân đi tới Syria vào thời đó còn nằm trong tầm ảnh hưởng của đế quốc Byzantine theo Thiên Chúa Giáo. Chính tại Syria mà Mohammed đã gặp gỡ các người theo đạo Thiên Chúa.
Đạo Thiên Chúa đi vào miền Arabia qua ngả Syria, qua Palestine và từ vùng đất Abyssinia ở phía bên kia của Hồng Hải, và tại thành phố Mecca cũng đã có các nhóm người Do Thái gốc Ả Rập theo Thiên Chúa giáo. Trong hoàn cảnh như thế và nhất là sau chuyến đi tới Syria, Mohammed đã được nghe nói tới Chúa Jesus và các nhà tiên tri và đã quan sát thấy các người Do Thái và người theo Thiên Chúa giáo tôn thờ Thượng Đế ra sao. Mohammed nhận thấy đồng bào của ông ta thiếu hẳn một niềm tin để kết hợp lại với nhau và do từ nhỏ bị nghèo khó, mồ côi và ở giai cấp thấp, ông ta đặc biệt bất mãn đối với những kẻ giàu có kiêu ngạo, chỉ biết coi trọng tiền bạc. Lòng trung hậu, tính dịu dàng và bản chất trầm tư đã khiến Mohammed được tôn trọng tại Mecca. Ông ta được mọi người gọi là al-Amin hay «người đáng tin cậy» (the Trustworthy).
Mohammed lại có một cá tính mạnh, hấp dẫn, một vẻ ngoài đẹp trai và vạm vỡ, vai rộng, tay dài, vầng trán cao và đôi lông mày rậm rạp chắn phía trên đôi mắt to và đen. Vóc người tầm thước, Mohammed bước đi với dáng vẻ oai nghiêm khiến cho nhiều người mới gặp đã phải kính nể. Bà Khadija khi đó cũng đã mang lòng cảm phục, một phần vì vẻ người, một phần vì cách điều hành công việc của Mohammed. Khadija đã hai lần lập gia đình và lớn hơn Mohammed 15 tuổi nhưng vẫn đề nghị hôn nhân với Mohammed. Mohammed nhận lời và đã trung thành với bà vợ già này trong suốt 25 năm liền. Họ có ba con trai đều bị chết lúc còn trẻ và bốn người con gái trong số này chỉ có Fatima là người đã sinh con và sau này giữ một vai trò trong lịch sử của đạo Hồi.
Thánh Gabriel và Mohammed
Từ ngày lập gia đình, Mohammed không phải bận tâm về sinh kế, ông ta có đủ thời giờ để suy ngẫm và thường hay tránh xa thành phố Mecca ồn ào, có khi đi một mình, có khi đi với gia đình tới một hang động để suy nghĩ về cuộc sống và cõi chết và về bản chất của Vũ Trụ. Theo nhà tiểu sử học đầu tiên viết về Mohammed là Ibn Ishaq, vào năm 610 sau Tây Lịch khi Mohammed vào khoảng 40 tuổi và tỉnh giấc sau một giấc ngủ trên núi Hira, ông ta đã nghe thấy tiếng nói từ trên Trời của một thiên thần có hình dạng người, bảo như sau: «Ô, Mohammed, ông là Tông Đồ của Thượng Đế và ta là Gabriel».
Mohammed trở về nhà, gặp Khadija và kể lại câu chuyện đã xẩy ra. Bà vợ này liền đi gặp vị trưởng giáo trong bộ lạc và vị này công bố rằng Mohammed đã được mặc khải giống như Moses và ông ta sẽ là nhà Tiên Tri của dân tộc Ả Rập. Nhưng Mohammed đã không giữ vai trò Tiên Tri ngay và vào lần khải huyền thứ hai, ông ta được Thượng Đế bảo phải đi thông báo cho dân chúng biết những điều răn dạy của Thượng Đế.
Từ năm 613 tại Mecca, Mohammed bắt đầu đi thuyết giảng tại các nơi công cộng. Ông ta dạy người dân thời đó rằng Allah là Chúa Tể Duy Nhất của Vũ Trụ và con người phải biết ơn và tôn thờ Allah vì lẽ sống của mình. Mohammed cũng rao giảng rằng mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế, rằng người giàu có phải san xẻ tài sản cho người nghèo khó và cảnh cáo mọi người về số mệnh của con người ở trong tay Thượng Đế: sẽ có một Ngày Phán Xét (a Day of Judgment) dành cho mọi người.
Vào thời đại trước, người dân Ả Rập theo tà giáo (paganism) đã tin rằng tiêu chuẩn của sự thành công là tài sản giàu có mà người ta tích lũy được và sự chết là sự chấm dứt tất cả, kể cả đời người, nhưng tới thời này Mohammed lại dạy bảo rằng vào Ngày Phán Xét, trái đất sẽ bị tách ra làm hai, các ngôi sao sẽ rơi xuống và tất cả nhân loại, người sống cũng như người chết đều ra trước ngai vàng của Allah. Lúc này cuốn Sách Ghi Chép về Các Việc Làm Tốt (the Book of Deeds) sẽ được đọc lên, các người làm việc thiện sẽ được tưởng thưởng và lên Thiên Đường, còn các kẻ có tội sẽ bị cột bằng dây xích, kéo xuống hỏa ngục và bị hành hạ. Mohammed tự coi mình là nhà Tiên Tri cuối cùng, sau Adam, Noah, Abraham, Moses và Jesus.
Mohammed đã trở nên một Sứ Đồ (the Messenger) của Thượng Đế, là nhà Tiên Tri (the Prophet) của một tôn giáo mới là Đạo Hồi và đã có 4 tín đồ, đầu tiên là bà vợ Khadija, tới người em họ trẻ tuổi Ali, rồi Zayd, một tên nô lệ được trả tự do và cuối cùng là Abu Bakr, một người giàu có. Riêng Abu Bakr và Ali là hai nhân vật sau này sẽ giữ các vai trò quan trọng trong việc bành trướng đạo Hồi.
Các tín đồ khác vào thuở ban đầu của nhà Tiên Tri là những kẻ nghèo hèn, các kẻ bị áp chế…, họ đón nhận lời rao giảng với hy vọng ở kiếp này và ở kiếp sau, trong khi các kẻ giàu có, quyền thế thuộc giới quý tộc Kuraish lại chống đối kịch liệt. Họ đã nhìn thấy ở các lời rao giảng đó những đe dọa ảnh hưởng tới cuộc sống ưu đãi của họ. Họ cũng e ngại khi đã có một số đông người tin theo, Mohammed sẽ có một sức mạnh ảnh hưởng đến quyền lực chính trị tại thành phố Mecca và các lời chỉ trích các thần tà giáo có thể tác dụng đến các quyền lợi thương mại của họ.
Do ngôi đền Kaaba có chứa 300 bức tượng thần nam nữ, nếu phá bỏ các hình tượng này, nhóm người Benni Ommaya sẽ mất đi nguồn lợi từ các kẻ hành hương, vì thế họ đã chế nhạo Mohammed, coi như một kẻ nói dối, lường gạt và các khải huyền chỉ là do trí tưởng tượng mà ra. Một số người theo đạo Hồi lúc ban đầu đã bị ném đá, bị đánh đập. Khoảng 80 người Hồi giáo đã bỏ chạy qua miền Abyssinia để lánh nạn. Một đoàn đại biểu của người Kuraish đã qua miền đó, đề nghị với Vua và người Negus của miền này trục xuất họ, không cho cư ngụ vì họ đã nói xấu đạo Thiên Chúa. Tuy nhiên, các người Hồi giáo đã đọc một đoạn Kinh Koran về Bà Mary theo đó Chúa Jesus Christ và Bà Mary rất được kính trọng nhưng Kinh Koran chỉ coi Chúa Jesus là một nhà Tiên Tri mà không phải là Con của Thượng Đế. Người Negus đã thấy quan điểm đó không xúc phạm tới họ, nên đã cho phép các người Hồi cư trú.
Trong khi đó tại Mecca, Mohammed và các tín đồ còn bị ngược đãi nhiều hơn. Các điều không may vẫn tới với nhà Tiên Tri: bà vợ Khadija qua đời, rồi sau đó tới lượt ông chú Abu Talib, người đã từng nuôi dạy và che chở Mohammed. Trước các khó khăn tại Mecca, Mohammed đã đi tới thị xã Taif để thuyết giảng nhưng cũng bị dân cư tại nơi đây chế nhạo và nhục mạ nên sau đó phải quay trở về Mecca. Đúng vào lúc này, vận may đã đến với Mohammed.
Một nhóm người đi hành hương tại Mecca, do đã nghe Mohammed thuyết giảng và vì khâm phục, nên đã mời ông ta tới Yathrib để dàn hòa cho cuộc tranh chấp giữa hai bộ lạc thù nghịch nhau. Mohammed nhận lời và cử một nhóm tín đồ đi trước còn chính mình đi sau vài tuần lễ. Chuyến đi định mệnh này xẩy ra vào tháng 9 năm 622 sau Tây Lịch, được gọi là Hegira hay Hijra và sau này được coi là dịp khởi đầu cho Kỷ Nguyên Hồi Giáo.
Tại Yathrib, Mohammed bắt đầu xây dựng một cộng đồng Hồi Giáo cho mình và nơi đây trở nên trái tim của Đạo Hồi và được gọi là Madinat al-Nabi hay «thành phố của nhà Tiên Tri», hay theo cách gọi đơn giản là «Medina = thành phố», một tên quen thuộc ngày nay. Từ nay, Mohammed đã giữ một vai trò quan trọng về quyền lực tinh thần và chính trị.

3/ Các việc làm của nhà Tiên Tri Mohammed.
Một trong các vấn đề đầu tiên của Mohammed tại Medina là đối phó với các người Do Thái. Đây là nhóm người kiểm soát các miền đất giàu có nhất và đã liên lạc với một trong hai bộ lạc có quyền lực tại ốc đảo. Mohammed muốn làm sao cho người Do Thái chấp nhận mình là một nhà Tiên Tri nên đã cố gắng giành được sự ủng hộ của họ bằng cách chấp nhận một số lễ nghi Do Thái, chẳng hạn như việc ăn chay vào ngày chuộc tội (the Day of Atonement) và việc cắt da quy đầu, việc không ăn thịt heo vì con heo bị coi là một con vật dơ bẩn và khi cầu nguyện thì hướng về thành phố Jerusalem. Một số người Do Thái vì thế đã cải sang đạo Hồi trong khi một số khác lại cho rằng các mặc khải của Mohammed đã trái ngược với Thánh Thư của họ và vì thế bị coi là sai. Mohammed bèn phản ứng lại, cho rằng người Do Thái đã theo các Thánh Thư sai lầm và chỉ có Kinh Koran mới thực sự là Lời của Thượng Đế.
Đền Kaaba
Sau khi đã thấy rõ không thể lôi cuốn được người Do Thái, Mohammed bèn quyết tâm xây dựng riêng cho mình một cộng đồng Hồi Giáo lúc đầu chỉ gồm người Ả Rập. Để kêu gọi giáo dân đi cầu nguyện vào các ngày giờ nhất định, nhà Tiên Tri đã không dùng tiếng gõ bằng các khúc gỗ hay tiếng tù và thổi từ sừng dê mà dùng tiếng người, và Bilal, một người Abyssinia cải theo đạo Hồi, là người gọi đi lễ (muezin) đầu tiên. Việc ăn chay vào ngày chuộc tội cũng được sửa thành cả một tháng ăn chay Ramadan, tháng thứ 9 trong năm Âm Lịch Hồi Giáo và thay vì hướng về Jerusalem để quỳ lạy, tín đồ Hồi Giáo được lệnh quay về hướng Đền Kaaba ở thành phố Mecca. Việc hôn lên Tảng Đá Đen gắn trong bức tường của Đền Kaaba cũng được coi là một biểu hiện cao quý của đức tin và các người hành hương làm như vậy được mang tước hiệu «Hadji».
Cũng vào thời gian này bắt đầu các hành động của người Hồi giáo chống lại các kẻ thù của đức tin tại Mecca. Mohammed đã cho phép các tín đồ đánh cướp các đoàn thương mại của Mecca đi qua lãnh thổ Medina, một phần vì cần tới đồ ăn và các vật dụng để giúp đỡ những ngươi di dân mới trong vùng, một phần để trả thù cho các thân nhân người Hồi giáo bị hành hạ và ngược đãi tại Mecca.
Từ nay đã xẩy ra các cuộc đụng độ giữa hai vùng đất và trong trận chiến lớn nhất diễn ra tại Badru, phía tây nam của Medina, hai lực lượng đã đối đầu nhau. Phe Hồi giáo có 300 người còn phía Mecca gồm 1,000 chiến binh. Lực lượng Mecca muốn nhân dịp này dạy cho người Hồi một bài học là không được đụng chạm tới họ, còn người Hồi giáo cũng không thể rút lui vì e ngại mất danh dự. Cuộc chiến tàn sát đã diễn ra trong khi Mohammed chăm chú cầu nguyện. Một điều may mắn đã xẩy ra cho nhà Tiên Tri là đội quân nhỏ Hồi giáo đã chiến thắng nhờ chiến đấu kiên cường. Sự chiến thắng này đã được người Ả Rập coi là một điều huyền diệu (the Miracle at Badru), một dấu hiệu của Thượng Đế coi Mohammed là một tông đồ thật sự.
Người Hồi giáo đã chia nhau của cải cướp được, coi việc tuân theo lời Thượng Đế đã mang lại lợi ích trên trái đất cũng như sau này trên Thiên Đường. Người Hồi giáo từ nay tin tưởng rằng nếu chiến thắng trong các lần phục kích kẻ địch, họ sẽ nhận được của cải, còn nếu bị giết nơi trận mạc, họ sẽ được tưởng thưởng, lên thẳng Thiên Đường mà không cần phải chờ đợi tới Ngày Phán Xét. Nhiều bộ lạc gần đó vì thế đã cải theo đạo Hồi và chiến đấu dưới cờ của Mohammed.
Người Kuraish sau đó đã không chịu thua, năm sau đã tấn công Medina bằng lực lượng 3,000 người và chính nhà Tiên Tri đã bị thương trong lần giao tranh này. Rồi vào năm 627 sau Tây Lịch, các người của thành phố Mecca đã quyết định thanh toán Mohammed bằng một đạo quân 10,000 người với 600 kỵ binh. Do lời khuyên của một tín đồ mới gốc Ba Tư, Mohammed đã cho đào một cái hào khô rất lớn, chắn ngang trước lối tiến vào thành phố Medina. Đây là một chiến thuật mới trong kỹ thuật chiến tranh sa mạc khiến cho đạo quân của Mecca phải đóng trại bên ngoài, chờ đợi sự nổi loạn của số người Do Thái bên trong. Thời tiết trở lạnh, nguồn tiếp tế lương thực bị thiếu thốn đã khiến cho các người Mecca phải rút lui sau 40 ngày vây thành.
Sau chiến thắng này, Mohammed đã ra lệnh chặt đầu khoảng 600 người Do Thái phản loạn, vợ con của họ bị bắt làm nô lệ. Có người cho rằng hành động tàn nhẫn này của nhà Tiên Tri là để làm chia rẽ các bộ lạc Ả Rập và Do Thái và khiến cho mọi bộ lạc Ả Rập khác từ nay chỉ còn một lòng trung thành là đối với đạo Hồi.
Năm 628, Mohammed lại dẫn một đoàn hành hương tới Mecca gồm 1,000 tín đồ. Lực lượng Mecca đã ra ngăn chặn với 200 kỵ binh. Trận chiến sắp xẩy ra nhưng cuối cùng là một cuộc dàn xếp để tránh cho hai bên không bị mất mặt theo đó người dân Medina có thể tới cầu nguyện tại Mecca vào năm sau. Đây là một thắng lợi của Mohammed vì thế lực của ông ta đã được coi như ngang hàng với tầm vóc của Mecca. Việc đi hành hương, một phong tục trước kia của tà giáo, đã làm cho đạo Hồi trở nên một tôn giáo mang màu sắc Ả Rập.
Do thỏa thuận hưu chiến trong 10 năm, Mohammed đã từng dẫn các đoàn hành hương 2,000 người tới lễ Đền Kaaba và tới năm 630, các tín đồ đã lên tới 10,000 người. Lúc này, lực lượng Mecca bị yếu dần vì nhiều nhà lãnh đạo đã bị chết trong trận mạc, vì sự chia rẽ nội bộ và cuối cùng, Mohammed tiến vào Đền Kaaba, phá hủy tất cả các tượng tà giáo và tuyên bố: «Sự Thật đã đến và sự Giả đã bị tan biến». Từ nay thành phố Mecca chỉ cho phép người theo đạo Hồi đi vào và ngôi Đền Kaaba trở nên trung tâm linh thiêng nhất của đạo Hồi.
Mohammed sau đó đã hành động nhân từ, tha thứ cho các kẻ chiến bại tại Mecca đã chống đối mình khi trước khiến cho những người đó về sau cũng cải sang đạo Hồi. Các đội quân Hồi Giáo từ dạo đó đã đánh phá các nơi xa xôi hơn, một phần do quyền lợi vật chất, trong khi các người theo Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo vẫn được phép duy trì tôn giáo của họ miễn là họ đóng thuế đầy đủ cho người Hồi.
Trong 22 năm làm sứ mạng của nhà Tiên Tri, ông Mohammed đã mang lại cho người Ả Rập niềm tin vào một Thượng Đế, đã đoàn kết các bộ lạc du mục rời rạc bằng một ý thức hệ quốc gia để chiến đấu và chiến thắng. Trong khi đó, mặc dù là một nhà thống trị tuyệt đối, Mohammed vẫn theo đuổi một cuộc sống đạm bạc và người ta còn kể rằng ông ta vẫn tự mình vá lấy quần áo bị rách. Mohammed cũng thể hiện lòng nhân đạo bằng cách hủy bỏ chế độ nô lệ, một việc làm đáng khen, đồng thời các tật uống rượu, đánh bạc và cho vay nặng lãi đều bị coi là vi phạm luật lệ của Thượng Đế. Mohammed được người Ả Rập coi là có đủ mọi đức tính tốt, đặc biệt là sự tử tế và lòng trung thành.
Nhiều người tây phương đã coi nhà Tiên Tri này ưa thích nhục dục, đã có 9 người vợ sau khi bà Khadija qua đời, nhưng thực ra Mohammed đã trung thành với người vợ cao tuổi hơn mình cho đến khi bà này chết và các lần hôn nhân khác đều vì các lý do chính trị hay nhân đạo. Vài người vợ của nhà Tiên Tri đã là các góa phụ của các tướng tá bỏ mình vì đạo Hồi, một số khác là con gái của các nhà lãnh đạo Ả Rập quan trọng. Người vợ được sủng ái nhất của Mohammed là A'isha, con gái của Abu Bakr là người bạn thân nhất và là cố vấn thân cận nhất. Mohammed đã lấy cô gái này khi nàng chưa được 10 tuổi.
Vào năm thứ 10 của kỷ nguyên Hồi Giáo, lúc 63 tuổi, Mohammed ngả bệnh và đã yêu cầu các người vợ khác cho mình được sống gần A'isha. Vào lúc này nhà Tiên Tri vẫn cố lê bước tới đền thờ Hồi Giáo và nói với các tin đồ rằng các người giữ vững miền tin sẽ theo ông ta lên Thiên Đường. Mohammed đã chết trong vòng tay của A'isha.
Khi nghe tin nhà Tiên Tri qua đời, các tín đồ Hồi giáo đã hoảng hốt và trong hoàn cảnh bối rối đó, Abu Bakr đã la lên «Thượng Đế còn sống và không chết. Mohammed chỉ là nhà Tiên Tri, trước ông ta còn có các nhà Tiên Tri khác». Thi hài của Mohammed được chôn dưới nền túp lều của ông tại Medina, nơi này ngày nay được coi là ngôi đền linh thiêng thứ hai của Đạo Hồi.
Phạm Văn Tuấn(Đặc San Lâm Viên)

Tài liệu tham khảo: Wikipedia.org.; A History of the Arab Peoples by Albert Hourani, MJF Books, N.Y. 1991.
Share:

5-niem-tin-cua-dao-Hoi




Năm Niềm Tin Của Đạo Hồi

Phạm Văn Tuấn

(Đặc San Lâm Viên)

Vào thế kỷ thứ 7, đạo Hồi trở nên một tôn giáo mới, khác với đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa không những do quan niệm về Thượng Đế mà còn do sự kết hợp cả chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội với tôn giáo, khiến cho đạo Hồi có những nét đặc thù, rất thích hợp với xã hội của các xứ Ả Rập.

Qua nhiều thế kỷ, hình thái chính trị và kinh tế của đạo Hồi đã bị biến đổi nhưng hình thái tôn giáo vẫn được giữ nguyên. Hệ thống các niền tin tôn giáo của đạo Hồi gồm các bổn phận đạo đức và các giá trị luân lý, được đặt căn bản trên 5 niềm tin là: đức tin, các việc cầu nguyện, bố thí, nhịn ăn và đi hành hương. Đây là các điều bắt buộc đối với người theo đạo Hồi nhờ đó đạo Hồi đã có được một hình thức duy nhất, đã đứng vững và được duy trì lâu dài.

1/ Niềm tin thứ nhất.

Niềm tin thứ nhất là lòng tin tưởng tuyệt đối vào Allah và vào Nhà Tiên Tri. Một người được coi là đã theo đạo Hồi khi tuyên bố về đức tin trước một tín đồ Hồi giáo khác, gồm câu xác nhận: «Không có Thượng Đế nào khác ngoài Allah và Mohammed là Sứ Đồ của Ngài». Đây là câu xác nhận đức tin ngắn gọn nhất trong lịch sử, lại có vần điệu rất âm nhạc nếu được đọc theo tiếng Ả Rập: «La ilaha illa Allah, Muhammad rasul Allah».

Đức tin vào câu xác nhận này còn bao gồm 3 điều tin tưởng khác: niềm tin vào Kinh Koran là Lời của Thượng Đế, niềm tin vào các thiên thần như là những nhân vật làm theo ý muốn của Thượng Đế và niềm tin vào Ngày Phán Xét Cuối Cùng dành cho mọi người. Rồi sau khi đã xác nhận đức tin, người tín đồ không có cách nào xoay trở khác và hình phạt dành cho kẻ bỏ đạo là tội chết.

Việc xác nhận niềm tin trong đạo Hồi thật là đơn giản, không đòi hỏi phải làm một lễ nghi, dù một phép bí tích như lễ rửa tội, lễ ban thánh thể cũng như theo các khóa học về giáo lý. Đạo Hồi cũng không tổ chức một hệ thống tu sĩ mặc dù vẫn có một đội ngũ lớn lao các học giả gọi là «ulama = các nhà trí thức» (the learned), những vị này là những nhà lãnh đạo trí thức và tinh thần của cộng đồng Hồi giáo, giữ vai trò quan trọng là lập ra và diễn đạt các luật lệ Hồi giáo.

Qua nhiều thế kỷ, đạo Hồi vẫn giữ được tính đơn giản, ít ra là về bề ngoài bằng cách không dùng các lễ nghi phức tạp, không ưa sự hào nhoáng phô trương nhưng bên trong lại có rất nhiều vấn đề thần học (theological) phức tạp khiến cho các học giả đã tranh cãi nhau, chẳng hạn như về định mệnh.

Người theo Hồi giáo lúc đầu chỉ có một giáo điều duy nhất không được phép tranh luận: niềm tin vào Allah duy nhất, vừa siêu việt, vừa vạn năng, là vị sáng tạo ra thế giới và là vị Cha không có ai là Con, không chia xẻ quyền uy với ai và nếu nghĩ khác điều này là sẽ phạm tội «shirk», tội gán cho Thượng Đế có các người cộng tác khác. Allah như vậy là Đấng Tối Thượng, có mọi quyền năng và con người chỉ có một lòng tuân theo Lời của Ngài (His Word). Kinh Koran cũng xác nhận rằng ông Abraham không phải là người Do Thái, cũng không phải là một người Thiên Chúa giáo, ông ta là một con người thẳng thắn, đã thần phục Allah và những người nào gần Abraham nhất được coi là đi theo Nhà Tiên Tri này.

Thượng Đế có tính siêu việt nhưng lại ở không xa con người. Kinh Koran đã mô tả «Thượng Đế ở gần con người hơn là mạch máu nơi cổ» và đã có nhiều bài thơ ca ngợi lòng đại lượng, thương xót của Thượng Đế đối với con người và nhiều người đã gọi Allah là Đấng Từ Bi, Đấng Đại Lượng... và còn rất nhiều mỹ từ khác.

Sau niềm tin vào Thượng Đế, tới niềm tin vào các nhà Tiên Tri và các lời giảng dạy của các vị này. Theo đạo Hồi, trước Mohammed chỉ có 5 nhà Tiên Tri: Adam, Noah, Abraham, Moses và Jesus. Mỗi vị Sứ Đồ này đã từng mang đến cho con người Lời của Thượng Đế nhưng con người đã lẩn tránh các lời giảng dạy đó, vì vậy một vị Tiên Tri mới khác là Mohammed lại được phái xuống thế gian để chỉ dẫn cho con người đi tới sự cứu rỗi. Nhà Tiên Tri Mohammed vì thế có một nhiệm vụ đặc biệt, đây là vị Tiên Tri cuối cùng và các lời nói của Mohammed sẽ dẫn dắt con người tới Ngày Phán Xét sau này.

Vì Kinh Koran là lời nói của Thượng Đế nên người theo đạo Hồi tin rằng Kinh này không thể sai lầm được. Việc đọc kinh là một phần trong việc thờ phượng và nhiều người Hồi đã nhớ thuộc lòng quyển Kinh, chứa vào khoảng 78,000 từ (words) và dày như cuốn Kinh Tân Ước.

Sau khi Mohammed chết vào năm 632, nhiều người bạn của nhà Tiên Tri đã nghĩ tới việc ghi chép lại Kinh Koran vì số người nhớ thuộc lòng đã bị giảm dần vì chết trận, vì sự tản mạn trong cách nhớ thuộc lòng. Người kế tiếp Mohammed để lãnh đạo Hồi Giáo lúc bấy giờ là Abu Bakr, đã ra lệnh thu gom các tài liệu ghi chép về kinh Koran, về sự khải huyền… để soạn ra một văn bản duy nhất. Vào thời kỳ đó, chữ Ả Rập còn ở trong hình thức đơn giản, thiếu dấu phát âm và thiếu nguyên âm vì thế đã xẩy ra sự tranh luận về cách đọc một số từ, một số câu kinh. Tuy nhiên, cuốn kinh đã được hiệu đính nhờ sự cương quyết của Uthman, người kế tiếp thứ ba của Mohammed, một trong những người đầu tiên cải sang đạo Hồi và cũng là con rể, đã kết hôn với hai người con gái của nhà Tiên Tri. Uthman đã lập ra một ủy ban cứu xét để viết ra một bản Thánh Kinh, các văn bản chép khác đều bị đốt bỏ. Chính vì cách làm này mà một số học giả ngày nay tin rằng còn có các phần khác ghi lại các lời nói của nhà Tiên Tri trong khi lại có các phần ghi chép bị nghi ngờ.

Vì không ai dám quả quyết thứ tự các chương trong Kinh Koran, nên các chương này, hay suras, được xếp đặt theo độ dài. Các chương được gọi tên tùy theo sự kiện xẩy ra hay do một từ đặc biệt có bên trong. Sau chương mở đầu ca ngợi Thượng Đế là «Chúa Tể của Vũ Trụ», tới chương dài nhất có tên là «con bò cái» (the cow) vì việc tế thần bằng loại bò này, nói tới luật lệ và các điều răn dạy, đề cập tới căn bản của tổ chức và các điều lệ của đời sống Hồi giáo, các nhiệm vụ tôn giáo của người theo đạo, việc ly dị và chiến tranh…

Việc tin tưởng vào các thiên thần cũng được coi là quan trọng. Đây là các sứ đồ của Thượng Đế, có nhiệm vụ thi hành các công việc như giữ cửa Thiên Đường và Hỏa Ngục, làm trung gian giữa Thượng Đế và con người. Kinh Koran chỉ đề cập tới vài thiên thần như Gabriel và Michael. Gabriel đã truyền các mặc khải cho Mohammed và Michael thực hiện các lệnh của Thượng Đế như làm ra gió và mưa. Ngoài ra còn có thiên thần Israfil thổi tiếng kèn vào Ngày Phán Xét và thiên thần Isra'il hay Thần Chết, lấy đi hơi thở cuối cùng của người hấp hối.

Một niềm tin tưởng khác liên quan tới ngày phán xét. Chỉ có Thượng Đế mới biết khi nào thế gian này bị chấm dứt và vào ngày đó, một tiếng kèn được thổi lên, các người chết từ các nấm mồ sẽ được xét xử về các hành động của họ lúc còn nơi trần thế. Những người tốt sẽ được trao cho «cuốn sách» ghi chép các hành động của họ, đặt vào tay phải, còn kẻ xấu có cuốn sách đặt vào tay trái. Kinh Koran cũng mô tả các cách hành hạ dành cho kẻ có tội, những người này biết rằng vào lúc này, quyền hành của họ đã hết, tài sản cũng không làm lợi được gì nữa và họ nghe thấy Thượng Đế ra lệnh cho thiên thần: «Bắt lấy hắn và trói hắn lại,/ rồi đốt hắn trong lửa,/ và sợi xích 70 thước buộc người hắn,/ vì hắn đã không tin vào Thượng Đế,/ và không cho kẻ đói khát đó đồ ăn gì cả».

Kinh Koran cũng mô tả cảnh cực lạc dành cho người ở trên Thiên Đường. Đây là mảnh vườn Hạnh Phúc nơi đó các kẻ giàu đức tin ngả mình trên ngai có cẩn ngọc, chung quanh lại có các nàng hầu trẻ đẹp, họ uống thứ nước tinh khiết bằng ly pha lê và ăn thực phẩm được chọn lựa nhất để đền bù cho các hành động tốt của họ. Thiên Đường là nơi cây cối xanh tươi, đặc biệt hấp dẫn so với miền sa mạc khô cằn của xứ Ả Rập trơ trụi.

2/ Niềm tin thứ hai và thứ ba.

Niềm tin thứ hai của đạo Hồi là «cầu nguyện». Đây là bổn phận quan trọng nhất của người theo đạo Hồi và không được miễn trừ cho bất cứ ai, dù thuộc về dòng giống hay đẳng cấp xã hội đặc biệt nào. Nhờ cầu nguyện, tín đồ đã cảm ơn Thượng Đế về lẽ sống của mình và về những gì mình có được. Có hai loại cầu nguyện: «du'a» là cách cầu nguyện riêng bên trong và «salat» là cách cầu nguyện theo nghi thức. «Du'a» là cách một người có thể liên lạc với Thượng Đế, để cầu xin một đặc ân gì, đây là cách cầu nguyện đáng khen ngợi, còn «salat» là hình thức tôn thờ được định rõ cho mọi tín đồ.

Một người theo Hồi giáo phải cầu nguyện một ngày 5 lần. Lần cầu nguyện thứ nhất bắt đầu không lâu sau rạng đông, khi tín đồ được người gọi đi lễ (muezzin) đánh thức, thúc giục rằng «cầu nguyện còn hơn giấc ngủ». Bốn lần cầu nguyện còn lại được thực hiện ngay sau giờ Ngọ, vào buổi sau trưa, ngay sau khi mặt trời lặn và vào ban đêm. Vào các thời điểm này, người gọi đi lễ leo lên một cái tháp cao (minaret) kêu gọi các tin đồ đi cầu nguyện: «Thượng Đế thì tối thượng,/ Tôi xác nhận rằng không có thần thánh nào ngoài Allah,/ Tôi  xác nhận rằng Mohammed là Sứ Đồ của Allah,/ Hãy đến để cầu nguyện,/ Hãy đến để được giải thoát,/ Thượng Đế thì vĩ đại nhất,/ không có thần thánh nào khác ngoài Allah».

Mỗi ngày, tín đồ Hồi giáo phải làm công việc rửa sạch nếu không, các công tác thờ phượng sẽ không có giá trị. Các công việc rửa sạch này làm sạch con người, cũng như các lời cầu nguyện làm sạch linh hồn nhờ đó, con người đi lễ trở nên trong sạch cả về thể xác lẫn tinh thần trước Thượng Đế. Việc rửa sạch phải làm trước lần cầu nguyện đầu tiên. Người đi lễ phải gội đầu, rửa mặt, rửa bàn tay và cánh tay cho tới cùi chỏ, rửa chân và cổ chân. Loại nước lã thường được dùng cho công việc này và khi không có sẵn nước, có thể dùng cát thay thế. Việc rửa sạch cũng phải làm khi tín đồ không theo được buổi lễ một cách đúng đắn, chẳng hạn như ngủ gật hay khi cơ thể và quần áo va chạm với những thứ không trong sạch, chẳng hạn như rượu, máu và nước tiểu, và trong trường hợp này, chỗ tiếp xúc cần được tẩy giặt cho sạch sẽ. Nếu sự dơ bẩn lớn hơn, chẳng hạn như giao hợp, người tín đồ phải rửa sạch tóc và toàn thân.

Trước khi bắt đầu cầu nguyện, một tín đồ phải bỏ nón, cởi giầy và làm một số động tác ấn định được gọi là «rak'a» trong khi đó miệng đọc nhỏ hay đọc thầm các lời cầu nguyện. Vào các giờ cầu nguyện khác, lại có các «rak'a» khác nhau và một tín đồ có thể làm thêm một số «rak'a» để xin thêm ân sủng của Thượng Đế. Trước khi cầu nguyện, mọi tín đồ phải tĩnh tâm, xác nhận số «rak'a» sẽ làm, nếu không có sự tuyên bố ý định này, các lời cầu nguyện sẽ không có giá trị.

Khi bắt đầu cầu nguyện, tín đồ phải đứng thẳng người, hai tay giơ quá đầu, lòng bàn tay hướng về phía trước và nói: «Allahu Akbar!» (Allah là Đấng Tối Thượng). Câu này được lặp lại nhiều lần nhưng lần đầu tiên được coi là quan trọng nhất vì câu nói đó đã tách biệt đời sống tầm thường của tín đồ để cho người đó hướng toàn diện về Thượng Đế. Rồi người tín đồ phải sụp lạy, miệng đọc Kinh Koran. Công việc cuối cùng là quay sang trái và phải, mỗi lần đều nói câu «Hòa Bình và Lòng Thương của Thượng Đế tới với bạn» và theo niềm tin thông thường, lúc này hai bên vai đã có hai thiên thần chứng giám cho lòng thành của người tín đồ.

Việc cầu nguyện có thể thực hiện tại nhiều nơi: ở nhà, tại ngoài trời, nơi làm việc, và Kinh Koran còn khuyến khích cầu nguyện ngay cả trên bãi chiến trường: một toán quân canh gác trong khi toán quân kia cầu nguyện rồi đổi lại. Cầu nguyện có thể làm một mình hay cùng với nhiều người khác. Tín đồ Hồi giáo thường tập họp với nhau vào trưa ngày Thứ Sáu và buổi cầu nguyện tập thể này được hướng dẫn bởi người chủ lễ gọi là «imam», sau đó là buổi thuyết giảng bởi người «imam» này và người này ca ngợi Thượng Đế, nhà Tiên Tri Mohammed cũng như đề cập tới một số vấn đề công ích.

Việc cầu nguyện tập thể thường được các tín đồ Hồi giáo thực hiện nơi đền thờ (mosque) có lối xây cất lúc đầu theo cách xếp đặt giống như căn nhà của Nhà Tiên Tri Mohammed với các túp lều của các bà vợ xếp quanh một sân rộng là nơi Nhà Tiên Tri rao giảng. Về phía bắc của sân là các cây gồi, từ nơi này làm ra một mái che ngang, kết bằng lá cây và bùn để che nắng. Đền thờ Hồi giáo vì theo kiểu mẫu đó, nên cũng có một sân rộng ở giữa, có hồ nước để các tín đồ rửa mặt và chân tay, 3 phía là mái che còn phía thứ tư chính là gian thờ. Vì mọi tín đồ phải hưởng về Đền Kaaba ở Mecca nên gian thờ, được gọi là «mihrab», được quay về hướng đó và được trang hoàng và có một bục giảng dùng cho buổi lễ trưa Thứ Sáu.

Đền thờ Hồi giáo không chỉ là một nơi thờ phượng mà còn là một nơi giáo dục. Các học giả thường ngồi nơi bóng mát, dựa lưng vào cột và các học sinh vây chung quanh. Đền thờ Hồi giáo El Azhar tại thành phố Cairo, Ai Cập, vừa là một trung tâm tôn giáo, vừa là một trường Đại Học có tầm vóc quan trọng ngang với các đại học của châu Âu. Đền thờ cũng là tòa án, nơi các vị quan tòa nghe kiện cáo và xét xử. Đây còn là nơi dừng chân của các kẻ lữ hành, họ uống nước, rửa mặt và nằm ngủ nơi bóng mát trước khi lên đường trong chuyến viễn du. Ngày nay, mọi ngôi đền thờ Hồi giáo đều độc lập, thanh toán các phí tổn nhờ vào ngân quỹ để lại của người sáng lập nhưng cũng nhờ vào loại tiền cúng tặng của tín đồ. Ngôi đền được điều hành bởi một người quản đốc, phụ tá có các «imam» hay các người chủ lễ, ngoài ra còn có các người giữ cửa, người chuyên môn chở nước, các người phục dịch khác…

Bố thí là niềm tin thứ ba của giáo lý đạo Hồi. Một người Hồi giáo chỉ có thể tẩy sạch tài sản của mình bằng cách cho đi một phần những gì kiếm được. Việc bố thí có hai loại: «sadaga» là việc bố thí tự nguyện và «zakat» là cách bắt buộc. «Zakat» không phải là một loại thuế, mà là một thứ «cho Thượng Đế vay», được chính quyền thu nhận để dùng vào các nhu cầu xã hội như giúp đỡ các người nghèo, các góa phụ, các trẻ em mồ côi, giúp các kẻ nô lệ mua lấy tự do hay trang bị cho các quân sĩ tình nguyện trong các cuộc thánh chiến. Một tín đồ có thể bố thí theo loại «zakat» bằng hiện vật như tiền bạc, kim khí quý, hoa màu thu hoạch được, súc vật chăn nuôi được… tùy theo cách kinh doanh của người có của.

3/ Niềm tin thứ tư và thứ năm.

Niềm tin thứ tư là nhịn ăn (fasting). Kinh Koran đã xác nhận: «Hỡi các kẻ có niềm tin, việc nhịn ăn đã được dành cho các người». Mùa nhịn ăn là tháng Ramadan, một tháng âm lịch xoay vòng qua các năm. Mỗi tín đồ Hồi giáo có bổn phận phải nhịn ăn, ngoại trừ các trẻ thơ, người bệnh và các kẻ đang trên đường đi xa. Họ phải nhịn ăn trong những giờ có ánh sáng mặt trời và duy trì công việc này trong suốt tháng Ramadan.

Vào tháng Ramadan, trước khi trời sáng, tiếng trống đánh, tiếng gọi cửa, tiếng hô hào trên tháp cao kêu gọi mọi tín đồ dùng bữa ăn cuối cùng, rồi kể từ khi «phân biệt được sợi chỉ màu đen với sợi chỉ màu trắng», người theo đạo Hồi không được ăn gì nữa, uống gì nữa, dù là một ly nước hay một điếu thuốc lá, và phải kiêng cữ liên hệ tình dục. Trong các giờ này, các công việc vẫn được tiếp tục làm nhưng với tinh thần từ tốn và giới hạn.

Mặc dù các giới hạn, các quy luật phải theo, người Hồi giáo rất ưa thích tháng Ramadan vì việc nhịn ăn không phải là cách hành hạ thể xác và Nhà Tiên Tri Mohammed đã không chủ trương khắc kỷ thái quá. Sự nhịn ăn đã được người Hồi giáo coi là một cách giống như cầu nguyện để tới gần Thượng Đế hơn, cách nhắc nhở các tín đồ rằng ngoài đồ ăn, thức uống, còn có một thứ gì cao cả hơn, đó là đời sống tinh thần. Do nhịn ăn, người Hồi giáo học được kỷ luật đối với cơ thể của mình, hiểu được nỗi thống khổ của kẻ nghèo khó và do đó mới biết mở rộng tấm lòng nhân đạo. Ngoài ra, Ramadan còn là tháng chuộc tội, chuộc lại tất cả tội lỗi trong suốt một năm.

Việc nhịn ăn vào ban ngày cũng mang tới niềm vui lớn vào ban tối, khi người đi gọi lễ báo tin hết giờ cấm ẩm thực và sau này, tiếng người được thay bằng tiếng súng đại bác. Lúc này tinh thần hồ hởi tới với mọi người, đặc biệt là trẻ em. Mọi người trong gia đình vào giờ này cùng nhau thưởng thức vài trái chà là, nhấm nháp ly nước giải khát làm từ trái mận khô (dried apricots) với tên gọi là «gamar-al-deen» (mặt trăng của tôn giáo). Sau món khai vị đó, toàn thể gia đình quây quần vui hưởng bữa «iftar» (điểm tâm buổi chiều). Sau bữa ăn này, một số người đi ngủ còn các kẻ khác chạy ùa ra chợ, ra đường phố: sinh hoạt mua bán trở nên nhộn nhịp, các trẻ em chạy qua, chạy lại với các lồng đèn trên tay và đôi khi chúng xin tiền người lớn để mua nến (đèn cầy) thắp sáng. Vào lúc này, bên trong các đền thờ Hồi giáo, đèn được thắp sáng trưng, các tín đồ ngồi nghe thuyết giảng về ý nghĩa của tháng linh thiêng này, còn bên ngoài đền thờ là đủ loại giải trí: gánh xiếc với các trò vui, các màn ảo thuật, các nhà thi sĩ đọc thơ, các người kể chuyện cho các đám đông đứng bu chung quanh… Ba ngày cuối cùng của tháng Ramadan là lễ hội lớn. Mọi người mặc quần áo mới, chào nhau, ôm nhau khi gặp mặt. Trong gia đình, các món ăn đặc biệt được dọn ra tùy theo lợi tức của gia chủ và tất cả mọi người cùng nhau ăn mừng sự gần gũi với Thượng Đế.

Việc hành hương «Hajj» vào tháng đặc biệt kể trên đã cho các người Hồi giáo một sức mạnh tinh thần. Đây là cơ hội tụ họp về nơi Đất Thánh của họ, hàng trăm ngàn người từ những miền xa xôi nhất, họ mặc y phục giống hệt nhau, làm các lễ nghi tôn giáo như nhau, điều này nhắc nhở rằng mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế. Đây cũng là cơ hội để các tín đồ xa gần trao đổi các ý tưởng khác nhau, giúp vào việc đoàn kết và làm vững mạnh đế quốc tôn giáo. Những người ra đi rồi trở về sau cuộc hành hương cũng làm rộn ràng các làng mạc, các thành phố mà họ sinh sống và do các cảm xúc sâu đậm của cuộc hành hương mà mỗi người đều cố gắng để dành tiền, cố gắng làm ăn vất vả để có tiền tham dự một chuyến hành hương sôi nổi.

Khi các tín đồ Hồi giáo đã tới ngoại ô thành phố Mecca, họ rửa sạch từ đầu tới chân và kể từ nay là thời gian phải chăm sóc linh hồn hơn thể xác: họ không được cạo râu, cắt móng tay cũng như giao hợp. Các tin đồ thay quần áo thường mặc, người nam quấn bằng hai tấm vải trắng còn người nữ mặc y phục trắng dài, bình dị. Việc thay đổi y phục này có kèm theo các lời cầu nguyện và đọc kinh Talbiya, để nói rõ rằng họ sẵn sàng làm theo lệnh của Thượng Đế. Khi từ ngoài thành phố Mecca tiến vào bên trong, người hành hương tới hôn Tảng Đá Đen rồi đi vòng quanh ngôi đền linh thiêng 7 vòng, miệng đọc kinh ca ngợi Allah. Sau đó họ chạy 7 lần giữa 2 ngọn đồi nhỏ ở gần đó. Đây cũng là một phong tục cổ xưa.

Lễ nghi quan trọng nhất của cuộc hành hương được cử hành tại Arafa là thung lũng cách Mecca 9 dặm, vào ngày thứ 9 của tháng Dhu'l Hijja. Vào ngày trọng đại này, các tín đồ kẻ đi chân, người cưỡi ngựa hay lạc đà, tụ tập trên một ngọn đồi nhỏ vào một buổi chiều rồi hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn tín đồ cùng nhau cầu nguyện trước Thượng Đế và lắng nghe lời thuyết giảng của các vị chức sắc. Đây là quãng thời gian đã gây được niềm tin sâu sắc, đã tác dụng đến nội tâm của mọi tín đồ Hồi giáo.

Sau khi mặt trời lặn, đoàn hành hương trở về hướng thành phố Mecca, nghỉ đêm tại Muzdalifa, một ngôi làng nhỏ không xa Arafa và vào ngày hôm sau, họ đi tới Mina ở giữa đường Medina và Arafa, tại nơi này họ ném đá vào các cột trụ tượng trưng cho ma quỷ và các cám dỗ. Cao điểm của cuộc hành hương Hajj lại được đánh dấu bằng việc cắt tiết cừu, dê và lạc đà. Các người sợ máu nhờ các đồ tể khác làm giúp. Họ ăn thịt các con vật đã được tế thần, phần thịt dư được chia cho các kẻ nghèo. Lễ giết súc vật để cúng tế này được làm vào ngày thứ 10 của tháng Dhu'l Hijja và được coi là một «lễ hội lớn» trong thế giới Hồi giáo.

Sau đó, các tín đồ trao đổi quà tặng và mặc quần áo mới sau khi đã cắt tóc, cạo râu. Nghi lễ cuối cùng là việc các tín đồ trở lại thành phố Mecca, đi 7 vòng chung quanh ngôi đền Kaaba và chạy nhiều lần giữa hai ngọn đồi nhỏ ở gần đó để kết thúc cuộc hành hương. Các tín đồ đã thực hiện cuộc hành trình nghi lễ này được mang tước hiệu «Hadji», một danh dự dành cho những người tin tưởng vào Allah và cũng là một ân phước dùng vào Ngày Phán Xét sau này.

4/ Đạo Hồi và Xã Hội Ả Rập.

Trong nền văn minh Tây Phương, luật pháp và tôn giáo được tách biệt thì nơi đạo Hồi, hai phạm vi kể trên đã lẫn vào nhau, chi phối hành động của con người không những đối với nhau mà còn đối với Thượng Đế.

Đạo Hồi khởi đầu từ căn cứ vào xã hội của người du mục, của người Ả Rập, là một tôn giáo nhất thần (monotheistic) giống như đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa, nhưng nhà Tiên Tri Mohammed lại cho rằng người Do Thái đã làm sai đi lời của Thượng Đế trong thánh kinh của họ, trong khi Thượng Đế hay Allah chỉ có một, duy nhất và để sửa chữa các khuyết điểm, Thượng Đế đã chỉ dẫn người Ả Rập qua Sứ Đồ là nhà Tiên Tri Mohammed.

Đạo Hồi không chủ trương sự tách biệt giữa tôn giáo và chính quyền vì tại một xã hội cần phải chiến đấu để sống còn, chiến đấu chống các kẻ thù bên ngoài và sự phân hóa bên trong, vì thế các nghi thức cầu nguyện tập thể đã mang hình thái kỷ luật của quân đội và Kinh Koran đã bao gồm cả luật về tôn giáo lẫn luật dân sự, đã xác định về các cách quản trị xã hội, về các quyền lợi như quyền tư hữu, thừa kế, giá thú, ly dị, việc trừng phạt kẻ cắp và kẻ ngoại tình, việc đối xử với kẻ nô lệ và trẻ mồ côi, các điều lệ về thương mại, luật lệ về ăn uống, giải trí và hối lộ… Ngoài các luật thành văn (written law) còn có các luật tập tục (customary law) thay đổi tùy theo địa phương nên thường đi lệch khỏi các lời giảng dạy của nhà Tiên Tri.

Đạo Hồi đã không có một giới tu sĩ nhưng lại làm phát triển những nhà luật học và học giả về các luật lệ xác định trong Kinh Koran để xét xử các vấn đề xã hội. Hai giới này cho tới ngày nay vẫn giữ vai trò lãnh đạo.

Năm niềm tin của đạo Hồi gồm lòng tin tưởng, các bổn phận cầu nguyện, bố thí, nhịn ăn và đi hành hương, là các phần của một hệ thống giáo luật phức tạp, với tên gọi là «Shiri 'a» hay con đường rõ ràng phải đi theo. «Shiri 'a» có 4 nguồn gốc: Kinh Koran, các tập tục đã có từ trước, các chấp thuận của nhiều học giả Hồi giáo và Sách Hadith ghi lại những gì nhà Tiên Tri Mohammed đã làm và đã nói.

Vì các hành xử của một tín đồ phần lớn được căn cứ vào «Sách Hadith» nên đã có kẻ đặt ra các lời nói ngụy tạo của Mohammed và người ta còn kể lại rằng ba thế kỷ sau khi Mohammed qua đời, đã có 600 ngàn câu nói của nhà Tiên Tri được lưu truyền, khiến cho không biết câu nào là thật, là giả. Vì vậy một số học giả Hồi giáo đã phải thu thập, xem xét và ấn định độ chính xác, trong khi chính cuốn «Sách Hadith» cũng được viết ra căn cứ vào lời kể lại của những người thân cận với nhà Tiên Tri.

Các hành xử của tín đồ Hồi giáo còn được xếp vào một trong 5 loại: loại bắt buộc như đọc kinh và bố thí zakat, loại được ca ngợi (commended acts) như bố thí cho kẻ ăn xin, trả tự do cho kẻ nô lệ, loại vô thưởng vô phạt như làm một chuyến du lịch, loại không được chấp nhận (disapproved acts) như ăn hành, tỏi khiến cho hôi miệng và cuối cùng là loại bị cấm đoán, chẳng hạn như tội giết người. Ngoài ra luân lý căn bản của đạo Hồi, chẳng hạn như sự đòi hỏi các tín đồ phải trong sạch, kiên nhẫn và tử tế đối với các người cần cứu giúp, thì cũng giống như những điều răn dạy trong Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo, và đặc biệt là Kinh Cựu Ước (Old Testament).

Về một số phạm vi khác, đạo Hồi và đạo Thiên Chúa lại khác nhau, nhất là về phương diện chiến tranh. Trong khi đạo Thiên Chúa chủ trương tha thứ cho những kẻ trước kia đã đàn áp mình hay các kẻ chiến bại, thì nhà Tiên Tri Mohammed lại thúc giục các tín đồ phải chiến đấu cho Hồi giáo và «jihad» (cuộc thánh chiến = holy war) đã gần có cơ hội trở nên niềm tin thứ sáu.

Về thực phẩm, đạo Hồi theo các chính sách giống như đạo Do Thái và Kinh Koran đã cấm ăn thịt heo, máu và thịt của các con vật bị tự nhiên mà chết, bị đánh tới chết, bị đâm bằng sừng, bị rớt xuống chết hay bị các thú vật khác đã ăn một phần, trong khi đó tín đồ Hồi giáo được phép ăn cá, ăn loại thịt do săn bằng chó săn, hay thịt của một số con vật được chấp nhận như cừu, dê và lạc đà. Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp, tín đồ được ăn mọi thứ để duy trì đời sống.

Đạo Hồi đối với rượu rất nghiêm ngặt, hơn tất cả các tôn giáo khác. Kinh Koran cấm hẳn kẻ đang say sưa mà đi cầu nguyện và việc uống rượu Khamr bị coi như vi phạm luật tôn giáo. Dù thế, giới quý tộc Hồi giáo và các thi sĩ vẫn phạm luật do uống nhiều rượu chát.

Sự khác biệt của đạo Hồi so với các đạo giáo khác còn ở cách đối xử với phụ nữ. Kinh Koran đã dạy rằng «người nam phải bảo vệ người nữ» và trong nhiều trường hợp, đạo Hồi đã cải thiện tình trạng của phụ nữ hơn các thời đại trước. Tại xứ Ả Rập vào các thế kỷ trước kia, người đàn ông có thể lấy bao nhiêu vợ tùy ý, đối xử tốt xấu ra sao tùy ý và có thể ly dị vợ theo ý muốn mà không cần phải cho biết lý do, bằng cách nói hai lần câu «mày bị đuổi» (thou art dismissed) nhưng sau đó, người đàn ông sẽ không có quyền cưới lại người vợ này vì đã nóng giận, và người đàn bà tuy không có quyền đứng xin ly dị, nhưng trong một số điều kiện, có thể được tự do, do từ chối một số tài sản mà người chồng dành cho mình.

Đạo Hồi khi ra đời, đã không cấm đoán hẳn được sự đa thê nhưng đã giới hạn người đàn ông không có quyền lấy hơn 4 vợ, lại phải đối xử tử tế và bình đẳng với người vợ của mình. Trong đám cưới, tiền của do nhà trai đưa lại sẽ thuộc quyền của cha mẹ cô gái hay người giám hộ và tài sản này sẽ không bị hoàn trả nếu có ly dị. Việc gian dâm cũng bị giáo luật lên án nặng nề và Kinh Koran đã xác định hình phạt như sau: «với kẻ gian dâm nam và nữ, hãy đánh chúng bằng một trăm roi».

Đạo Hồi đã cung cấp cho các tín đồ một lối sống bao gồm cả tinh thần lẫn xã hội, chính trị và kinh tế, khiến cho họ sống hòa hợp với nhau và cũng cung cấp cho họ một sức mạnh mà thế lực và ảnh hưởng đã làm biến đổi thế giới trong nhiều thế kỷ.

Kể từ Kỷ Nguyên Hồi Giáo hay Hegira, đã có 72 giáo phái đạo Hồi, nhưng hai giáo phái lâu đời nhất và quan trọng nhất là Shi 'ites và Sunnites. Tín đồ theo giáo phái Shi 'ites tin tưởng rằng người kế tục Mohammed là Ali, con rể của nhà Tiên Tri, còn giáo phái Sunnites lại chủ trương chính thống (orthodox). Ngoài ra còn có một số giáo phái tuy chỉ xuất hiện cách nay gần một thế kỷ nhưng cũng rất quan trọng và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong thế giới Hồi giáo, là giáo phái Wahabites. Đây là một loại «tin lành» của đạo Hồi, muốn phục hưng đạo Hồi để trở về sự thuần chất nguyên thủy. Người Ba Tư thuộc giáo phái Shi 'ites, người Thổ Nhĩ Kỳ và Ả Rập thuộc Sunnites còn thuộc về Wahabites là cư dân của miền Nejd, miền trung tâm Arabia. Tuy chia rẽ thành các giáo phái song các người Hồi rất dung thứ cho nhau và họ cũng đã không dùng tới «pháp đình tôn giáo» (Inquisition), đã không dùng «lưỡi kiếm và lửa hỏa thiêu» để ép buộc các người khác giáo phái phải theo chủ thuyết của mình.

Các lời răn dạy trong Kinh Koran thì cũng tốt lành như của các Thánh Thư khác, gồm: lòng bác ái, tính hiếu khách, các hành động lương thiện, sự tiết chế dục vọng, việc giữ lời hứa, sự kính trọng cha mẹ, việc bảo vệ trẻ em và những người góa bụa, tình thương yêu người hàng xóm và lời khuyên răn kẻ gian tà quay về con đường ngay thẳng… Luân lý của Kinh Koran như vậy cũng giống như luân lý trong Sách Phúc Âm (The Gospel).

Việc chuyển đổi những niềm tin căn bản thành một nền văn minh chính thức, đầy đủ của Hồi giáo là do công lao của nhiều thế hệ các học giả, các nhà thần học, các nhà luật học (jurists). Chính nhờ đạo Hồi mà các xứ Ả Rập đã đoàn kết lại và phát triển.

Phạm Văn Tuấn

(Đặc San Lâm Viên)



Tài liệu tham khảo: Wikipedia.org.; A History of the Arab Peoples by Albert Hourani, MJF Books, N.Y. 1991.



Share:

Siêu bão Trump đang quần xéo Trung quốc




Siêu bão Trump đang quần xéo Trung quốc




Nguyễn Quang Cương

Lúc này, cả thế giới, hút tầm nhìn về phía Trung Quốc- đang chao đao trong cơn bão độc, mang tên Donald Trump. 
*Cội nguồn cơn bão:
Donald Trump độc, lạ, nhưng cũng học kế sách của Ronald Reagan, trước đó. Reagan đắc cử Tổng thống (1/1981), với khẩu hiệu: «Làm cho nước Mỹ mạnh trở lại». Mới đây, Donald Trump đắc cử (1/2017), cũng với khẩu hiệu: «Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại».


Donald Trump sẽ «làm cho nước Mỹ vĩ đại một lần nữa»
Để đạt mục đích, cả hai cùng mưu lược: một tay nâng nước Mỹ, một tay dìm đối thủ (gây nguy hại nhất cho nước Mỹ). Đối thủ của Mỹ thời Reagan là Liên Xô, còn đối thủ của Mỹ thời Trump là Trung quốc.
Khởi sự cuộc chiến của Reagan, là khi ông đứng tại bức tường Berlin (12/6/1987) kêu gọi: «Tổng Bí thư Gorbachev, nếu ông muốn mưu cầu hoà bình, thịnh vượng, cho Liên Xô và Đông Âu...h ãy đến cổng thành này, hãy mở cánh cổng này. Gorbachev, hãy phá đổ bức tường này!» Và sau đó, bằng những diệu kế, 2 năm sau (1989) là các nước Đông Âu và 3 năm sau (1991) là Liên Xô sụp đổ, tan rã...
Lúc bấy giờ, trong nước Mỹ, lạm phát từ thời Jimmy Cater bình quân 12,5%, đã giảm xuống còn 4,4%, thất nghiệp dao động 7,5%... nước Mỹ đã mạnh trở lại, Reagan vững vàng 2 nhiệm kỳ Tổng thống.
Còn hiện tại, để huỷ diệt đối thủ, ngày 25/9/2018, đứng trước Đại hội đồng Liên Hiệp quốc (kỳ họp 73), Donald Trump lên án Chủ nghĩa Xã hội, thực chất là cáo trạng Trung Quốc, rằng: «Gần như nơi nào mà Chủ nghĩa Xã hội hay Chủ nghĩa Cộng sản được thử nghiệm, chúng cũng gây ra đau khổ, tham nhũng và mục nát». Và kêu gọi: «Tất cả các quốc gia trên thế giới, cần chống lại Chủ nghĩa Xã hội». Donald Trump lấy cái lý về ý thức hệ, để tuyên chiến với Trung Quốc. 
Trước đó cả năm, Trump đã «thập diện mai phục» (như tên một bộ phim của Trung Quốc, công chiếu năm ngoái), với những khởi động, mà nhiều người ngắn nhìn, cạn nghĩ, cho là rồ dại... Đến giữa năm nay, khi cỗ máy quốc nội đã tạm êm bánh xích (tăng trưởng 4,2%, thất nghiệp còn 3,7%), Trump bắt đầu trút bão, vùi dập đối thủ.

*Cơn bão «thập diện»:
• Về kinh tế: 
Trump kết tội Trung Quốc là: «Nền kinh tế phi thị trường», «Làm biến dạng thị trường». Không thể tương tác với nền kinh tế Hoa Kỳ và hoà hợp với kinh tế thế giới...
Trump mở màn tấn công, bằng việc đánh thuế 25% lên 50 tỉ (hàng hoá độc quyền, chỉ có từ Mỹ), rồi 10% lên 200 tỉ đô la (năm tới sẽ 25%) và bây giờ là 567 tỉ, hàng hoá mua bán với Mỹ. Đồng thời, khoá chặt cửa vào Bắc Mỹ của Trung Quốc, với việc huỷ bỏ hiệp định NAFTA (1994) đã ký với Canda và Mexico, thay bằng hiệp định mới USMCA (1/10) với nội dung tiên quyết: cấm các nước giao thương với «nền kinh tế phi thị trường» Trung Quốc.

Tổng thống Mỹ và Chủ tịch Trung Quốc
Cùng lúc, Mỹ ráo riết lập liên minh vây ráp Trung Quốc, bao gồm các nước có nền kinh tế mạnh như EU, Nhật, Úc, Canada, Ấn Độ… Và tiến tới có thể cấm vận Trung Quốc, như đã cấm vận Triều Tiên...
Xoáy lốc hơn, Mỹ chặn mạch máu dầu của Trung Quốc. Hàng năm, Trung Quốc nhập khẩu 70% xăng dầu, cho nền kinh tế. Hiện tại, Mỹ đã ngưng cung cấp 1/5 trong số đó. Và đang bao vây, cấm vận Venezuela, Iran - hai dòng dầu chính chảy về Trung Quốc. Trump cũng lộ ý đồ tháo dỡ tổ chức OPEC, để ngăn chặn từ nguồn. 
Một cơn lốc gió độc nữa, sớm muộn sẽ quần đảo Trung Quốc: Trump đang mưu tính đẩy Trung Quốc ra khỏi WTO- gạt bỏ ra khỏi cuộc làm ăn toàn cầu, cách ly với thế giới văn minh...

• Về chính trị:
Trump lên án Chủ nghĩa Xã hội (thực chất là chĩa vào Trung Quốc): tàn bạo, tham nhũng, mục nát, đem lại bần cùng, khổ nạn cho người dân. Mục đích của Trump là cô lập Trung Quốc trước cộng đồng quốc tế, đẩy ra khỏi sân chơi toàn cầu.

Trump chỉ trích Chủ nghĩa Xã hội (thực chất là chĩa vào Trung Quốc)
Mặt khác, Trump vỗ mặt Trung Quốc với việc doạ đuổi như bầy gà, hơn một triệu người Trung Quốc, ra khỏi nước Mỹ (bao gồm 7.000 quan chức chui lủi tại Mỹ, 1,180 triệu người liên quan và 330.000 sinh viên) kể cả đóng băng tài sản, tài khoản.
Độc hiểm hơn, Trump đang tính cuộc cờ: xoá sổ Liên Hiệp Quốc để tạo lập một Liên Hiệp Quốc mới, lấy cớ đẩy Trung Quốc ra khỏi Hội đồng Bảo an (gồm có Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc), để không có cơ hội cản trở Mỹ, trong các cuộc bỏ phiếu. 
Thâm sâu hơn nữa, Mỹ đang sắp đặt cho Đài Loan tuyên bố độc lập trở lại (trước đây Đài Loan độc lập, năm 1971, Trung Quốc mặc cả với Tổng thống Nixon, đẩy Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc). Từ đây, có thể các khu tự trị Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng sẽ ùa theo...

• Về quân sự:
Mỹ đã trừng phạt Trung Quốc việc mua vũ khí Nga (tiêm kích và tên lửa), với lý do vi phạm lệnh trừng phạt của Mỹ, nhằm hạn chế tiềm lực của Trung Quốc.

Mỹ điều tàu khu trục áp sát quần đảo Trường Sa
Tiếp đến (30/9), Mỹ điều tàu khu trục USS Decatur, tuần tra khu vực đảo Ga Ven, Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa... Cùng lúc, thoả thuận bán cho Đài Loan 1,3 tỉ đô la vũ khí và tuyên bố tháng 11, sẽ tập trận «cấp toàn cầu» ở eo biển Đài Loan, biển Đông, giỡn mặt Trung Quốc.
Giật cấp hơn nữa, Thượng viện Mỹ thông qua Đạo luật NDAA (Đạo luật uỷ quyền Quốc phòng) và Trump đã ký hôm 13/8, trị giá 716 tỉ đô la, dùng để ngăn chặn:
- Hoạt động xâm chiếm đất đai, biển đảo của Trung Quốc trong vùng biển Đông Nam Á (cắt đứt đường lưỡi bò).
- Các hoạt động gián điệp của Trung Quốc chống Hoa Kỳ và thế giới.
- Các kế hoạch của Trung Quốc làm suy yếu Hoa Kỳ…

Thượng viện Mỹ thông qua Đạo luật NDAA
* Bão mười phương, tám hướng, đang quần xéo Trung Quốc, ngày càng giật cấp, khó lường. Hậu quả, bước đầu, đã rõ: tỉ giá đồng nhân dân tệ sụt 8%, chỉ số chứng khoán giảm 21% so với năm ngoái và liên tục đỏ sàn, tuột dốc từng ngày… 
Giới não trí Trung Quốc, bừng tỉnh, ngộ ra: không phải Trump đánh thuế, gây chiến thương trường, mà Trump đang quần xéo Trung Quốc từ mọi phía, với ý đồ huỷ diệt...
Binh pháp Tôn Tử và vị «Hoàng đế trọn đời» họ Tập, chắc cũng khó giúp được Trung Quốc, vượt thoát qua cơn bão dữ Donald Trump!
Nguyễn Quang Cương

(12/10/2018)


Share:

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

Mẹ Nấm Được Trả Tự Do



Mẹ Nấm Được Trả Tự Do



Sau 2 năm 7 ngày, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh gặp lại 2 con trên máy bay


Thông báo của Mạng Lưới Blogger Vietnam

Trưa thứ Tư, ngày 17.10.2018 Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và gia đình đã đáp chuyến máy bay EVA 398 rời Hà Nội, quá cảnh tại Taipei và sẽ đến Houston trên chuyến bay EVA 52 vào lúc 11 khuya cùng ngày.

Trước đó,

Ngày 11.07.2018 nhân viên của Toà Đại sứ và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thông báo cho thành viên của MLBVN là nhà cầm quyền CSVN đã đồng ý trả tự do cho blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và cũng đồng ý để cả nhà sang định cư tại Mỹ. Tuy nhiên, phía nhà cầm quyền không cho biết ngày nào Nguyễn Ngọc Như Quỳnh ra khỏi nhà tù.

Trong khi chờ đợi nhà cầm quyền thông báo ngày đi chính thức của gia đình, MLBVN đã hoàn tất mọi thủ tục giấy tờ bảo lãnh cho Mẹ Nấm và gia đình với Sở Di trú Hoa Kỳ. Ngày 23.08.2018 bà Tuyết Lan cùng 2 cháu Nấm và Gấu đi Sài Gòn để làm thủ tục Visa nhập cảnh Hoa Kỳ.

Ngày 28.08.2018 gia đình nhận được Visa để nhập cảnh Hoa Kỳ và Visa sẽ hết hạn vào ngày 26.09.2018. Tuy nhiên, đến ngày 20/09/2018 nhân viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu lý cớ là do thiếu nhân sự vì những người phụ trách hồ sơ của Mẹ Nấm phải đi sang Úc tham dự Hội nghị cho nên vẫn chưa có thể xác định ngày trả tự do cho Mẹ Nấm.

Do đó ngày 20.09.208 gia đình của Mẹ Nấm phải đi gia hạn Visa lần 2 với và ngày hết hạn sẽ là 19.10.2018. Sau đó, Hoa Kỳ thông báo cho VN là ngày trả tự do cho Mẹ Nấm trễ nhất là ngày 26.09.2018.

Vào lúc 16h02 chiều ngày 28.09.2018 nhà cầm quyền CSVN thông báo sẽ thả Mẹ Nấm vào ngày 03.10.2018, và dự kiến ngày rời Việt Nam sẽ là 03.10.2018 hoặc 04.10.2018 và đây là "sự đồng ý sau cùng đã được phê chuẩn". Mạng lưới Blogger VN chuẩn bị lấy vé cho Mẹ Nấm và gia đình.

Chỉ 1 giờ sau, lúc 17h04 BNG Việt Nam lại cho biết là có vấn đề trong đối thoại nội bộ và họ không thể xác định ngày nào sẽ trả tự do cho Mẹ Nấm.

Vào lúc 17h59 ngày 11.10.2018, MLBVN nhận được tin từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết chính thức Mẹ Nấm sẽ được trả tự do vào ngày 17.10.2018, tức chỉ 2 ngày trước khi visa lần 2 của gia đình hết hạn.

6:30 sáng, 17.10.2018, 2 xe mang biển số 80 của Bộ Công an và 1 xe 16 chỗ ngồi của trại giam đã chở Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh rời trại giam để tống xuất Mẹ Nấm ra khỏi Việt Nam. Vì vé chuyến bay sẽ cất cảnh lúc 12 giờ trưa nên xe CA cố ý dừng lại ở trạm Cầu Giẽ Ninh Bình, nghỉ 40 phút để khi đến sân bay Nội Bài là gần sát giờ bay. CA đã hộ tống Mẹ Nấm vào cổng sau dành riêng cho nhân viên. Tại đây Công an chỉ cho phép Mẹ Nấm gặp nhân viên Đại sứ Quán Hoa Kỳ trong vòng 5'. Sau đó Mẹ Nấm đã lên máy bay cùng nhân viên của sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội. Sau 2 năm 7 ngày, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh gặp lại 2 con trên máy bay.

Tự do đã đến với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh sau 2 năm 7 ngày. Một giai đoạn mới trong cuộc đời của người phụ nữ tranh đấu cho quyền làm người, cho toàn vẹn lãnh thổ, cho an toàn môi trường sẽ nối tiếp. Không còn được ở quê hương của mình nhưng ở xứ người. Như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã luôn nói, không ai và không hoàn cảnh nào có thể làm Quỳnh đánh mất khát vọng và ngọn lửa đấu tranh của Quỳnh.



Share: