Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2019

Vì sao người tốt hay gặp khó, kẻ xấu vẫn thành công



Ai cũng tự hỏi 
Vì sao người tốt hay gặp khó,
 kẻ xấu vẫn thành công.
Đây là câu trả lời!


Ngọc Thảo

Với thần thông đệ nhất, ngay cả ba cõi cùng phối hợp cũng không thể làm tổn hại tới một sợi tóc trên đầu Mục Kiền Liên. Nhưng lúc đó, Ngài đã chết như một người bình thường...
Chắc hẳn rất nhiều người trong chúng ta ít nhiều có lúc băn khoăn với câu hỏi: Tại sao cuộc sống có những kẻ sống bằng việc lừa đảo, bất chính mà vẫn giàu có, yên ổn tới cuối đời; trong khi có những người cả đời an phận không làm hại ai, mà «tai bay vạ gió» hết lần này tới lần khác?
Tuy nhiên, dưới góc nhìn của Phật giáo, Nhân - Quả không thể sai khác. Không có Quả nào trổ ra mà không có Nhân trước đó, cũng không có Nhân nào gieo mà không có ngày gặt Quả. Chỉ là chưa đến lúc mà thôi!
Dưới đây, chúng ta cùng tìm hiểu khái niệm Nhân Quả trong đạo Phật qua 3 câu chuyện được ghi chép trong nhiều kinh sách, để có một góc nhìn khác về sự công bằng của thế giới, cũng như từ đó mà biết gieo Nhân đúng đắn để có Quả - một tương lai tốt đẹp hơn.
Chuyện thứ nhất: Cái chết của tôn giả Mục Kiền Liên
Thuở nọ có một chàng trai rất có hiếu, chăm sóc cha mẹ chu đáo vô cùng. Từng việc trong nhà như cơm nước, quét dọn, đến việc đồng áng đều một tay anh lo liệu. Thương con, cha mẹ cưới về một nàng dâu vừa bầu bạn, vừa đỡ dần công việc.
Nào ngờ, chỉ sau dăm ba hôm chăm sóc bố mẹ chồng, nàng dâu nhân lúc anh đi vắng hất cát lẫn cơm khắp nhà. Về nhà thấy cảnh bừa bộn, hỏi vợ thì được dịp nàng đổ oan hết tội cho bố mẹ chồng. Dần dà ngày này sang tháng khác, anh con trai từ một người con chí hiếu chuyển sang nghe lời vợ răm rắp, ghét bỏ bố mẹ.
Đến một ngày, cô vợ xúi chồng bỏ bố mẹ vào rừng cho chết đói, không phải hầu hạ phiền phức. Người con trai nghe theo lời vợ, lừa bố mẹ lên xe kéo đưa vào rừng, bỏ đói cho đến chết…
Thời Đức Phật còn tại thế, hai đại đệ tử của Người là tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả Mục Kiền Liên thường đi đến nhiều nơi thuyết Pháp, để làm lợi ích cho các chúng sinh ở đó.
Một người có trí tuệ và biện tài vô ngại, một người thần thông đệ nhất, dũng cảm thẳng thắn, các ngài đi tới đâu đều khiến ngoại đạo quy phục mà nương theo giáo pháp Đức Phật. Cũng vì thế mà không ít kẻ ngoại đạo bị mất đệ tử sinh lòng căm tức.
Một ngày nọ, ngài Mục Kiền Liên bị một nhóm người bịt mặt chặn đường dùng gậy đánh tới tấp.
Với thần thông đệ nhất, ngay cả ba cõi cùng phối hợp cũng không thể làm tổn hại tới một sợi tóc trên đầu Ngài, nhưng lúc đó, bị sức nặng của những hành vi bất thiện trong quá khứ bè đẹp, Ngài đã chết như một người bình thường.
Theo quan niệm đạo Phật, chàng trai giết cha mẹ năm xưa chính là một kiếp quá khứ của tôn giả Mục Kiền Liên.

* Lời bàn: Một A-La-Hán còn không thoát khỏi quả xấu trổ ra của một nhân đã gieo, câu chuyện đó đủ để thấy nhân quả không chừa một ai. Cho dù có là bậc Thánh tăng thần thông đệ nhất, thì khi Quả xấu trổ ra cũng không thể tránh được, chỉ có trạng thái đón nhận quả báo của Ngài đã hoàn toàn khác chúng ta mà thôi.
Ngay cả những bậc Thánh như chư Phật và các A-La-Hán, những người đã hoàn toàn thoát khỏi phiền não chướng, còn không thể tránh khỏi Quả phải trả do các nghiệp đã gây ra trong quá khứ.
Vậy thì có lí do nào để những kẻ giết người, cướp của, lừa đảo thoát khỏi nhân xấu đã gieo không? Điều này là không thể.
Đạo Phật cũng như nhiều tôn giáo khác và tín ngưỡng dân gian ở nhiều nơi trên thế giới cũng cho rằng tiền kiếp là có thật, trong khi các nhà khoa học thì không khẳng định hay phủ định. Bài viết này không thể kết luận thay khoa học và tôn giáo tín ngưỡng.
Nhưng có một điều ai cũng tin, được đúc kết trong câu tục ngữ của chính người Việt: «Gieo Nhân nào, gặt Quả nấy»!
Nhân Quả sẽ đi theo bất kì ai như hình với bóng, nếu chưa trả thì chỉ là chưa đến lúc mà thôi!



Chuyện thứ hai: Chuyện ông Lý, ông Tiền

Dân gian Trung Quốc có ghi lại một câu chuyện như sau, được nhiều trang web đăng tải lại.
Có một nông dân họ Lý làm thuê cho thương gia họ Tiền rất giàu có trong vùng. Do tính tình thật thà, chất phác nên anh Lý rất được lòng ông chủ.
Một bận phải đi buôn xa vài tháng, ông Tiền bỏ hết vàng bạc trong nhà vào 100 hũ rượu, để trong kho và gọi anh Lý vào dặn dò:
«Nhà tôi có việc đi xa hai, ba tháng mới về. Rượu để trong nhà sợ đám người làm lẻn uống mất, lại là rượu quý tôi đang bán rất được giá. Nhờ anh trông hộ và không cho ai lại gần kho rượu cho tôi.»
Ông Tiền đi hai tháng chưa thấy về, anh họ Lý lấy làm lạ vì rượu quý mà không thấy có mùi thơm, bèn lại gần xem thử. Khi lắc các hũ rượu thay vì tiếng nước lại thấy tiếng kim loại va vào nhau. Mở ra kiểm tra quả nhiên bên trong đều là các đĩnh bạc, vàng lấp lánh.
Bị ánh sáng của tiền làm mờ mắt, anh Lý bầy mưu cùng vợ chôn tiền dưới đất nhà mình, đổ rượu vào trong để thay thế.
Sau ba tháng đi làm xa, ông chủ Tiền trở về. Việc đầu tiên ông làm là vào kho kiểm tra các hũ «rượu quý» thì bàng hoàng nhận ra tất cả vàng bạc cả đời thương phú của ông đã bị thay hoàn toàn bằng rượu.
Biết bị lừa mà không thể mang ra quan phủ kiện, bởi khi đi ông nói giao cho anh Lý kia cai quản kho rượu, giờ rượu vẫn còn nguyên. Lòng hận thù khiến ông ngã bệnh, uất lên mà chết.
Về phía anh họ Lý, không những ông Tiền không sang đòi bạc, mà còn chết sớm như vậy, lấy làm sung sướng yên chí đem tiền ra tiêu.
Bởi không được học hành gì, lại sống kham khó, bỗng chốc có được khoản tiền lớn nên tiền tiêu không chút suy tính: tậu nhà, tậu đất, cưới thêm nhiều vợ lẽ, hưởng cuộc sống giàu sang như bậc trưởng giả lâu lăm.
Vài năm sau, anh Lý có được mụn con trai khôi ngô, tuấn tú, do một trong các bà vợ lẽ sinh cho mình. Đứa con này không những đẹp đẽ mà còn thông minh, hiếu học và hiếu nghĩa với cha mẹ. Đến kì khoa bảng, cậu đỗ thủ khoa, là trạng nguyên của kì thi năm đó.
Ông Lý tìm người mua cho cậu chức quan to trong triều, cho thỏa mãn ước vọng có con trai làm quan, nở mày nở mặt với thiên hạ.
Ông cũng cưới cho cậu con gái quan Thượng thư, cho gia đình thêm phần danh gia vọng tộc. Đó là một đám cưới linh đình xa hoa, khắp kinh thành ai nấy đều biết tới. Cuộc đời ông Lý lúc này thật viên mãn vô cùng.
Tiệc đám cưới tiếp khách say mèm, ông Lý nằm ngủ gục trong phòng. Trong giấc mơ ông thấy ông Tiền của mấy chục năm về trước, cho giai nhân khuân hết 100 hũ vàng bạc đi.
Ông Lý tỉnh dậy vì đám người hầu hốt hoảng lay gọi: Cậu chủ say rượu trúng gió chết rồi.
Đứa con mà ông vô cùng yêu quý, mang lại danh dự cho gia đình gốc gác bần nông như ông, đứa con mà không phải bỏ ra không ít tiền của cho nó ăn học, mua chức quan cho nó, cưới người vợ đài các cho nó, vậy mà nó đã rời bỏ ông đi thật bất ngờ.
Ông cũng nghĩ về giấc mơ kì lạ vừa xong, nhưng quá đau buồn nên cũng quên luôn.
Sau khi lo hậu sự cho con, thanh toán các khoản tiền đám cưới hỏi, cũng là lúc ông Lý tiêu đến hũ bạc cuối cùng. Lúc này tuổi đã già, lại mấy chục năm chỉ biết tiêu mà không làm ăn, ông cũng bán dần tài sản ruộng đất đi để... ăn tiêu nốt.
Từng người thiếp cũng không chịu nổi mà bỏ đi, rồi đến khi chả còn gì để bán, cả nhà ông Lý ra đường làm ăn mày.

* Lời bàn: Khi một Nhân đã gieo, Quả chắc chắn sẽ nở. Người ta không thể dự đoán được chính xác ngày Quả trổ ra, nhưng không ai có thể chạy thoát được Nhân Quả của chính mình.
Như trong kinh «Một trăm Hành vi» có nói:
«Ngay cả sau một trăm kiếp
«Hành nghiệp của chúng sinh sẽ không bao giờ mất đi
«Khi hội đủ các nhân duyên
«Quả hoàn toàn chín mùi sẽ trổ
Và trong «Kho tàng Của những Phẩm tính Quý báu» có viết:
«Khi chim đại bàng cất cánh bay cao
«Thời gian trôi qua, bóng của nó như biến mất
«Nhưng con chim và cái bóng vẫn còn đây
«Như nghiệp của chúng ta, đủ nhân quả sẽ hiển bầy
Theo đạo Phật, khi bạn chết đi, bạn sẽ bỏ lại toàn bộ của cải, gia đình, danh dự. Thư duy nhất bạn mang theo là Nghiệp. Dù có là bậc Thánh chứng đắc nhiều thần thông, hay sống trong đời như một trưởng giả giàu sang, thì nhân quả cũng không hề sai khác.
Bởi vậy mà khi thấy những kẻ làm điều xấu ác đến đâu mà chưa thấy hắn bị trừng trị ngay, bạn hãy hiểu rằng, chỉ là Quả xấu chưa trổ, chắc chắn không thể chạy thoát Nhân Quả.

·                   Nguồn tham khảo:
Sách «Lời vàng của Thầy tôi» - NXB Tôn Giáo,
Sách «Truyện cổ Phật Giáo» - NXB Tôn Giáo, Diễn đàn Hội quán A Di Đà

Share:

Vì sao người tốt vẫn khổ?



Vì sao người tốt vẫn khổ?
Đến Bao Công cũng phải phẫn uất viết
«thà làm việc xấu còn hơn»!

Ngọc Thảo


Nhà Phật có một câu nói nổi tiếng «đời là bể khổ» mà ai cũng từng nghe qua. Nói như vậy để thấy rằng, sống ở trên đời, việc gặp khổ là vô cùng dễ...
Trong bài Pháp đầu tiên Đức Phật thuyết tại Vườn Nai về Tứ Diệu Đế, thì Sự Thật (đế) đầu tiên Người giảng về Khổ Đế, chính là về nỗi đau khổ của con người, để qua đó hiểu rằng: ai cũng có thể gặp đau khổ. «Khổ» tồn tại trong từng sát-na của đời sống, mà ngay cả người sống tốt thì cuộc đời vẫn đầy rẫy khổ đau.

Chuyện Bao Công và cậu bé mù xây cầu qua sông

Khoảng thế kỷ XI - Bao Công, còn được biết đến với tên Bao Thanh Thiên, là một vị quan thanh liêm có tài xử án thời Nam Tống, với nhiều câu chuyện truyền kì về cuộc đời ông. Dưới đây là một câu chuyện như thế.

Cùng thời đó có một cậu bé tàn tật bị què mất một chân, không cha không mẹ lang thang ăn xin trong làng. Năm lên 10 tuổi, cậu bé què làm một việc vô cùng kì lạ, là gánh đá lấp suối làm cầu cho mọi người bước qua.

Vì việc làm có vẻ ngớ ngẩn nên mọi người mặc kệ cậu bé với hành động kì quái của mình, cho đến ngày đống đá nhô lên thành ụn đất cao, người dân trong làng mới cùng nhau góp công, góp của xây cầu để việc đi lại thuận lợi và an toàn hơn.

Trong một lần đập vụn đá thô, cậu bị đá văng vào mắt và mù lòa vĩnh viễn. Nhưng điều đó không cản trở thành tâm muốn hoàn thành cây cầu, cậu bé vẫn tiếp tục lấp đá cho tới ngày cây cầu được xây xong. Vào ngày được thỏa mãn ước nguyện, trên môi cậu bé nở lên một nụ cười mãn nguyện, đó cũng là lúc trên trời dội lên một tiếng sét đánh chết cậu bé ngay tức thì.

Trước cái chết thương tâm của một cậu bé tuy tàn tật nhưng lại luôn một lòng làm việc tốt vì người khác, dân làng ai oán khóc than. Tại sao một đứa bé ngoan ngoãn hiền lành, luôn sống vì người khác, lại nhận lấy một kết cục thê thảm đến vậy?

Vừa lúc đó, Bao Công đi qua, người dân chặn kiệu kể lại sự tình, cho rằng trời xanh không có mắt. Ngài cảm thương tột độ và thấy giận dữ vì cuộc đời quá bất công liền viết nên sáu chữ: «Thà làm việc xấu còn hơn làm điều tốt» (ninh hành ác, vận hành thiện).


Sau khi kết thúc chuyến đi, Bao Công trở về kinh thành, báo cáo tình hình dân chúng cho Hoàng thượng.

Vua Tống lúc này mới sinh được một hoàng tủ trắng trẻo, khôi ngô, nhìn rất thông minh nhưng lại rất hay khóc, mỗi lúc khóc thì không ai dỗ được, và đặc biệt là bàn tay hoàng tử lúc nào cũng nắm chặt.

Vua mời Bao Công tới thăm hoàng tử, đồng thời xem có cách gì để giúp đứa bé này được không, thì vừa hay khi mới chạm nhẹ vào tay thì hoàng tử bất ngờ mở tay ra, trên tay có sáu chữ: «ninh hành ác, vận hành thiện».

Truyền thuyết kể lại rằng, nhờ chiếc gối Âm Dương, Bao Công gặp được một vị trời hỏi về sự việc kì lạ này, được trả lời rằng: Trong quá khứ, cậu bé kia từng là kẻ đại gian ác, giết người cướp của, hiếp đáp kẻ yếu, nên phải trả nghiệp bằng ba kiếp què, mù, và bị sét đánh chết.

Tuy nhiên, khi là cậu bé tàn tật què chân, người này lại hướng thiện luôn hành động vì người khác, vậy nên nghiệp xấu rút ngắn lại chỉ phải trả trong một đời. Với thiện nghiệp gieo trong đời đó, cậu bé đã có một tái sinh tốt đẹp, được hưởng cuộc sống vinh hoa phú quý trong cung vua phủ chúa, chính là Hoàng tử ngày nay.

Chữ «Nghiệp» của nhà Phật nói tới không chỉ được hiểu theo nghĩa «nghiệp xấu» mà còn bao hàm cả «nghiệp tốt» nữa. Và chắc chắn nghiệp tốt sẽ không mất đi, như Kinh Nhân Quả có nói:

Người nay giàu có, vì đời trước thường hành Bố Thí
Người có tướng mạo xinh đẹp, vì đời trước có tâm cung kính

Do vậy, khi thấy một người sống tốt, luôn hành động vì người khác mà vẫn gặp khổ, hãy hiểu rằng đó là sự hiển bày của nhân quả mà thôi. Tuy nhiên, những nhân tốt người đó đã gieo sẽ trở lại vào một lúc nào đó trong tương lai. Chính vì thế, ngay trong hiện tại, hãy rất cẩn thận với việc gieo nhân.

Nếu có thể tóm tắt nhất lời phật dạy chỉ trong 4 câu, thì không gì hơn bài kệ thứ 183 trong Kinh Pháp Cú:

Không làm các điều ác
Làm tất cả điều lành
Tịnh hóa tâm ý mình
Là lời Chư Phật dậy

(Chư ác mạc tác - Chúng thiện phụng hành - Tự tịnh kỳ ý - Thị chư Phật giáo)



Người tốt khổ vì trong lòng còn có ác tâm

Chữ «Khổ» trong đạo Phật không chỉ là cảm giác khổ sở tại thân tâm, mà còn bao gồm cả những giao động rất nhẹ của sự Không Thỏa Mãn, Không Yên Ổn, hay còn gọi là Bất Toại Nguyện ở trong lòng.

Một người cảm thấy mình rất tu tâm tích đức, thường xuyên làm điều tốt, chả hại ai bao giờ, ấy vậy mà cuộc đời mãi cứ long đong vất vả, không được bằng bạn bằng bè, một lần lên chùa vãn cảnh, quá buồn cho phận đời mình liền tiến đến hỏi một vị sư:

Thưa thầy, vì sao con sống tốt, sống thiện, mà đời con cứ khổ mãi chưa thấy khá lên?

Vị thầy thong thả hỏi lại: «− Con nói con khổ, hãy nói rõ cho ta biết nỗi khổ của con là gì?»

«− Thưa thầy, con thấy mình sống tốt mà cuộc sống vẫn khổ sở, trong khi bao kẻ gian ác, làm ăn giả dối lại sống thoải mái quá vậy? Con biết thầy sẽ nói con có ác tâm, nhưng thực tình con không hề làm điều ác, con sống đúng lời Phật dạy!»

Sư thầy bình tĩnh trả lời: «− Nếu con nghĩ mình có ác tâm, rằng trong lòng con còn có gì đó sai, thì con sẽ sửa chính mình. Còn khi con phủ nhận điều đó, thì con chỉ lo sửa thế giới, sửa người xung quanh, mà có thể sửa được thế giới không?

«Hiện nay con sống đầy đủ, có cơm ăn áo mặc, thân thể mạnh khỏe không bệnh tật, để tồn tại được con chỉ cần những thứ đó thôi là đủ. Thế nhưng con lại muốn muốn nhiều hơn cái mình cần, đó gọi là Tham.

«Con thấy người khác làm điều ác mà sống sung sướng giàu có, nổi giận với họ, đó gọi là Sân.

«Con nghĩ rằng chỉ cần sống tốt là sẽ được giàu có sung sướng mà không hiểu rằng phải đủ nhân quả việc đó mới xảy ra. Không hiểu về nhân quả, không hiểu về sự thật, đó gọi là Si.

«Con nghĩ mình sống lương thiện, còn người khác sống ác, con so sánh mình hơn họ, còn họ kém con, đó là tâm Mạn (kiêu ngạo).

«Con so sánh cuộc sống của mình với người khác, lại sinh ra ghen tị, đó gọi là Nghi (đố kị).

«Ngũ Độc của nhà Phật có “Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi” thì trong con có đủ, hỏi cuộc sống có thể an nhàn hạnh phúc được hay không?

«Con không nhận ra mình có ác tâm là do con không chịu quan sát kĩ nội tâm của mình mà thôi.»


«− Vậy con nên làm thế nào?»

«− Khi con cảm thấy buồn vì cuộc đời bất công, đó là dấu hiệu của việc con đã nghĩ quá nhiều cho mình. Thay vì lên chùa vãn cảnh chạy trốn ác tâm nổi lên trong lòng, con hãy đối diện với nó để nhận ra sự thật về Nhân Quả, và hãy bớt nghĩ cho mình đi để quan tâm đến nỗi khổ của người khác nhiều hơn.»

Nhân Quả là một cơ chế tự cân bằng của thế giới, bạn không thể sửa thế giới được, thứ duy nhất bạn có thể sửa là nội tâm của chính mình mà thôi. Nên khi thấy mình hay ai đó sống khổ sở, thay vì đổ lỗi cho sự bất công của cuộc đời, thì hãy hiểu rằng đó là cách mà thế giới tự cân bằng. Và hãy liên tục gieo nhân đúng đắn, bởi chỉ có hành động tốt mới mang lại quả tốt về sau.


·       Nguồn tham khảo:
Kinh Pháp Cú (NXB Tôn Giáo), Lý học Đông Phương, Tinh Hoa

Share:

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2019

Những khó khăn của Việt Nam hiện nay



Những khó khăn của Việt Namhiện nay

Diệu Hằng

Nữ Bác Sĩ Diệu Hằng, tác giả bài này, đã bị đương quyền cộng sản Việt nam bắt giam vì bài viết dưới đây:

  
Sự kiện nhân dân Venezuelanổi dậy cùng với Đảng Dân Ý của ông Juan Guiado lật đổ chế độ độc tài Maduro mấy ngày qua đang là sự kiện nóng hổi lôi kéo sự chú ý cả toàn thế giới.

Dù là chính phủ lâm thời của ông Juan Guiado vẫn chưa được ổn định vì sẽ còn đối mặt rất nhiều khó khăn trước mắt, nguy cơ khó khăn nhất là sự «giãy chết» của cựu Tổng thống độc tài Maduro, chắc chắn là Maduro sẽ tìm mọi cách gây biến động và Chính phủ ông Juan Guiado phải đối phó mọi mặt, nhưng bù lại, họ có sự trợ giúp từ Quốc Tế, cụ thể là Hoa Kỳ. Khó khăn kế tiếp là Juan Guiado tiếp nhận một đất nước đã bị tàn phá về kinh tế nặng nề, việc sắp xếp các phe phái chính trị và kiến thiết lại quốc gia sẽ không dễ dàng cho ông.


Nhưng dù sao, kiến thiết quốc gia vẫn sẽ dễ dàng hơn là quá trình lật đổ cả một chế độ độc tài, những khó khăn đó họ còn vượt qua được thì việc kiến thiết quốc gia họ sẽ cùng nhau xây dựng lại nhanh chóng mà thôi. Tuy chưa chính thức nhưng chúng ta vẫn chúc mừng cho Venezuela sẽ có một tương lai tươi sáng.

Việt Namthì sao?


Rất nhiều người nhìn về Venezuela rồi tự nhiên so sánh với Việt Nam, sự so sánh hiển nhiên bởi vì trong mỗi con người Việt Nam, họ khao khát điều đó, khao khát tự do, dân chủ.

Ở đây, chúng ta nhìn thấy sự khó khăn của Việt Nam so với Venezuela thế nào?

Nhìn bề ngoài, có lẽ đa số sẽ nghĩ hiện tình ở Việt Nam dù sao cũng tốt hơn Venezuela, ít nhất kinh tế Việt Nam vẫn chưa kiệt quệ đến nỗi người dân phải bới thùng rác tìm thức ăn, ít nhất Chính trị Việt Nam vẫn chưa xảy ra bạo lực khắp nơi, ít nhất Việt Nam vẫn chưa xảy ra tình trạng hàng triệu người phải di dân sang các nước lân cận,...


Đúng vậy, nhìn bề ngoài thì như thế, có vẻ Việt Nam chưa khánh kiệt như Venezuela. Thế nhưng, người viết nói rằng, Việt Namso với Venezuelasẽ khó khăn nghiêm trọng hơn nhiều, nguy hiểm hơn nhiều thì quý vị nghĩ sao? Và tại sao như vậy?

Muốn hiểu rõ những điều này, chúng ta hãy nhìn vào cơ chế chính trị của hai quốc gia.

Thứ nhất, đối với Venezuela, mặc dù suốt gần hai trăm năm kể từ khi độc lập, đã trải qua các chế độ chính trị không thật sự là dân chủ nhưng họ vẫn duy trì được đa đảng, vẫn duy trì đảng đối lập, mặc dù đảng cầm quyền độc tài, nhưng ít nhất, người dân của họ cũng đã có ý thức về dân chủ, có ý thức đấu tranh chống độc tài. Còn ở Việt Nam, Miền Bắc đã trải qua hơn 73 năm và Miền Nam hơn 43 năm dưới ách cai trị của cộng sản, chỉ có độc đảng cầm quyền, lại bị tuyên truyền, nhồi nhét ý thức hệ của cộng sản, mặc khác, phong trào đấu tranh dân chủ bị đàn áp triệt để cho nên hầu như người dân Việt Nam đã muốn tê liệt và mất ý chí đấu tranh. Đây là yếu tố quan trọng nhất làm cho công cuộc đấu tranh ở Việt Nam rất khó khăn.


Thứ hai, sự tê liệt của Venezuela chủ yếu là do tê liệt về kinh tế hơn là về chính trị. Bởi vì đảng cầm quyền Venezuela độc tài và tham tàn, cho nên họ duy trì chính sách thâu tóm quyền lợi kinh tế, bóp nghẹt sự phát triển kinh tế tư nhân, nạn tham nhũng tràn lan làm cho kinh tế lâm vào khủng hoảng, thời kỳ thịnh vượng của họ chẳng qua phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ rất lớn. Venezueladuy trì đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa và kết cục chúng ta đã thấy. Còn Việt Nam, về kinh tế, cũng duy trì đường lối độc tài, thâu tóm quyền lợi kinh tế quốc gia về cho đảng cầm quyền, lại thêm sự độc tài toàn trị về chính trị làm cho nhân dân Việt Nam phải chịu nhiều tầng áp bức, nghèo nàn về kinh tế, ngạt thở về chính trị làm cho sự nhận thức u tối đi.

Thứ ba, ý thức và tư tưởng rất quan trọng cho sự phát triển và phát huy tiềm năng của con người, thế nhưng dưới chế độ cộng sản, ý thức và tư tưởng hầu như bị triệt tiêu, chúng giáo dục công dân đi theo một đường lối duy nhất do chúng đưa ra, nhồi nhét công dân trở nên u tối, có lẽ công dân venezuela vẫn còn may mắn hơn công dân Việt Nam vì họ không bị nhồi sọ để trở nên vô cảm, thờ ơ với chính trị.


Thứ tư, Venezuelagiống như hầu hết các quốc gia Nam Mỹ, là một quốc gia theo Công giáo Rôma. Ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo ở nước này có từ thời thực dân Tây Ban Nha. Theo ước tính của chính phủ, 92% dân số trên danh nghĩa là tín hữu Công giáo Rôma, và còn lại 8% là Tin Lành, các tôn giáo khác, hoặc vô thần. Chúng ta có thể thấy, gần 100% công dân các quốc gia này có tôn giáo rất phát triển, vậy nên công dân họ được giáo dục tốt, có đức tin và đạo đức cũng sẽ không suy thoái như cộng sản chủ trương vô thần. Đạo đức là một đức tính quan trọng để chấn hưng Nhân Khí cho mỗi quốc gia.

Thứ năm, một yếu tố cực kỳ nguy hiểm mà Venezuela không bị như Việt Nam đó là sự xâm lược, muốn đồng hóa giống nòi của Trung cộng. Lịch sử dân tộc đã chứng minh, Trung Quốc không bao giờ từ bỏ dã tâm chiếm lấy và đồng hóa Việt Nam vì chúng cho rằng Việt Nam là một phần của chúng và Việt Nam phải thu về mẫu quốc. Đây là dã tâm muốn diệt tận gốc giống nòi Lạc Việt và đồng hóa trở thành Hán Trung. Người viết đã khóc khi đọc qua những tài liệu lịch sử ghi chép về sự dã tâm của Trung Quốc muốn diệt chủng nòi Việt của chúng ta. Nếu quý vị có tinh thần Dân Tộc, quý vị sẽ thấy, sự nghèo đói, sự ô nhiễm môi trường, sự đàn áp cướp bóc, ...tất cả điều gây đau khổ cho nhân dân, nhưng tất cả những điều đó nó không là gì so với sự diệt chủng giống nòi Lạc Việt của chúng ta. Và Trung Quốc vẫn đang làm điều đó dưới sự tiếp tay ngu dốt của ĐCS. Vậy nên, tình hình của chúng ta nguy cấp hơn so với các quốc gia khác.


Quý vị có thể nhìn thấy, Việt Namthật sự đang đối mặt khó khăn hơn bất cứ quốc gia cộng sản nào, thế nhưng có thể nói tinh thần đấu tranh của người Việt Nam lại kém cỏi nhất. Bởi vì tầng lớp đáy tầng chiếm hơn 70% dân số nhưng kiến thức chính trị của họ rất thấp, bởi vì nghèo nàn làm họ phải bươn chải kiếm sống, lại thêm sự nhồi nhét đường lối của CS làm cho họ thờ ơ tìm hiểu về chính trị. Tầng lớp trung lưu trí thức chiếm tỷ lệ ít hơn (khoảng 20%) có tư tưởng tìm hiểu chính trị nhưng họ cũng chưa dứt khoát bày tỏ quan điểm của họ. Còn lại là đảng viên đảng CS. Việt Nam ví như con sóng ngầm dữ dội đang bị kiềm nén chứ không phải yên bình như bề ngoài giả tạo của nó.


Những khó khăn là vậy, hiểu được nó để xác định được chúng ta cần làm gì là chính yếu, và làm như thế nào. Vạn sự điều có lối đi, mọi con đường đều sẽ đến La Mã. Muốn bớt gian nan thì tìm đường thuận lợi mà đi, không tìm được thì phải đi con đường khó khăn hơn, còn nếu không muốn đi thì mọi con đường sẽ đóng lại.

Không có gì cao xa cả, vạn vật trong vũ trụ đều có quy luật vận hành của nó, quan trọng là thấy được nó, hiểu được nó và muốn đi theo sự vận hành của nó hay không là do chúng ta!

January 26, 2019.
Diệu Hằng

Share:

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

TN7a - Tinh thần công bằng và yêu thương Kitô giáo




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 7 Thường Niên

(24-2-2019)


Tinh thần công bằng và yêu thương Kitô giáo



ĐỌC LỜI CHÚA

  1Sm 26,2.7-9.12-13.22-23: (8) Ông Avisai nói với ông Đavít: «Hôm nay Thiên Chúa đã nộp kẻ thù của cậu vào tay cậu. Bây giờ, xin cho cháu dùng giáo ghim nó xuống đất, một nhát thôi; cháu không cần đâm nhát thứ hai». (9) Ông Đavít nói với ông Avisai: «Đừng giết vua! Có ai tra tay hại đấng Đức Chúa đã xức dầu tấn phong mà vô sự đâu!».

  1Cr 15,45-49: (48) Những kẻ thuộc về đất thì giống như kẻ bởi đất mà ra; còn những kẻ thuộc về trời thì giống như Đấng từ trời mà đến.

  TIN MỪNG: Lc 6,27-38

Yêu thương kẻ thù

(27) «Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, (28) hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. (29) Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. (30) Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. 

(31) Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. (32) Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. (33) Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. (34) Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. 

(35) Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.

Phải có lòng nhân từ

(36) «Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. (37) Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. (38) Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy».




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Giới bụi đời, dân giang hồ chủ trương «ân đền oán trả», đó có phải là luật công bằng không? luật này có tốt không? Ta đã sống khá hoàn hảo luật này chưa?

2. Sự công bằng mà Đức Giêsu chủ trương, có phải là công bằng kiểu «ân đền oán trả» không? hay Ngài chủ trương không công bằng? Thứ công bằng của Ngài là công bằng gì?

Suy tư gợi ý:

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Đức Giêsu đưa ra hai cách hành xử: một là hành xử dựa trên luật công bằng không tình thương của phường tội lỗi, và hai là hành xử dựa trên luật yêu thương của người môn đệ Chúa.


1.  Luật công bằng thiếu tình thương của phường tội lỗi

Theo Đức Giêsu, cách hành xử thường tình của những người thu thuế hay phường tội lỗi là «yêu thương kẻ yêu thương mình», «làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình», «cho vay để được trả lại sòng phẳng». Như vậy, dù là người tội lỗi, họ vẫn chủ trương luật công bằng, sòng phẳng, trong cả chuyện yêu thương, nghĩa là ai yêu thương mình, thì mình phải yêu thương lại người ấy. Vì thế, họ chỉ yêu thương người thân hay bạn bè mình mà thôi, vì yêu những người ấy thì họ sẽ được yêu lại. Họ đòi hỏi: «Có qua có lại mới toại lòng nhau».

Một cách tương tự, giới giang hồ, bụi đời ở khắp nơi đều chủ trương «ân đền, oán trả». Mang ơn ai, thì họ nhất quyết phải biết ơn và đền ơn người ấy. Họ gây oán hay làm thiệt hại ai, thì theo luật giang hồ, họ sẵn sàng bồi thường cho người ấy. Còn ai gây oán hay gây bất công cho họ, thì họ cũng sẵn sàng trả thù, nghĩa là phải tạo thiệt hại trở lại một cách tương xứng cho kẻ đã gây thiệt hại cho mình. Họ chủ trương không khác gì luật Cựu ước: «Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết bầm đền vết bầm, vết thương đền vết thương» (Xh 21,24).

Theo Đức Giêsu, phường tội lỗi hay gian ác đều hành xử như thế. Nếu ta cũng hành xử như thế thì ta có hơn gì họ đâu? Còn nếu ta gây bất công, làm thiệt hại người khác mà không đền bù, sống thiếu công bằng (cho dù là thứ công bằng không tình thương), v.v… thì ta còn xấu xa và tệ hại hơn họ nữa. Hạng người tội lỗi mà còn tôn trọng luật công bằng, nếu ta không tôn trọng luật ấy thì ta thật không đáng được gọi là Kitô hữu, là người theo Chúa. Thế mà khá nhiều người lỗi luật công bằng hằng ngày nhưng vẫn vỗ ngực tự hào mình theo Chúa, mình là môn đệ Chúa!



2.  Luật công bằng và yêu thương của người Kitô hữu

Là người Kitô hữu, là môn đệ Đức Giêsu, nếu ta tự cho rằng mình không thuộc hạng người tội lỗi, thì ít ra ta cũng phải giữ được khá hoàn chỉnh những luật mà chính hạng tội lỗi cũng tôn trọng, đó là luật công bằng. Luật công bằng là luật tối thiểu, là luật nền tảng trong xã hội mà chính người xấu cũng chủ trương phải tuân giữ, huống gì những người tự cho mình là tốt.

Nhưng người Kitô hữu không thể tự hài lòng khi mình chỉ giữ được những luật tối thiểu ấy. Đức Giêsu mời gọi những kẻ theo Ngài phải đi xa hơn sự công bằng đó, vì nếu không đi xa hơn thì ta có hơn gì hạng tội lỗi, vì chính họ cũng chủ trương sự công bằng và có thể thực hiện được sự công bằng ấy. Nhưng cho dù có chủ trương và thực hiện được luật ấy, họ vẫn bị liệt vào hàng tội lỗi.

Theo lập luận của Đức Giêsu, nếu ta chỉ giúp đỡ những người mà ta biết họ sẽ giúp đỡ lại ta, chỉ cho vay những ai ta nghĩ là sẽ hoàn trả lại ta, còn nếu cho ai vay mà người ấy không trả được thì ta bực tức, nói xấu, dùng đủ mọi biện pháp để đòi cho bằng được, bất chấp họ bị kẹt, v.v… nếu chỉ hành xử được như thế thì ta tốt hơn hạng tầm thường hay tội lỗi ở chỗ nào? Vì kẻ tầm thường và tội lỗi cũng hành xử y như thế!

Điều quan trọng mà người Kitô hữu – tức những người theo Chúa – phải làm là có tình thương đích thực. Tình thương luôn luôn vượt khỏi sự công bằng thường tình. Nghĩa là: để là một Kitô hữu đích thực, thì một đằng phải luôn giữ luật công bằng một cách hoàn hảo đối với người khác, một đằng phải thực hiện tình thương. Tình thương khiến chúng ta không đòi hỏi những người nghèo khó hơn, những người lâm cảnh khó khăn hơn mình phải giữ sự công bằng như thế đối với mình. Nghĩa là «hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả» (Lc 6,35). Không đòi hỏi như thế không phải là không công bằng, mà là thực hành một thứ công bằng cao hơn: công bằng có tình thương.



3.  Công bằng có tình thương

Công bằng có tình thương khác với thứ công bằng máy móc, là công bằng thiếu tình thương. Thứ công bằng có tình thương là thứ công bằng mà ta vẫn áp dụng trong nội bộ gia đình chúng ta. Trong gia đình, chúng ta có thể tốn rất nhiều tiền cho đứa con tàng tật, tốn cho nó hơn tất cả mọi người khác –vì tiền thuốc thang, vì phải ăn uống cách đặc biệt– đang khi chính nó không làm ra tiền và cũng chẳng làm được gì. Những cha mẹ có tình thương đích thực sẽ thương những đứa con tàn tật hoặc hư đốn một cách đặc biệt và sẵn sàng hy sinh cho chúng nhiều hơn những đứa con khác. Đó chính là công bằng có tình thương, thứ công bằng «làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu».

Phân phát của cải cho người giầu và người nghèo, người cần ít và người cần nhiều, theo cùng một tiêu chuẩn như nhau, thì đúng là công bằng, nhưng là một thứ công bằng thiếu tình thương, và một cách nào đó không hợp lý. Người giầu mà đòi người nghèo cũng phải sòng phẳng với mình trong vấn đề vật chất tiền bạc, thì đúng là theo luật công bằng, nhưng không phải là thứ công bằng mà Đức Giêsu chủ trương. Ngài chủ trương: «Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy» (Lc 6,29-30).

Có những chế độ xã hội chủ trương thứ công bằng này –là «làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu»– nhưng không thực hiện nổi. Chính Đức Giêsu Chúa chúng ta cũng chủ trương thứ công bằng này khi tuyên bố: «Khi đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế bạn mới thật có phúc» (Lc 14,13-14). Vì thế, đây là thách đố đối với người Kitô hữu. Nếu chúng ta không thực hiện nổi thứ công bằng này trong đời sống chúng ta –ít nhất là giữa Kitô hữu với nhau, hay ít hơn nữa là giữa đám thân nhân bạn bè thân quen của mình– thì một cách nào đó, chúng ta đang chứng tỏ điều Đức Giêsu chủ trương cũng không tưởng như chủ trương của những chế độ xã hội không tưởng kia.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con vẫn tự hào mình là Kitô hữu, nhưng rất nhiều khi con lại chủ trương và ủng hộ một thứ công bằng không tình thương. Xin cho con một trái tim bằng thịt biết yêu thương, để con sống công bằng với mọi người, nhưng là thứ công bằng có tình thương, thứ công bằng mà Đức Giêsu chủ trương như trong bài Tin Mừng hôm nay. Amen.


Share:

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

Phương pháp thần kì của Đạt Ma Sư Tổ chữa bách bệnh ngay cả ung thư thời kỳ cuối






Phương pháp thần kì của Đạt Ma Sư Tổ chữa bách bệnh ngay cả ung thư thời kỳ cuối



Năm Đinh Sửu (theo công lịch là năm 917) nhà sư Đạt MA từ Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp, truyền giáo rồi ở lại Trung Sơn, Hà Nam (của Trung Hoa) xây dựng Thiếu Lâm Tự (Chùa Thiếu Lâm). Việc truyền tụng một tín ngưỡng mới, khác với niềm tin cũ của người bản sứ, thường dễ sảy ra mâu thuẫn, xung đột nên các đệ tử của Ông vừa lo tu dưỡng, học Phật pháp, vừa phải ra công luyện tập võ nghệ để tự vệ. Từ đó môn võ Thiếu Lâm ra đời và tồn tại mãi đến ngày nay.
Nhiều người xin nhập môn nhưng thể chất kém không thể luyện võ được. Sư Tổ Đạt Ma bèn dạy cho một cách tập luyện để nâng cao thể lực gọi là Dịch Cân Kinh.
«Dịch – thay đổi, Cân – gân cốt, Kinh – sách quí»
Cách tập này rất đơn giản, chỉ cần kiên trì tập vẩy tay đứng phương pháp là sẽ đạt hiệu quả rất lớn: ăn ngon, ngủ tốt, sức khỏe tăng và đặc biệt là trừ được bệnh tật như: suy nhược thần kinh, cao huyết áp, hen xuyễn, các bệnh tim mạch, các bệnh dạ dày, đường ruột, thận, gan, ống mật, trĩ nội … rồi bán thân bất toại, trúng gió méo mồn lệch mắt, … đều biến hết
Nhất là các loại bệnh mãn tính của người cao tuổi, kể cả các loại ung thư đều có thể phòng và trị được. Với các bệnh về mắt, luyện Dịch Cân Kinh có thể chữa khỏi các chứng đau mắt thông thường, đau mắt đỏ và cả đục thủy tinh thể (thông manh)

Tại sao mà kì diệu đến vậy?
Theo y lý cổ truyền Phương Đông, mọi bệnh tật đều do mất cân bằng «âm – dương» và trì trệ khí huyết mà ra. Khí huyết của ta vừa các Vệ Sĩ tiêu trừ các yếu tố đọc hại từ ngoài xâm nhập, vừa là Nhà Quản Lý sắp sếp lại nhưng chỗ mất cân bằng.
Y học Phương Đông rất coi trọng vai trò của ý chí, của chủ quan, của nội lực, của chữ «TÂM». Lo lắng, Bực bội, Không tin tưởng, Độc ác, … đều tác dụng xấu tới sức khỏe. Thanh thản, Hướng thiện, Nhân đức, … vừa mang lại sảng khoái, thăng bằng, mạnh khỏe, vừa dễ cả phòng bệnh lẫn chữa bệnh. Thuốc thang Đông y chỉ kích thích, bổ trợ cho nội lực của chúng ta chống lại bệnh tật. Trái lại, ỷ vào hóa dược của «y học hiện đại» (như dựa vào quân đội ngoại quốc làm lính đánh thuê) thường có tác dụng phụ không mong muốn, nguy hại cho sức khỏe và tuổi thọ!
Tâp chung đầy đủ ý chí và tinh thần để kiên trì tập luyện theo ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH là làm cho khí kuyết lưu thông đều khắp cơ thể, vào cả lục phủ ngũ tạng, các hệ mạch lạc thần kinh … nên có tác dụng kỳ diệu vậy đó !

PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP
«VẨY TAY ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH»
Trước tiên nói về tinh thần:
Phải có hào khí: nghĩa là có quyết tâm tập cho đến nơi và đều đặn, kiên nhẫn, vững vàng tin tưởng, không nghe lời bàn ra tán vào mà bỏ dở.
Phải lạc quan: không lo sợ vì bệnh mà mọi người cho là hiểm nghèo, và tươi tỉnh tin rằng mình sẽ thắng bệnh do luyện tập.

TƯ THẾ : «Trên không, dưới có, lên ba, xuống bảy»
Trên phải không, dưới nên có. Đầu nên lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm dẻo, cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm, bàn tay quay lại phía sau, ngón tay xòe như quạt. Khi vẫy, lỗ đít phải thót, bụng dưới thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, ngón chân bấm chặt đất như trên đất trơn. Đây là những quy định cụ thể của các yêu lĩnh khi luyện «Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh».
Dựa trên yêu cầu này, khi tập vẫy tay, thì từ cơ hoành trở lên, phải giữ cho được trống không, buông lỏng thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý tập chung vào tập, xương cổ cần buông lỏng để cho có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhiên (không mím môi), ngực nên buông lỏng để cho phổi thở tự nhiên, cánh tay buông tự nhiên, giống như hai mái trèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc, đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bấm chặt vào mặt đất, giữ cho đùi và bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương mông thẳng như cây gỗ.
Khi vẩy tay cần nhớ «lên không, xuống có», nghĩa là lấy sức vẩy tay về phía sau, khi tay trở lại phía trước là do quán tính, không dùng sức đưa ra phía trước.
«Trên ba, dưới bảy» là phần trên để lỏng chỉ độ 3 phần khí lực, phần dưới lấy gắng sức tới bảy phần thể lực, vấn đề này phải quán triệt đầy đủ thì hiệu quả mới tốt.
Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi chỉ nhẩm đếm lần vẫy tay.

CÁC ĐỘNG TÁC TẬP CỤ THỂ:


1. Hai bàn chân để xích ra bằng khoảng cách của hai vai.
2. Hai tay duỗi thẳng theo vai, ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay về phía sau.
3. Bụng dưới thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu và miệng trạng thái bình thường.
4. Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và đùi căng thẳng.
5. Hai mắt chọn một điểm đằng xa để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào ngón chân bám, đùi vế chắc, lỗ đít thót và nhẩm đếm.
6. Dùng sức vẫy tay về phía sau, để hai tay trở hai phía trước theo quán tính, tuyện đối không dùng sức, chân vẫn lấy ân, hậu môn co lên không lòi.
7. Vẩy tay từ 300-400-500-600 dần dần lên đến 1000 cái vẩy tay, ước chừng 30 phút.
8. Phải có quyết tâm tập đều đặn, lần vẩy tay tăng dần lên, không miễn cưỡng vì «dục tốc bất đạt», nhưng cũng không tùy tiện bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì thế dễ làm mất lòng tin trong việc luyện tập, như vậy khó có kết quả.
Bắt đầu luyện tập cũng không nên dùng hết sức làm tổn thương các ngón chân. Sau buổi luyện tập nên vê vê các ngón chân, tay, mỗi ngón chín lần.
Nôn nóng mong muốn khỏi bệnh ngay mà dùng quá sức cũng không đưa lại kết quả mong muốn.
Có quyết tâm, nhưng phải từ từ tiến lên mới đúng cách, sẽ thu được kết quả mỹ mãn.
Nếu tinh thần không tập chung, tư tưởng phân tán, khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến «trên nhẹ, dưới nặng» là sai và hỏng.
Khi vẩy tay tới 600 cái trở lên, thường thường có trung tiện « đánh rắm
», hắt hơi, hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng … đấy là hiện tượng bình thường, có phản ứng là tốt, là đã có hiệu quả, đừng ngại.
Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên, đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với «trên nhẹ, dưới nặng». Đây là quy luật của sinh lý hợp với vũ trụ «thiên khinh địa trọng».

Bệnh gan:
Do khí huyết, tạng gan không tốt gây nên khí không thoát, tích lũy, làm cho khó bài tiết. Đương nhiên là bệnh nan y ảnh hưởng tới cả mật và tì vị. Luyện «Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh» có thể giải quyết vấn đề này. Nếu sớm có trung tiện là có kết quả.

Bệnh mắt:
Luyện «Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh» có thể khỏi đau mắt đỏ, các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí nó có thể chữa được cả bệnh đục thủy tinh thể (thông manh).
Trong nội kinh có nói «mắt nhờ huyết mà nhìn được», khi khí huyết không dẫn đến bộ phận của mắt thì đương nhiên sinh ra các bệnh của mắt. Con mắt là trong hệ thống của thị giác, nhưng cũng là bộ phận của cơ thể.

NHỮNG PHẢN ỨNG
Khi tập «Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh» có thể có những phản ứng, đều là hiện tượng thải bệnh, không đáng ngại. Xin liệt kê ra đây 34 phản ứng thông thường (có thể có những phản ứng khác nữa không liệt kê hết được).
1. Đau.
2. Buốt.
3. Lạnh.
4. Đầy hơi
5. Ngứa
6. Tê dại
7. Nóng.
8. Ra mồ hôi.
9. Đau lưng
10. Đầu nặng.
11. Nấc.
12. Nôn mửa,ho.
13. Lông, tóc dựng đứng.
14. Giật gân, giật thịt.
15. Âm nang (bìu dái) to lên.
16. Máy mắt, mí mắt giật.
17. Hơi thở ra nhiều, thở dốc.
18. Trung tiện (đánh rắm).
19. Huyết áp biến đổi.
20. Sắc mặt biến đổi.
21. Chảy máu cam.
22. Đau mỏi toàn thân.
23. Ứa nước miếng.
24. Tiểu tiện nhiều.
25. Đại tiện ra máu, mủ hoặc phân đen.
26. Có cảm giác như kiến bò, hoặc kiến cắn.
27. Đau xương, có tiếng kêu lục cục.
28. Có cảm giác máu chảy dồn dập.
29. Ngón chân nhức nhối như mưng mủ.
30. Cụm trắng ở lưỡi biến đổi.
31. Da cứng và da dầy (chai chân, mụn cóc) dụng đi.
32. Trên đỉnh đầu mọc mụn.
33. Bênh từ trong da thịt tiết ra.
34. Ngứa từng chỗ hay toàn thân.


Các phản ứng trên là do trọc khí trong người bi bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ chất ứ đọng, tức tử bệnh tật.
Có phản ứng là có sự xung đột giữa chính khí và tà khí. Ta vẫn tiếp tục tâp vẩy tay sẽ sinh sản ra chất bồi bổ, có nhiều ích lợi cho chính khí. Ta luyện tập đúng phép là làm tăng mức đề kháng, thải cặn bã trong các gân, thần kinh và cả tế bào khác mà máu thường không thải nổi. Khi luyện «Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh» khí huyết lưu thông mới thải nổi cặn bã ra, nên sinh ra phản ứng. Vậy ta đừng sợ, cứ tiếp tục tập như thường, hết một phản ứng là khỏi một căn bệnh, tập luyện dần dần đưa lai kết quả tốt.

BỐN TIÊU CHUẨN
Luyện «Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh» đạt được bốn tiêu chuẩn như sau:
Nội trung tố: tức là nâng can khi lên, là then chốt, điều chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết, thanh khí sẽ thông suốt lên tới đỉnh đầu.
Tứ trưởng tố: tức là tứ chi phối hợp với động tác theo đúng nguyên tắc khi tập «Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh».Tứ trưởng tố song song với Nội trung tố sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trọc khí dắn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.
Ngũ tâm phát: nghĩa là 5 trung tâm của huyệt dưới đây họat động mạnh hơn mức bình thường:
* Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu.
* Lão cung: hai huyệt của hai gan bàn tay.
* Dũng tuyền: hai huyệt của hai gan bàn chân.
Khi luyện «Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh» 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt. Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tời hiệu quả phi thường, nó làm tăng cường thân thể tiêu trừ các bệnh nan y mà ta không ngờ.
Lục phủ minh: Lục phủ là ruột non, mật, dạ dày, ruột già, bong bóng, tam tiêu. Minh nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn tiêu hóa và bài tiết được thuận lợi, xúc tiến các cơ năng sinh sản, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể, tức là âm dương cân bằng, cơ thể thịnh vượng.

MỘT SỐ ĐIỂM CẨN CHÚ Ý
Số lần vẩy tay không nên ít: từ 600 lần đến 1.800 lần (30 phút mới là toại nguyện cho đợt điều trị).
Bệnh nhân nặng, có thể ngồi mà vẫy tay, tuy ngồi nhưng vẫn phải nhớ thót đít và bấm 10 ngón chân
Số buổi tập:
* Buổi sáng thanh tâm -> tập mạnh.
* Buổi chiều trước khi ăn -> tập vừa.
* Buổi tối trước khi ngủ -> tập nhẹ.
Có thể tập nhiều nhất là bao nhiêu ? Ngưỡng cửa của sự chuyển biến bệnh là 1.800 lần vẫy tay, có bệnh nhân vẫy 3.000 tới 6.000. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon, ngủ tốt, đại tiểu tiện điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ con số ta tập là thích hợp.
Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm, chứ không nên nhanh. Bình thường vẫy 1.800 cái hết 30 phút. Vẫy tay tới lúc nửa trừng thường nhanh hơn lúc ban đầu một chút, đây là lục động của khí. Khi mới vẫy rộng vòng và chậm một chút. Khi đã thuần thì hẹp vòng, người bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều, người bệnh nặng thì nên vẫy chậm và hẹp vòng.
Vẫy tay nhanh quá làm cho nhịp tim đập nhanh, mà vẫy chậm quá thì không đạt tới mục đích luyện tập là cần cho mạch máu lưu thông
Vẫy tay nên dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ ? Vẫy tay là môn thể dục chữa bệnh chứ không phải môn thể thao đặc biệt. Đây là môn thể dục mền dẻo, đặc biệt là không dùng sức. Nhưng nếu vẫy nhẹ quá cũng không tốt bởi vì bắp vai không được lắc mạnh thì lưng và ngực, cũng không được chuyển động nhiều tác dụng sẽ giảm.
Share: