Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2019

Chay3b - Khiêm nhường nhận lỗi mình thì đẹp lòng Thiên Chúa hơn là đạo đức mà tự mãn




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 3 Mùa Chay

(24-3-2019)

Khiêm nhường nhận lỗi mình
thì đẹp lòng Thiên Chúa
hơn là đạo đức mà tự mãn



  TIN MỪNG: Lc 13,1-9

Nếu không sám hối, thì sẽ chết hết



Câu hỏi gợi ý:
1. Ta nghĩ gì về những người thình lình bị tai nạn, về những người xấu số hơn ta, có phải họ bị Chúa phạt vì tội lỗi của họ không?

2.Thiên Chúa có hài lòng khi ta nhận ra rằng mình đạo đức hay thánh thiện hơn người không? Tại sao? 


Suy tư gợi ý:

1. Khi thấy ai bị tai nạn, đừng vội nghĩ họ bị Chúa phạt

Ngày xưa, khi thấy một người nào bị tai nạn khủng khiếp, người Do Thái thời ấy thường nghĩ rằng vì người ấy tội lỗi, nên bị Chúa phạt. Nhân xảy ra một vụ có nhiều người bị thảm sát, Đức Giê-su đã chỉnh lại quan niệm ấy. Theo Ngài, tất cả mọi người đều là người tội lỗi trước mặt Thiên Chúa, đều cần phải nhìn ra tội lỗi của mình và sám hối. Thánh Kinh có lời chép: «Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không; chẳng ai có lương tri, chẳng ai tìm kiếm Thiên Chúa» (Cv 3,10-11; xem Tv 14,1-3). Vì thế, trước Thiên Chúa, đừng ai tự hào mình công chính hơn người khác. Thiên Chúa rất ghét sự tự hào này (xem Lc 18,9-17). Đồng thời không nên phán đoán về giá trị đạo đức của người khác, nhất là không bao giờ nên kết án người khác, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới có khả năng xét đoán chính xác và được quyền kết án mà thôi. Đức Giêsu nói: «Đừng xét đoán để khỏi bị kết án» (Mt 7,1).

Tốt nhất, khi thấy ai bị tai nạn, ta không nên cho rằng người đó tội lỗi, đáng bị Chúa phạt. Biết bao người hiền lành, thánh thiện bị Chúa thử thách và thánh hóa bằng nghịch cảnh, bằng những tai ương dồn dập. Thánh vịnh nói: «Người hiền đức gặp nhiều bước gian truân» (Tv 34,20). Các Kitô hữu thời sơ khai, các thánh tử đạo, thường là những người hiền đức nhưng cuộc đời của họ nhiều khi gặp toàn nghịch cảnh, và có khi phải chết một cách thảm thiết, chẳng hạn rất nhiều Kitô hữu bị hoàng đế Nêrô cho sư tử xé xác và thiêu sống tập thể. Chính thánh Têrêxa Avila cũng gặp rất nhiều thử thách, đến nỗi ngài phải than với Chúa: «Bây giờ con mới hiểu tại sao Chúa lại quá ít bạn như thế, vì Chúa thường đối xử với bạn thân thiết của Chúa như thế này đây!». Thật vậy, Chúa thương ai nhiều thì thường thử thách người đó nhiều bằng đau khổ, vì đau khổ có khả năng thánh hóa rất cao. Do đó, không thể cứ thấy ai lâm hoạn nạn là ta nghĩ họ vì tội lỗi nên bị Chúa phạt.



2. Hãy nhận ra lỗi của mình, đừng tự hào rằng mình đạo đức

Thiên Chúa muốn chúng ta tự xét lỗi và nhận ra lỗi của bản thân mình hơn là xét lỗi và thấy lỗi của người khác. Thấy lỗi của người khác mà không thấy lỗi mình chỉ khiến ta phát sinh lòng kiêu ngạo, tự mãn, khinh người. Còn nhận ra tội lỗi hay yếu đuối của mình, sẽ giúp ta khiêm nhường, nhất là cảm thông được những yếu đuối và tội lỗi của người khác. Nếu vì những yếu đuối hay vì một số tội lỗi ta đã phạm mà ta trở nên khiêm nhường và thông cảm với người khác hơn, thì những yếu đuối hay tội lỗi ấy đúng là những tội lỗi hồng phúc. Vì Thiên Chúa đánh giá một người tội lỗi mà khiêm nhượng còn cao hơn một kẻ thánh thiện mà kiêu ngạo. Hạng trước có thể lên thiên đàng, còn hạng sau thì không bao giờ. Luxiphe ban đầu chắc hẳn thánh thiện hơn bất kỳ ai trong chúng ta, nhưng sự thánh thiện ấy trở thành vô giá trị khi đi đôi với tính kiêu ngạo và lòng tự hào. Tính kiêu ngạo phá hủy tất cả mọi nhân đức, mọi việc lành. Minh họa sau đây nói lên điều ấy:

Một người nổi tiếng đạo đức, sáng nào cũng dậy đi lễ và làm rất nhiều việc phúc đức khác, chỉ có điều đáng tiếc là ông ta tự hào rằng mình đạo đức hơn người vì đã làm được những việc tốt lành ấy. Một hôm, ông bị bệnh, và dự định sáng hôm sau sẽ không đi lễ. Nhưng sáng hôm sau, có người lạ mặt đến tận giường đánh thức ông dậy, bảo ông mau dậy đi lễ. Ông hỏi thì người ấy tự nhận mình là ma quỉ. Ông hỏi tại sao quỉ lại khuyến khích ông đi lễ thay vì theo lẽ thường là ngăn cản ông. Quỉ cho ông biết là cám dỗ ông đi lễ thì có lợi cho hỏa ngục hơn, và thiệt hại cho phần rỗi của ông hơn. Vì càng đi lễ nhiều thì ông càng tự hào mình đạo đức hơn người, và điều ấy làm cho ông bớt đẹp lòng Chúa hơn, thậm chí có thể làm ông trở thành đạo đức giả, làm gì cũng là để người khác ca tụng, nể phục. Đó là điều Chúa rất ghét.

Câu chuyện trên minh họa một sự thật, được Đức Giê-su nói đến trong dụ ngôn người thu thuế và người Pharisiêu lên đền thờ cầu nguyện (xem Lc 18,9-17). Người thu thuế tuy tội lỗi nhưng khiêm nhường thì làm Chúa hài lòng hơn người Pharisiêu tuy đạo đức nhưng lại tự kiêu.


3.Tinh thần khiêm nhường, sám hối  

Qua bài Tin Mừng này, ta thấy Đức Giêsu muốn ta có tâm tình sám hối thường xuyên, nghĩa là luôn khiêm nhường, ý thức được tình trạng yếu đuối, mỏng dòn, và tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa, để càng ngày càng cố gắng sống tốt đẹp hơn, mà vẫn luôn khiêm nhượng, không tự cho mình là hơn ai.

Thật vậy, trong cuộc đời ta, lúc nào ta cũng bị vướng vào một số khuyết điểm nào đó, khiến ta không bao giờ có thể tự hào mình hoàn toàn vô tội hay hoàn hảo, khiến ta luôn luôn có lý do để khiêm nhường, để sám hối trước mặt Chúa, để quyết tâm trở nên hoàn hảo hơn. Sự thánh thiện của ta không hệ tại tình trạng toàn hảo cho bằng tình trạng luôn luôn hướng về sự hoàn hảo đó, trong nhận thức rằng mình còn khiếm khuyết để rồi cố gắng hoàn hảo hơn nữa.

Nếu ta thật sự sống lý tưởng «nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo» (Mt 5,48), ta sẽ cảm thấy mình luôn luôn có lý do để sám hối, vì thấy mình còn xa mức đó lắm, vì thấy mình còn vướng nhiều khuyết điểm, tội lỗi, và còn phải sửa sai nhiều chuyện. Chính khi ta có tâm tình khiêm nhường sám hối như thế, không dám nghĩ rằng mình là thánh thiện, thì Cha trên trời lại đánh giá sự thánh thiện của ta rất cao. Ngược lại, chính khi ta tự hào mình là thánh thiện và cảm thấy không cần phải sám hối về điều gì, thì Ngài lại đánh giá sự thánh thiện của ta rất thấp. Mà chỉ có sự đánh giá của Ngài mới chân thực và có giá trị.

Thông thường, khi nghĩ tới sám hối, chúng ta chỉ nghĩ tới những hành vi sai trái, những tội lỗi ta đã phạm, và nhiều người trong chúng ta cảm thấy nghĩ hoài mà không thấy mình có lỗi gì, nghĩa là thấy mình vô tội, hoặc chỉ thấy mình có một vài khiếm khuyết nho nhỏ. Vì thế, ta cảm thấy không có nhu cầu phải sám hối, thậm chí còn nghĩ rằng mình đã thánh thiện lắm rồi, hoặc không mấy ai sống tốt lành được như mình. Nhưng nếu ta xét về những tội do thiếu sót, nghĩa là về những việc mà đáng lẽ ta phải làm nhưng ta đã không làm, thì người lành thánh tới đâu cũng khó tránh khỏi tội, nhất là về đức bác ái, là nhân đức bị Chúa xét tới nhiều nhất trong ngày phán xét.

Khi ta tự nhận ra mình còn nhiều thiếu sót, ta sẽ thấy mình luôn luôn cần phải cố gắng hơn nữa để tiến tới, nhờ đó ta sẽ tiến mãi. Nếu ta tự cho mình là công chính, thì đó là một ảo tưởng khiến ta tự mãn và đứng lại, không tiến tới nữa. Chính sự tự hào tự mãn ấy làm ta không đề phòng những cám dỗ, vì thế, ta có thể sa ngã bất cứ lúc nào. Vì trong thực tế, ta yếu đuối hơn ta tưởng rất nhiều, sự thánh thiện của ta mỏng dòn và bị lệ thuộc vào nhiều điều kiện thuận lợi ta đang có. Những điều kiện đó bị mất, có thể ta sẽ rơi vào tội lỗi ngay. Vì thế, bài đọc hai đã cảnh báo ta: «Ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12). Kinh nghiệm cho chúng ta thấy: có nhiều người đã từng nổi tiếng đạo đức hơn ta, thế mà nay đã sa ngã, bị thiên hạ liệt vào hạng người không tốt.




CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa, xin cho con luôn luôn nhận ra sự yếu đuối và bất toàn của con, đồng thời nhận ra mức độ thánh thiện hay đạo đức mà con đang có được chủ yếu là một hồng ân Chúa ban hơn là do con làm nên. Xin cho con một tinh thần sám hối, luôn luôn nhận ra những thiếu sót của mình để cố gắng hoàn thiện nhiều hơn nữa. Đừng bao giờ để con tự hào về mức độ hoàn thiện của mình. Amen.


Share:

Hầu Hết Chúng Ta Sai Lầm, Ảo Tưởng Về Những Người Xung Quanh!



Hầu Hết Chúng Ta Sai Lầm, Ảo Tưởng 
Về Những Người Xung Quanh!
Đại đức Hae Min là một nhà tu hành người Hàn Quốc, từng giảng dạy về tôn giáo tại trường đại học Hampshire, Massachusetts. Ông xuất gia theo tông phái Tào Khê, một tông phái tiêu biểu của Phật giáo Hàn Quốc. Tại quê hương, đại đức Hae Min là một người rất có ảnh hưởng tới giới trẻ. Trang twitter cá nhân của ông hiện có hơn một triệu người theo dõi.

Đại đức Hae Min: «Vào khoảnh khắc nhận ra ba điều này, tôi đã hiểu ra mình phải sống như thế nào thì mới có thể trở nên hạnh phúc».
1. Mọi người trên thế gian này không quan tâm đến ta nhiều như ta tưởng đâu! Đó là một sự thật!
Chúng ta thường mắc một sai lầm chung, đó là sống dựa vào đánh giá của người khác. Nhưng có một nghịch lý là đối với họ, ta lại không quan trọng – như ta nghĩ. Có thể đôi lời khen chê của họ làm ta bận tâm suốt một tuần, thậm chí ám ảnh đến vài tháng, nhiều năm. Ấy vậy mà khoảnh khắc quan trọng ấy của ta, trong mắt mọi người, chỉ là thoáng qua chốc lát. Rồi họ lại quay về với cuộc sống riêng, với vô số mối quan tâm riêng.
Lấy ví dụ về scandal của những người nổi tiếng chẳng hạn. Chuyện thường thấy là khi xảy ra scandal, với sao càng «hot», càng có nhiều người bình phẩm. Thử nghĩ xem giả sử bạn là một người tham gia bình phẩm, thì chuyện về ngôi sao đó chiếm bao lâu thời gian trong tâm trí của chính bạn? Nó có quan trọng với bạn không, hay chỉ là nói xong rồi quên và quan tâm đến vô số thứ thật sự làm bạn bận tâm trong cuộc sống của mình? Với người nổi tiếng đã vậy, thì với chính chúng ta liệu vấn đề, câu chuyện của ta có đủ «đặc sắc», «hấp dẫn» để lưu lại trong tâm trí người khác không? Đến đây chắc chúng ta đã có câu trả lời!
Ngày hôm nay bạn mặc một bộ đồ rất hợp với gu của số đông, nhiều người khen bạn. Nếu bạn vui vì được khen, thế thì khi bị chê vì mặc xấu bạn có buồn?
Đừng như vậy! Bạn không cần một niềm vui mong manh quá dễ tan biến đến thế trong cuộc đời – thứ niềm vui phụ thuộc vào người khác. Hãy đi tìm một nguồn vui lâu bền hơn, ít bị phụ thuộc vào bên ngoài hơn. Đó là niềm vui thực chất, từ bên trong tâm của chính bạn.
Đại đức Hae Min viết: «Trong 24 tiếng đồng hồ của một ngày, ta chỉ lo lắng cho người khác và chỉ trích người khác được một lát Rồi lại quay về với bản thân mình Như vậy trong suốt ngần ấy thời gian của cuộc đời Liệu có cần phải lo đến hình ảnh của mình trong mắt người khác hay không?» Đại đức Hae Min đã viết như vậy trong cuốn sách «Bước chậm lại giữa thế gian vội vã» (đã được dịch sang tiếng Việt).
2. Không cần phải khiến cho tất cả mọi người trên thế gian yêu quý mình.
Ngay cả Phật, Chúa còn không làm sao khiến cho cả thế gian yêu quý, thì bạn đừng giữ ảo vọng đó nữa! Tất nhiên cảm giác khi biết ai đó ghét mình thật không dễ chịu gì. Nhất là những người mình muốn được họ yêu quý. Nhưng sự thực là họ không hề yêu quý bạn, vậy là bạn sẽ buồn khổ, thậm chí là mang một nỗi đau?
Nhưng chính bạn cũng không thể yêu thích hết tất thảy mọi người cơ mà! Làm sao có thể yêu cầu một điều ngược lại?
Đại đức Hae Min viết: «Đó là tham vọng vượt quá giới hạn. Nếu ai đó ghét bạn, hãy nghĩ rằng đó là chuyện thường tình của thế gian. Và cho qua như không có gì cả». Vì việc tất cả mọi người đều yêu quý bạn là một điều không thể, nên hãy bớt dành năng lượng để khiến người ghét mình trở nên yêu mình, mà hãy mặc kệ rồi tiếp tục cuộc sống riêng của bạn. Xét cho cùng thì việc ai đó ghét bạn là vấn đề ở bản thân họ, chứ không phải do bạn.
3. Đừng chọn cho mình một cách sống quá khó khăn
Để mang đến hạnh phúc cho người khác, trước tiên bạn phải có hạnh phúc cho riêng mình. Như một cốc nước đầy, chỉ người có sẵn hạnh phúc mới có thể san sẻ hạnh phúc cho thế gian. Xét cho cùng, mọi điều chúng ta làm, phần lớn ở sâu thẳm bên trong, đều là vì chính mình, ngay cả những việc có vẻ như làm vì người khác: nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình, v.v… suy cho cùng cũng là để ta có một chỗ dựa, để ta cảm thấy an tâm. Và bởi vì mọi việc chúng ta làm thực chất đều vì chính mình được hạnh phúc, nên hãy cứ làm mọi điều mình thực sự muốn làm, chỉ cần điều đó không gây hại cho ai.
Đại đức Hae Min viết: «Vì bản thân ta phải hạnh phúc trước thì mới thấy thế gian này hạnh phúc Và phải như thế ta mới có thể làm cho thế gian hạnh phúc hơn nữa Tất cả chúng ta với cuộc sống này Loading… Đừng chọn cho mình một cách sống quá khó khăn» (Trích từ: Bước chậm lại giữa thế gian vội vã – Đại đức Hae Min)
Share:

Làm gì khi trẻ nổi nóng bướng bỉnh?



Làm gì khi trẻ nổi nóng bướng bỉnh?
Cách đơn giản này khiến cha mẹ bất ngờ:
Không cần khuyên bảo
Ngọc Hà
Là cha mẹ, chúng ta thường rất đau đầu khi những đứa con tỏ ra chán nản, bực bội hay có những yêu cầu vô lý. Chúng ta khuyên bảo, giảng giải nhưng chúng bướng bỉnh không chịu nghe, thậm chí còn hành xử tệ hơn.
Chuyên gia về giao tiếp giữa cha mẹ và con cái đưa ra một giải pháp đơn giản nhưng hiệu quả bất ngờ: công nhận cảm xúc của trẻ!
Trong cuốn sách bán chạy nhất được xếp hạng bởi Thời báo New York– «Nói sao cho trẻ chịu nghe & Nghe sao cho trẻ chịu nói», hai tác giả Adele Faber và Elaine Mazlish đã phân tích phản ứng của trẻ khi cha mẹ đáp lại cảm xúc buồn bực của chúng theo những cách khác nhau.
Phản xạ tự nhiên phổ biến của cha mẹ là khước từ cảm xúc của trẻ. Ví dụ: khi trẻ phàn nàn về việc thầy giáo gạch tên mình ra khỏi đội tuyển chỉ vì đi học muộn, bạn có xu hướng ngay lập tức «chỉnh» con rằng không được phép nổi khùng với thầy, rằng đó là lỗi của con, lẽ ra con phải đến đúng giờ chứ, v.v...
Thực ra, bạn đang dùng lý lẽ để giáo dục con, nhưng lại quên mất rằng khi trẻ đang trong tâm trạng buồn bực, cảm xúc sẽ lấn át lý trí và chúng khó có thể tiếp nhận giáo huấn gì. Khi phải nghe lời răn dạy, chúng có thể sẽ càng tức giận hơn, không kiềm chế nổi và nói hỗn với bạn. Bạn sẽ phát cáu vì đứa con «không biết phải trái», kết tội chúng, thế là hố sâu ngăn cách giữa cha mẹ và con cái càng ngày càng rộng ra.
Vì vậy, cách tốt nhất là: giúp trẻ xử lý cảm xúc của chúng. Sau khi bình tĩnh lại, chúng sẽ có thể tự tìm ra nguyên nhân và tháo gỡ vấn đề. Đến lúc này, những đạo lý làm người mới có thể được con trẻ tiếp thụ.

Hình ảnh minh hoạ từ cuốn sách
«Nói sao cho trẻ chịu nghe & Nghe sao cho trẻ chịu nói»
của Adele Faber và Elaine Mazlish
Trong cuốn sách, Faber & Mazlish đã kể lại một câu chuyện thú vị được chia sẻ bởi một vị phụ huynh. Cậu bé con ông vừa đi học về đã hét ầm lên rằng:
«Con muốn đấm vào mũi thằng Michael!».
Nếu người cha theo phản xạ khước từ cảm xúc của cậu bé, thì cuộc đối thoại sẽ diễn ra như sau:
Con: «Con muốn đấm vào mũi thằng Michael!»
Cha: «Sao vậy? Có chuyện gì xảy ra?»
Con: «Nó quẳng tập của con xuống đất!»
Cha: «Hừ, con đã làm gì nó trước phải không?»
Con: «Không!»
Cha: «Con chắc chứ?»
Con: «Con thề, con không bao giờ đụng tới nó.»
Cha: «Hừ, Michael là bạn của con. Nếu làm theo lời khuyên của ba thì con sẽ quên chuyện đó liền. Con biết là con đâu có ngoan hoàn toàn. Đôi khi con bất thần kiếm chuyện rồi đổ lỗi cho người khác – giống như cách con hay đổ thừa cho anh vậy.»
Con: «Không phải. Nó kiếm chuyện với con trước… mà thôi, con không nói chuyện với ba nữa!»
Tuy nhiên, thực tế đã không diễn ra như vậy. Vì ông đơn giản là chỉ lắng nghe những gì con nói, công nhận cảm xúc của con, cuộc đối thoại trở thành như sau:
Con: «Con muốn đấm vào mũi thằng Michael!»
Cha: «Trời, con tức giận quá.»
Con: «Con muốn đấm vào giữa cái mặt phèn phẹt của nó!»
Cha: «Con phát điên với nó đến thế cơ!»
Con: «Ba có biết cái thằng bắt nạt đó đã làm gì không? Nó giật tập của con ở trạm xe buýt và quẳng xuống đất. Vô cớ!»
Cha: «Hừmm!»
Con: «Con cá là tại vì nó tưởng con đã làm bể con chim bằng đất sét thô thiển của nó trong phòng mỹ thuật!»
Cha: «Con nghĩ vậy à.»
Con: «Phải đó, ba. Nó cứ nhìn chằm chằm vào con trong lúc nó la thét.»
Cha: «Ồ.»
Con: «Nhưng con đâu có làm bể. Con đâu có làm.»
Cha: «Con biết rõ là con không làm.»
Con: «Ừm, con không cố ý! Con đâu thể tránh được khi thằng ngốc Debby xô con vào bàn.»
Cha: «Thì ra Debby xô con.»
Con: «Đúng rồi. Nhiều thứ đổ ụp xuống, nhưng món duy nhất bị bể là con chim. Con không cố ý làm bể nó. Con chim của nó khá đẹp.»
Cha: «Ờ, đúng là con không cố ý làm bể nó.»
Con: «Dạ. Nhưng nó không tin con.»
Cha: «Con không tin là nó tin con nếu con nói cho nó nghe sự thật.»
Con: «Con không biết… Để con thử nói với nó xem sao – cho dù nó có tin con hay không. Con nghĩ nó nên xin lỗi con vì đã quẳng tập con xuống đất!»
Người cha rất kinh ngạc. Ông không hề hỏi một câu nào và đứa trẻ tự động kể cho ông nghe toàn bộ câu chuyện. Ông không khuyên răn lời nào mà đứa con tự tìm ra hướng giải quyết của nó. Ông dường như không thể tin nổi mình lại giúp đỡ đắc lực cho con chỉ bằng cách lắng nghe và công nhận cảm xúc của nó.
Nếu như chúng ta lớn lên với những trải nghiệm bị khước từ cảm xúc, thật khó để trở thành những ông bố bà mẹ dịu dàng, cảm thông, tâm lý với các con. Nếu những gì chúng ta học được từ ông bà của lũ trẻ chỉ là đe nẹt, quát mắng và làm ngơ, sẽ không dễ dàng để lắng nghe chúng trút giận và công nhận cảm xúc của chúng. Có lẽ vì thế mà quá trình nuôi dạy con cũng là hành trình học hỏi, trưởng thành của cha mẹ. Qua những mâu thuẫn phát sinh, chúng ta học được cách lắng nghe bằng sự kiên nhẫn, thông cảm với lòng bao dung, lý giải vấn đề một cách thiện ý và chân thành.
Ngọc Hà

Share:

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

Chay3 - Đừng đoán xét người khác, hãy tự xét chính mình




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 3 Mùa Chay

(24-3-2019)

Đừng đoán xét người khác, hãy tự xét chính mình



ĐỌC LỜI CHÚA

  Xh 3,1-8a.13-15: (7) Đức Chúa phán: «Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập. (8) Ta muốn giải thoát chúng».

  1Cr 10,1-6.10-12: (12) Ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã.

  TIN MỪNG: Lc 13,1-9

Nếu không sám hối, thì sẽ chết hết

(1) Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. (2) Đức Giêsu đáp lại rằng: «Các ông tưởng mấy người Galilê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Galilê khác sao? (3) Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. (4) Cũng như mười tám người kia bị tháp Silôác đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao? (5) Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy».

Dụ ngôn cây vả không ra trái

(6) Rồi Đức Giêsu kể dụ ngôn này: «Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, (7) nên bảo người làm vườn: 'Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất? ' (8) Nhưng người làm vườn đáp: 'Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. (9) May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi».




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao có người cho rằng những người bị giết hay bị chết trong bài Tin Mừng là những kẻ tội lỗi? Đức Giêsu có quan niệm như thế không? Ngài có đồng ý với việc xét đoán người khác kiểu đó không? Lập trường Ngài thế nào?

2. Áp dụng dụ ngôn cây vả vào đời sống người Kitô hữu hôm nay, thì hoa trái mà Thiên Chúa mong muốn nơi chúng ta là gì? Là việc tham dự những nghi thức tôn giáo cho đầy đủ, hay là tình thương phải có đối với nhau?


Suy tư gợi ý:

1.  Đừng xét lỗi kẻ khác, hãy xét lỗi chính mình

Thời Đức Giêsu, dân Do Thái bị đế quốc Rôma đô hộ. Nhiều người nổi dậy chống lại chính quyền Rôma và đã bị giết. Một số nhà giải kinh cho rằng những người bị Philatô giết ở đây cũng vì lý do ấy. Mặc dù không ủng hộ chính quyền Rôma, người Pharisêu phản đối việc dùng vũ lực chống lại chính quyền. Vì thế, theo quan điểm của họ, những người bị giết này là đáng tội chết. Còn nhóm Dêlốt, một đảng chính trị chuyên khủng bố người Rôma, chủ trương bất hợp tác với chính quyền đế quốc. Vì thế, khi thấy 18 người Do Thái đào đường dẫn nước thuê cho người Rôma và bị tháp Silôác đổ xuống đè chết, họ cũng kết án những nạn nhân này là đáng tội chết.

Thấy họ thích xét đoán và kết án người khác như vậy, Đức Giêsu lên tiếng phản đối. Theo Ngài, khi ta kết án người khác, thì chính ta lại là kẻ đáng bị kết án hơn cả: «Anh em đừng xét đoán để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán» (Mt 7,1; x. Lc 6,37). Ngài muốn đừng ai xét đoán ai, mà mỗi người hãy tự xét về lầm lỗi của chính mình, đồng thời sám hối và sửa đổi mình trước đã. Vì thói đời thường «thấy cái rác trong mắt người khác, còn cái xà trong mắt mình thì lại không thấy» (Mt 7,3). Vả lại, mỗi người một hoàn cảnh, mình không phải là Thiên Chúa nên không thể biết rõ hoàn cảnh phạm lỗi của người khác để có thể kết án họ. Càng kết án người khác, ta càng bị Thiên Chúa kết án: «Anh em xét đoán (người khác) thế nào, Thiên Chúa cũng sẽ xét đoán anh em như vậy. Anh em đong (cho người khác) bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ dùng chính đấu ấy để đong lại cho anh em» (Mt 7,2). Vậy, ta đừng dại gì mà xét đoán người khác?

Khi người ta dẫn một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình đến để tố cáo với Đức Giêsu, thì thái độ của Ngài là không kết án chị ta, mà mời gọi mọi người hãy xét tội lỗi của bản thân mình trước đã: «Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi!» (Ga 8,7). Khi được mời gọi xét lại chính mình, những kẻ tố cáo người phụ nữ ngoại tình ấy đã từ từ «bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi» (Ga 8,9). Tại sao vậy? Vì họ vẫn còn liêm sỉ để nhận ra chính mình cũng chẳng phải vô tội! Nếu ta có thái độ «tiên trách kỷ, hậu trách nhân», hay «tiên xét kỷ, hậu xét nhân», thì ta sẽ không bao giờ dám kết tội ai. Vì khi xét mình, ta sẽ luôn luôn nhận ra mình cũng có lỗi. Do đó, kẻ hay kết án người khác chỉ tự chứng tỏ rằng mình rất ít khi xét lỗi của mình. Vì một khi đã xét lỗi mình thì ta sẽ không dám kết án ai.

Rất nhiều lần khi thấy con cái mình phạm một lỗi nặng, tôi muốn nổi trận lôi đình với chúng, dự định la mắng chúng một trận nên thân. Nhưng khi bỗng nhận ra mình ngày xưa cũng phạm những lỗi y hệt chúng ngày nay, thì tôi hết giận ngay. Và tôi chỉ trách mắng chúng một cách nhẹ nhàng; nhờ vậy, việc giáo dục chúng có kết quả hơn. Nhiều lần ra đường bị một ai đó chạy ẩu làm tôi bị té hoặc bị thương, tôi giận muốn điên lên. Nhưng khi nhận ra chính mình cũng đã từng làm cho người khác khốn khổ y như vậy, tôi bèn mỉm cười và cơn giận lập tức tiêu tan.


2.  Hãy tự xét lỗi mình và cải thiện theo đúng đường lối Chúa

Ta chỉ có trách nhiệm xét lỗi của ta, chứ không có trách nhiệm xét lỗi người khác: «Chỉ có một Đấng ra Lề Luật và xét xử, đó là Đấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt. Còn anh là ai mà dám xét đoán người thân cận?» (Gc 4,12). Nếu thấy mình có lỗi thì ta phải sám hối và tự sửa chữa, nếu không, e rằng ta sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt: «Nếu các ông không chịu sám hối, các ông cũng sẽ chết hết y như vậy».

Rất nhiều người cảm thấy mình vô tội, không cần sám hối, vì thấy rằng mình chẳng bao giờ làm điều ác cho ai. Mình vẫn được mọi người cho là ngoan đạo: vẫn đi lễ, rước lễ hàng ngày, xưng tội hàng tháng, vẫn đóng góp vào nhà thờ… Nhưng tới ngày phán xét, rất có thể họ sẽ bật ngửa khi nghe Chúa nói: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác» (Mt 7,23). Lúc ấy họ sẽ phân bua: «Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?» (Mt 7,22). Chúa sẽ nói lại: «Quân bị nguyền rủa kia, hãy đi cho khuất mắt Ta. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống…» (Mt 25,41-44).

Quả thật, rất nhiều Kitô hữu không biết được cốt tủy của tinh thần Kitô giáo nằm ở đâu. Họ tưởng nằm ở trong các nghi thức tôn giáo, trong việc lễ lạy, rước sách. Nhưng Đức Giêsu đã nói thật rõ ràng: «Ta muốn lòng nhân chứ không cần lễ tế» (Mt 9,13; 12,7), và «điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng thành thật» (Mt 23,23) chứ không phải mấy chuyện «nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng» cho đền thờ (nt), thậm chí cả việc dâng lễ vật lên Thiên Chúa nữa. Thật vậy, thánh Phaolô nói: «Những lễ vật và hy lễ dâng tiến Thiên Chúa không thể làm cho lương tâm người cử hành việc phụng tự trở nên hoàn thiện» (Dt 9,9). Điều làm cho con người nên hoàn thiện và nên giống Thiên Chúa là tình thương, vì tình thương chính là bản chất của Thiên Chúa (x. 1Ga 4,8.16).

Nhiều người không hiểu cốt tủy của tinh thần Kitô giáo nằm ở đâu, nên họ hay lên án những ai không giữ những luật lệ giống như họ. Họ hành xử không khác gì những người Pharisêu xưa lên án Đức Giêsu và các tông đồ: nào là vi phạm ngày sabát (chữa bệnh, bứt bông lúa mì…), nào là không giữ luật lệ tiền nhân (ăn không rửa tay, nhậu nhẹt với phường tội lỗi…). Nhưng Đức Giêsu trả lời họ: «Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ không cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội» (Mt 12,7). Trước mặt Đức Giêsu, những người Pharisêu này mới chính là kẻ có tội. Nhưng tiếc thay cho họ: tội mình thì không thấy, mà lại thấy tội của những kẻ vô tội! Thời nay, nhiều Kitô hữu trách cứ những người khác là khô khan, nguội lạnh chỉ vì những người này không sốt sắng giữ đạo theo kiểu của họ, đang khi những người bị trách cứ này lại giữ luật yêu thương của Đức Giêsu gấp nhiều lần họ. Thiết tưởng câu của thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay đáng cho họ suy nghĩ: «Ai tưởng mình đang đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12).


3.  Thiên Chúa kiên nhẫn chờ con người hối cải

Điều Thiên Chúa mong đợi nơi con người là sự hối cải. Hối cải là quay trở với với Ngài: quan niệm giống như Ngài, nói và hành động theo gương Ngài. Theo quan niệm của Ngài, yêu thương là điều quan trọng nhất, cốt yếu nhất, nền tảng nhất. Nhưng rất nhiều Kitô hữu lại quan niệm khác với Ngài, họ coi chuyện yêu thương là thứ yếu, mà coi những nghi thức tôn giáo mới là quan trọng. Họ đã đi vào đúng vết xe đã đổ của các kinh sư, của giới lãnh đạo Do Thái giáo xưa.

Đức Giêsu đến trần gian đã 2000 năm nay để chỉnh đốn lại quan niệm sai lầm xưa. Nhưng cho đến hôm nay, biết bao kẻ mang danh theo Đức Giêsu vẫn coi thường việc chỉnh đốn đó, vẫn tiếp tục đi theo con đường Ngài đã đả phá từ thời đó. Ngài thì đặt nặng quan hệ yêu thương giữa con người với con người, còn họ vẫn tiếp tục coi trọng những nghi thức tôn giáo hơn quan hệ đó. Ngài nói: «Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình» (Mt 5,23-24). Hãy xem Ngài quan trọng hóa quan hệ yêu thương giữa con người với con người hơn các nghi thức tế tự như thế nào! Nhưng rất nhiều Kitô hữu, kể cả những người có trách nhiệm dạy dỗ Kitô hữu, đã quan trọng hóa theo chiều ngược hẳn lại với Ngài!

Thiết tưởng dụ ngôn cây vả không ra trái trong bài Tin Mừng là một lời cảnh tỉnh cho tất cả mọi Kitô hữu ngày nay. Thiên Chúa đang chờ đợi thêm một thời gian nữa trước khi ra tay trừng phạt chúng ta. Ngài chờ đợi chúng ta sinh hoa kết trái yêu thương, nhưng cho đến nay, phải nói rằng người Kitô hữu chúng ta đã sống với nhau thiếu tình thương một cách trầm trọng. Chúng ta không ý thức được tình trạng nguy hiểm đang chờ chúng ta: «Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa» (Mt 3,10; Lc 3,9). Các Kitô hữu quan niệm không đúng một phần khá quan trọng là do những người có trách nhiệm giáo dục họ đã không chỉ dạy họ cho đúng, hoặc đã không nhấn mạnh đủ điều nào là điều Đức Giêsu đã nhấn mạnh trên tất cả những điều khác.




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu kêu gọi sám hối, nếu không sẽ bị trừng phạt tất cả. Nhưng chúng con phải sám hối điều gì đây? Chúng con phải thay đổi điều gì trước tiên? Hoa trái mà Cha mong mỏi nơi chúng con là gì? Đọc kỹ Tin Mừng, chúng con thấy hoa trái mà Cha mong đợi nơi chúng con chính là tình thương. Nhưng chúng con lại quan trọng hóa chuyện khác. Chúng con lại đi đúng vào vết xe đã đổ của người Pharisêu xưa, là quan trọng hóa các nghi thức tôn giáo mà coi thường luật yêu thương của Cha. Xin giúp chúng con sửa đổi lại quan niệm cho đúng.


Share:

Dưới bóng mát của lá cờ «Ba Que»



Dưới bóng mát của lá cờ «Ba Que»


Hoàng Ngọc Mai
Bài nầy tôi muốn nói cho những kẻ cứ mỗi lần vén hai cái mép mồm lên nói là phát ra tiếng «Ba Que».
Theo tôi thấy, thì những kẻ hay dùng cái từ 3/// đó thường còn trẻ, đa số chưa đến 60, có nghĩa là vào năm 1975 chỉ còn là con nít. Còn những người lớn tuổi hơn, thậm chí cả đảng viên, họ cũng nói một cách khác. Ngay cả từ Ngụy Quân và Ngụy Quyền cũng đã được chính thức gỡ xuống.
Cho rằng họ là những kẻ «chiến thắng» một cuộc chiến đi, nhưng tâm lý mặc cảm thua kém của họ vẫn thể hiện qua rất nhiều mặt. Những giá trị của xã hội thời VNCH vẫn còn đó, làm cho kẻ chiến thắng ăn ngủ không yên. Hằng triệu người Bắc di cư vào Nam, sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Hằng triệu người khác vượt biển Đông để từ bỏ chế độ CS sau chiến thắng 1975.
Rồi sau 1975, bao nhiêu triệu người miền Bắc lũ lượt kéo vào miền Nam làm việc và sinh sống. Hà Nội là thủ đô, được đảng CS chăm sóc trước miền Nam những 30 cơ mà? Sao không có làn sóng dân Namkéo về Hà Nội? Đảng tuyên truyền rằng nhờ Mỹ đổ tiền vô nên miền Nam phồn thịnh! Sao lại bảo là Mỹ ác lắm đem quân vô giết dân Việt.

Điều nào đúng? - Cả hai điều sai !
Nói rằng thiên nhiên miền Namtrù phù hơn. Đó là ngụy biện hoặc là dốt nát. Kart Marx đã sai lầm cơ bản ở điểm nầy khi xây dựng lý thuyết Cộng Sản. Theo lý thuyết đó, đất đai và phương tiện sản xuất là suối nguồn của sự giàu có, nên CS không cho tư nhân có quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất.
Nhưng thật ra sự phong phú nằm nơi con người, đất nước nào biết chăm sóc và trân trọng con người, đất nước đó sẽ hưởng được sự thịnh vượng. Hãy so sánh Nam và Bắc Hàn. Nam Việt và Bắc Việt cũng không ngoại lệ.
Miền Nam lúc nào cũng bị quân CS đánh phá và khủng bố, chính quyền dân chủ non trẻ với nhiều CS nằm vùng, mà vẫn xây dựng được cuộc sống hài hòa cho người dân. Phát triển mọi mặt từ kinh tế, giao thông công cộng, y tế , giáo dục... Đó là lý do tại sao miền Namthịnh vượng. Và cái trình độ dân trí đó đã kéo miền Nam vượt lên hẳn so với Hà Nội.
Rồi những người miền nam liều mình vượt biển để tìm con đường sống trong cái chết. Nếu chẳng may bị bắt trở lại thì bị tù đầy với tội danh là «phản quốc». Khi họ ổn định cuộc sống nơi nước ngoài,gửi những đồng tiền do chính sức lao động của họvề cho thân nhân ở trong nước thì đảng lại gọi họ là «kiều bào», «khúc ruột ngàn dậm», nghe sự nịnh nọt trơ trẻn mắc ói! Còn mấy cái mồm tuyên truyền thì kêu đi ra nước ngoài ăn bơ thừa sửa cặn...Nhờ những đồng tiền «bơ thừa sửa cặn» đó mà kinh tế Việt Nam vượt qua thời kỳ khô cằn do đường lối kinh tế XHCN, mọi thứ đều quốc doanh hóa, nhà nước quản lý hết....Đến lúc hết thở, nên nhà nước hết hồn, đành buông xả ra gọi là «đổi mới» !
Qua đó, có phải cái bóng mát của VNCH vẫn che cho dân trong những lúc khó khăn đó đến ngày hôm nay?

Vậy đó, Cộng Sản Bắc Việt vi phạm những hiệp ước quốc tế để giành chiến thắng nhưng những giá trị Nhân Bản của VNCH càng lúc càng âm ỉ đốt nóng những trái tim Việt Nam.
Các người cứ dùng lời lẽ sấc xược để tỏ vẻ khinh miệt người khác càng làm lộ rõ các người dốt nát và kém văn hóa mà thôi. Cộng Sản Chủ Nghĩa là đỉnh cao của Xã Hội Chủ Nghĩa. Mà XHCN cũng vỡ tan theo liên bang Sô Viết rồi, còn Thiên Đàng Cộng Sản có nằm mơ cũng không gặp.
Vậy mà các người cố gào 3/// để làm cho mình cao hơn ư? Rất tiếc cái chính nghĩa Cộng Hòa đó vẫn sáng mãi trong lòng dân Việt, nhất là nhân dân miền Nam. Có lẽ phải dùng đến những con số để chứng minh cho thấy cả guồng máy của nhà nước XHCNVN đã và đang sống dưới bóng mát của lá cờ mà họ gọi là 3/// đó.
Các người cứ lục tung hết sổ sách của cái gọi là «chính quyền XHCNVN» lên mà xem tổng ngân sách nhà nước dùng để trả lương cho toàn bộ công nhân viên chức nhà nước là bao nhiêu. Rồi các người xem con số đó có phải chưa bằng một nửa số tiền Việt Kiều gửi về hàng năm, trung bình là 10 tỷ USD, có năm cao hơn. Như vậy các người không ngủ dưới bóng mát của lá cờ vàng ba sọc đỏ là gì?
Tôi sẽ dẫn giải cho các người thấy, cả nước Việt Nam từ sau 1975 đến nay vẫn tiếp tục sống dưới bóng mát của lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.
Từ ngày Sài Gòn bị «phỏng giái», (người dân Miền Nam nói như vậy đó, nói lái là một nét đặc trưng trong văn hóa bình dân của dân nam kỳ), thì một mặt trận tiêu diệt Văn Hóa miền Namđược phát động rất quy mô và triệt để. Đó là trận chiến «Tẩy Não» dân Miền Nam, nhằm loại bỏ tư tưởng và ý thức hệ Tự Do Dân Chủ. Tất cả văn hoá phẩm từ sách báo đến âm nhạc đều bi tiêu hủy và cấm đoán. Nhưng làm sao trói buộc được tư tưởng của con người chứ?
Nhà nhà nộp sách đem đốt, việc nầy không khó, nhưng cấm dân miền Nam hát những bản nhạc đã in sâu vào tim vào óc của họ thì quả là không thể được. Khi mọi thứ đã hoang tàn đổ nát kể cả lòng người dân lành, thì những dòng nhạc trữ tình khe khẻ quay trở về như làn gió nhiệm mầu xoa dịu bớt cái nổi thống khổ của đời thường XHCN. CSVN gọi dòng nhạc đó là «Nhạc Vàng» để cân với dòng «Nhạc Đỏ» sặc mùi chém giết mà giai điệu và tiết tấu mang đậm sắc thái TC. Nhưng tới hiện tại thì họ trở nên ganh tị với cái tên gọi đó, vì nó đích đáng và đúng trên nhiều khía cạnh.
«Nhạc Vàng» không cổ súy chiến tranh mà chỉ biểu lộ những đau thương của con người trong thời chiến. Vậy tại sao người ta cấm Nhạc Vàng? Có phải người ta sợ cái bóng dáng thiên thần dịu dàng và ngọt ngào đầy tình người sẽ làm hiện thân của Ác Quỷ nổi trội rỏ nét hơn chăng?
«Nhạc Vàng» một tòa lâu đài văn hóa Việt Nam Cộng Hòa bất diệt, chẳng những không hoen rỉ qua thời gian mà còn lóng lánh hơn như một kho báu cho mọi tầng lớp con dân Việt Nam suốt 3 miền và kể cả những kẻ từng lên án, vùi dập lẩn sợ sệt nó. Bao nhiêu người đã khai thác cái kho báu vô tận nầy.
«Nhạc Vàng» loài hoa mỹ miều kiêu sa, mọc lên từ bom đạn chiến tranh, tồn tại qua bao sự vùi dập, thể hiện tính Nhân Bản của một xã hội đầy tình người, đáng được trân quý như vàng. Hơn nữa thế kỷ qua, chưa có một đối thể nào lăm le đứng gần chứ đừng nói là soán ngôi.
«Nhạc Vàng», một thứ phụ gia kỳ diệu, không thể thiếu được khi thưởng thức một ly cà phê ngon hay một chén trà thanh thoát. Một tay guitar và nhạc vàng luôn là tâm điểm cho những buổi nhậu bình dân.
«Nhạc Vàng», một loại trầm hương hảo hạng cho bất kỳ cuộc họp mặt nào từ quê ra tỉnh, từ đám cưới đến đám tang, từ sân khấu đại nhạc hội hàng ngàn khán thính giả đến quán cà phê dăm ba người cuối phố, thậm chí là niềm giải trí duy nhất trong chốn lao tù....
«Nhạc Vàng», là ánh lửa rực rỡ của con Phượng Hoàng hồi sinh từ tro bụi sau khi những người nhân danh CSCN đã giết nó bằng mọi khả năng của họ. Ánh lửa đó đã bùng lên, lan tỏa đến từng trái tim của chính những người mang danh hiệu là Đảng Viên ĐCSVN, bất luận là ở đâu, Nghệ Tỉnh, Hà Nội hay Sài Gòn!
Nói mãi về «Nhạc Vàng» VNCH không bao giờ cạn ý.
Nếu những lời lẽ quanh co trên đây chưa thực sự vẻ ra cái bóng mát của lá cờ vàng, chưa chứng minh được âm nhạc VNCH là Vàng ròng 24 kara thì tôi xin được dẩn quý vị vào yếu tố kinh tế của Nhạc Vàng vậy.
Từ hải ngoại đến quốc nội, bao nhiêu doanh nghiệp phát triển nhờ Nhạc Vàng, bao nhiêu ca sĩ thành danh và nên sự nghiệp, bao nhiêu người trở nên giàu có, bao nhiêu công ăn việc làm cho cái kỹ nghệ âm nhạc nầy, từ thời băng từ, đến đĩa từ, CD, kế đến phong trào Karaoke, bao nhiêu kỹ thuật viên, phòng thâu, ca nhạc sĩ, cơ sở sản xuất, phát hành, bán sĩ lẻ, thiết bị âm thanh, v.v... và v.v...
Bao nhiêu Đại Nhạc Hội, tụ điểm ca nhạc... Biết bao nhiêu ca sĩ, từ Bắc chí Nam đã thành triệu phú đô la nhờ vào cái bị gọi là «Văn Hóa Nô Dịch» đó.
«Nhạc Vàng» đã tham gia với người dân cả nước trong việc mưu sinh hàng ngày, từ quán cà phê, đến hang loạt xe đò đường dài, đến anh bán kẹo kéo, đến những em bán hàng rong hằng đêm trên phố, đến những người hành khất . . .Lớp học hát , học đàn nở rộ, tiệm sản xuất đàn guitar gia tăng, quán cà phê nhạc sống, bình dị mà trữ tình ngày càng phổ biến.
Một chiếc điện thoại thông minh, một cái mi-crô không dây, khách ngồi uống nước mía bên vệ đường cúng có thể chia sẻ với nhau một bản tình ca... ấm áp. Cái bóng mát đó càng ngày càng mở rộng ra trên nhiều lảnh vực của cuộc sống và địa phưong, lan dần đến tận các tỉnh miền Bắc... Đó không phải là bóng mát từ nên âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa thì là gì, lửa hỏa ngục chăng?
Tôi đã thấy, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, tranh thủ cho ra mắt 2,3 album nhạc vàng trong vòng một tháng, hát giành hát giựt, sợ ca sĩ khác hát trước, mất số bán. Như một tên ăn trộm, khám phá ra kho báu, hốt vội hốt vàng, nhạc vàng là vàng ròng đó.
Tôi đã thấy cũng Đàm Vĩnh Hưng hát «Cho một người nằm xuống» , dĩ nhiên là hát để thu tiền, có bao giờ Đàm Vĩnh Hưng nghĩ đến những trái ngọt nầy do ai vun trồng mà nên? Sao không hát cho người thương binh VNCH còn sống vất vưởng ngày hôm nay. Mang danh một điva, một nghệ sĩ , Đàm Vĩnh Hưng nếu có tâm hồn nghệ sĩ, sao không dám một có lần tri ân những người đã nằm xuống để bảo vệ cho thể chế đã sản sinh ra cái kho báu âm nhạc nầy. Phải chăng vì không có tâm hồn mà chỉ hát vì lòng tham nên bị người đời gọi là Ca Nô ?
Tôi đã xem video clip của đại ca...sĩ Ngọc Sơn, đại gia từ nhạc vàng, hát trong một hội trường đầy ấp khán giả là quân đội mặc quân phục đại cán, ngực đầy huân chương «cách miệng». Những ca khúc nhạc vàng cất cao, cả hội trường đứng dậy, hai tay đưa lên cao, đung đưa theo dòng nhạc....
Các vị đa số là đảng viên, các vị chắc đã học tập lý luận nhiều lắm, quý vị có thấy một nghịch lý vô cùng to lớn ở đây không? Hoặc là các vị có thấy xấu hổ trong lòng không? Cái mà quý vị diệt tận, giết sạch ngày hôm qua, thì hôm nay ngồi dưới cái bóng mát của cái «xác khô» VNCH mà chia sẽ hương thơm ngào ngạt của nó.
Các người là kẻ chiếm và thắng, các người hành hạ, chà đạp kẻ thất cơ lỡ vận nhiều rồi, chúng tôi không màng, lịch sử sẽ có lúc trả lại công đạo.
Nếu quý vị mạt sát VNCH thì móc cổ mà ói ra hết những gì quý vị nuốt vô từ nền văn hóa VNCH đi.
Còn như quý vị trơ trẻn, miệng thì mỉa mai : «đu càng, ba que, quần què» mà giành nhau đưa tay vào chắm mút, chúng tôi khinh lắm.
Hoàng Ngọc Mai

Share:

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2019

Gặp gỡ Thiên Chúa dễ hay khó?


Gặp gỡ Thiên Chúa dễ hay khó?


I. Có thể gặp gỡ Thiên Chúa ở đâu?

Nhiều câu Thánh Kinh xác định Thiên Chúa ở ngay trong bản thân ta, chẳng hạn như câu của thánh Phaolô: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? … Đền thờ ấy chính là anh em» (1Cr 3,16-17) và còn nhiều câu khác nữa (như 1Cr 6,19; 2Cr 6,16; Ep 2,20-22, v.v...). 

Vậy thì gặp gỡ Thiên Chúa quá dễ dàng mới đúng, tại sao có người lại cho rằng việc đó quá khó?


Thiên Chúa ở trong ta hay ở ngoài ta?

Tôi nghĩ có lẽ vì truyền thống Kitô giáo xưa nay dường như quá nhấn mạnh đến sự hiện diện của Thiên Chúa trong giáo đường, trong các bí tích, đến nỗi các Kitô hữu không mấy lưu tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chính mình, nơi tha nhân. Nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa thì người ta liền nghĩ ngay đến nhà thờ, đến phép Thánh Thể, chẳng mấy ai nghĩ đến Thiên Chúa ngự ngay trong mình, trong những người chung quanh, trong vũ trụ vạn vật, dù sự hiện diện này được Kinh Thánh nói đến nhiều hơn. Đa số vẫn ở trình độ chỉ nhìn thấy được bằng con mắt thể chất, chưa nhìn được bằng con mắt tâm linh.

Chính Kinh Thánh dường như không ưa việc định vị Thiên Chúa một cách quá lệ thuộc và hạn định vào không gian vật chất như thế. Đức Giêsu đã phản đối việc định vị nơi chốn để gặp gỡ Thiên Chúa khi người phụ nữ Samari đặt vấn đề: «Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi thờ phượng Thiên Chúa» (Ga 4,20). Đức Giêsu liền trả lời: «Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Ðấng các người không biết (…). Nhưng giờ đã đến và chính lúc này đây (là) giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Ngườiphải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4,21-24) (xin xem chú thích 1* bên dưới).



II. Những điều kiện để gặp gỡ Thiên Chúa 

a. Gặp gỡ Thiên Chúa ngay trong chính bản thân ta

Nói chung, truyền thống Kitô giáo xưa nay vẫn quá chú trọng tới sự có mặt của Thiên Chúa ở bên ngoài bản thân ta, chứ chưa nhấn mạnh đủ đến sự hiện diện của Ngài ngay trong chính bản thân ta. Chính thánh Augustinô đã phải than phiền về chuyện này. Vị thánh viết: «Lạy Chúa, Chúa vốn ở trong con, mà con lại… tìm Chúa ở bên ngoài con» (Confessions, X,27); Và đó chính là lý do khiến thánh  nhân đã không gặp được Chúa. Ông than: «Con đã tìm Chúa ởngoài con, nên con đã không gặp được Chúa của lòng con» và «Con đã yêu Chúa quá muộn… Chính Chúa vẫn ở trong con, còn con thì lại ở ngoài con» (Confessions, VI,1) ("ở ngoài con", tôi hiểu là thánh nhân đã ở ngoài bản thân mình khi tìm Thiên Chúa, nghĩa là không tìm Ngài bằng "thần khí", bằng tâm linh, bằng chính "cõi lòng" hay bằng "nội tâm" của mình, mà chỉ bằng "ngoại tâm", bằng những gì thuộc thể chất, những gì hữu hình thấy được bên ngoài. "Ngoại tâm" là thứ tâm hướng về bên ngoài, còn "nội tâm" là cái tâm hướng vào bên trong). 

Quả thật, không có nơi nào ta dễ gặp gỡ Thiên Chúa cho bằng ngay trong chính bản thân ta. Cho dầu Ngài cũng hiện diện trong vũ trụ vạn vật hay những nơi khác, và ta có thể nhìn thấy hay gặp được Ngài ở những nơi đó; nhưng nơi gặp gỡ Ngài lý tưởng nhất vẫn là «nội tâm» ta, vì Ngài là «thần khí», là «tâm linh», mà «nội tâm» của ta cũng là «thần khí», là «tâm linh». Tâm-linh-gặp-tâm-linh chắc chắn phải dễ hơn, thâm sâu, thân mật hơn là thể-chất-gặp-tâm-linh rất nhiều. 

Sách Sáng Thế viết: «Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật» (St 2,7). Con người có sự sống và linh hồn hay tâm linh là do hơi thở của Thiên Chúa thổi vào. Hơi thở của Thiên Chúa được gọi là «thần khí». Tâm linh hay nội tâm của con người vì thế là «thần khí» xuất phát từ «hơi thở của Thiên Chúa».

Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, trong mọi thực thể của vũ trụ vạn vật, nhưng Ngài hiện diện «đặc sệt» nhất, với «mật độ» cao nhất, hầu như trong chính bản thân ta. Vì các thực thể khác trong vũ trụ là thể chất, còn nội tâm ta là «thần khí», trong khi Thiên Chúa cũng là «thần khí» như Kinh Thánh đã xác định. Và ta có gặp được Thiên Chúa nơi bản thân mình, thì mới hy vọng gặp được Ngài ở những nơi khác.

Ấn Độ giáo cho việc tìm kiếm Thiên Chúa để gặp gỡ Ngài giống như một con cá ở biển đi tìm nước. Nghe chuyện ấy ta thấy tức cười, nhưng đích thực khi ta tìm kiếm Thiên Chúa, ta cũng làm một việc tương tự. Thật thế, có nơi nào mà không có Thiên Chúa? Chúng ta và vạn vật hiện hữu, sinh sống, làm bất cứ việc gì cũng đều do Thiên Chúa cả. Làm sao ta có thể suy nghĩ, viết lách, đi lại, cựa quậy, thậm chí làm những việc dễ dàng nhất như chớp mắt, hít thở, mà không cần đến Thiên Chúa? 

Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, trong tất cả vạn vật, trong tất cả mọi sinh hoạt dù nhỏ nhất của ta. Nhất cử nhất động đều nói lên sự có mặt của Thiên Chúa. Bản thân ta, lúc nào cũng chìm ngập trong Thiên Chúa, thế nhưng nhiều người đã tìm kiếm Ngài hoài mà chẳng hề gặp! Như vậy có khác gì con cá dưới biển tìm nước hoài mà vẫn không thấy nước, không gặp được nước! Chỉ vì nó không ý thức rằng nó đang ở trong nước, và nước cũng đang ở trong chính bản thân nó. 

Cũng trong truyền thống Ấn Độ, có chuyện một đệ tử hỏi thầy của mình: «Thầy có bao giờ gặp được Thiên Chúa không?» Ông thầy trả lời: «Tôi thường gặp gỡ Ngài y như tôi đang gặp gỡ anh bây giờ». Đệ tử liền nói: «Vậy thì xin Thầy chỉ cho con cách gặp gỡ Thiên Chúa như Thầy đi!» Ông thầy trả lời: «Dễ lắm, anh cứ mở mắt ra là thấy, chứ có gì khó đâu!». 

Nhưng người đệ tử chẳng hề nhìn thấy Thiên Chúa, vì anh ta không nhìn bằng «con mắt đức tin», bằng tâm linh của anh để thấy rằng tha nhân, cỏ cây, vạn vật trước mắt anh, và ngay chính bản thân anh, đều có Thiên Chúa đang hiện diện rất sống động trong ấy. Thánh Kinh nói rất rõ về sự hiện diện của Ngài trong tha nhân, trong cỏ cây, vạn vật, v.v... (x. St 28,16; Gs 2,11; 1V 8,27; Tv 139,7-8; Cn 15,3; Is 57,15; Gr 23,24; Mt 18,20; Cl 1,17; v.v...) (xin xem chú thích 2* bên dưới). 

Như vậy, vấn đề là chúng ta có con mắt đức tin để nhận ra Thiên Chúa đang có mặt cách sống động trong những thực tại ấy hay không. Hay chúng ta y hệt như con cá ngoài biển, cứ tìm nước hoài mà suốt đời chẳng bao giờ gặp được nước!

b. Muốn gặp gỡ Thiên Chúa, phải «có duyên» với Ngài

Tuy nhiên, nếu ta có con mắt đức tin để nhìn thấy được Thiên Chúa trong tất cả vạn vật, chưa chắc chúng ta đã gặp gỡ Ngài thật sự, vì còn một điều kiện khác rất quan trọng, để có thể gặp Ngài thật sự, đó là phải «có duyên» với Ngài. 

Việc gặp gỡ Thiên Chúa đích thực không phải là gặp gỡ bằng thể chất, mà phải bằng tâm linh, vì Đức Giêsu nói rất rõ: «Thiên Chúa là thần khí» (Ga 4,24); nghĩa là Thiên Chúa không phải là vật chất hay thể chất, mà là tâm linh, nên phải dùng tâm linh để gặp Ngài (Chữ «thần khí» ở đây viết thường chứ không viết hoa, nên có nghĩa là "linh", là "tâm hồn", "tâm linh", chứ không có nghĩa là "Thánh Thần"). Mà dù ta có thật sự gặp gỡ bằng thể chất, gặp Ngài tận mặt, thì chưa chắc đó đã là sự gặp gỡ đích thực đúng với nghĩa của nó. 

Ngày xưa người Pharisêu, các tư tế và luật sĩ đã gặp Đức Giêsu, đã đối chất, bắt bẻ Ngài nhiều chuyện, rõ ràng họ đã gặp Ngài về mặt thể chất, nhưng «lòng trí họ thì lại xa Ngài» (x. Mt 15,8). Tôi chắc chắn có biết bao người rước lễ, đem Chúa vào lòng mình một cách thể chất, nhưng đâu có gặp gỡ được Ngài. Rước lễ như vậy thì tôi chẳng xác định được có ích lợi gì hay có hại gì không. Chỉ gặp gỡ ngoài thể chất, chưa phải là gặp gỡ đúng nghĩa và trọn vẹn.

Văn chương Việt Nam đã từng mô tả hai kiểu gặp gỡ thể chất và tâm linh qua câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ; Vô duyên đối diện bất tương phùng», nghĩa là: Có duyên với nhau thì dù xa cách nhau ngàn dậm vẫn có thể gặp nhau, không có duyên với nhau thì dù có mặt đối mặt cũng chẳng phải là gặp nhau (việc gặp nhau trong cả hai câu này rõ ràng không phải là gặp bằng thể chất, mà bằng tâm hồn). Như vậy, theo câu thơ trên thì điều kiện để gặp gỡ nhau bằng tâm hồn thì phải có duyên với nhau. 

Có duyên với nhau, có nghĩa là đồng cảm với nhau,  quan niệm và suy nghĩ khá giống nhau, nhất là giống nhau về bản chất, giống nhau về tâm hồn. Do đó, muốn gặp gỡ Thiên Chúa thì phải giống Thiên Chúa về quan niệm, về cách nhìn, nhất là về bản chất. Mà bản chất của Thiên Chúa là gì? Thánh Gioan từng định nghĩa bản chất của Ngài: «Thiên Chúa là tình yêu» (Ga 4,8.16). 

Như vậy, nếu chúng ta không có tình yêu đích thực, nghĩa là nếu chúng ta là một tâm hồn vị kỷ, ích kỷ, lúc nào cũng coi trọng "cái tôi" của mình hơn mọi người, đặt nặng hạnh phúc, đau khổ, quyền lợi, danh dự của mình hơn hạnh phúc, đau khổ, quyền lợi, danh dự của mọi người, thì chúng ta khác với Thiên Chúa quá nhiều, nghĩa là ta không «có duyên» với Ngài, thế thì làm sao ta gặp được Ngài thật sự, nghĩa là gặp được Ngài bằng tâm hồn?



III. Nếu chưa thật sự gặp gỡ Thiên Chúa, ta phải làm gì để gặp được Ngài?

a. Trước hết, phải xác tín Thiên Chúa hiện diện sống động ngay trong chính bản thân ta

Như vậy, ta cần phải hoàn chỉnh lại quan niệm cũ, cho rằng Thiên Chúa chỉ ở trong nhà thờ, chỉ hiện diện trong các bí tích, và chỉ gặp gỡ được Thiên Chúa khi đọc kinh, tham dự thánh lễ, v.v... Tất cả những việc ấy đều cần thiết để có thể gặp được Ngài, nhưng chưa đủ. Gặp gỡ qua những phương cách ấy chỉ tương tự như gặp gỡ bằng thể chất, hay bằng sự tưởng nhớ, v.v... chứ chưa phải gặp bằng tâm linh, bằng «thần khí» (x. Ga 4,23-24). Thánh Augustinô đã gặp gỡ Ngài theo kiểu đó một thời gian dài trước khi giác ngộ ra rằng mình mới chỉ tìm kiếm Thiên Chúa ở bên ngoài bản thân nên chưa thật sự gặp gỡ được Ngài, vì chưa tìm kiếm hay gặp Ngài ngay trong bản thân mình.

Quả thật, Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, đặc biệt trong phép Thánh Thể, trong các bí tích, trong nhà thờ qua phép Thánh Thể… v.v... Nhưng sự hiện diện ấy là ở bên ngoài ta, hoặc không «đặc sệt» như trong chính bản thân ta (x, 1Cr 3,16.17b; 1Cr 6,19). Sự hiện diện của Ngài trong bản thân ta được thánh Augustinô diễn tả rất sâu sắc qua câu «Deus est intimior intimo meo» (tạm dịch: Thiên Chúa thân mật với tôi còn hơn chính tôi thân mật với tôi nữa), và «Deus est interior intimo meo et superior summo meo» (tạm dịch: Thiên Chúa còn ở sâu thẳm trong tôi hơn cả nội tâm của tôi, và cao cả hơn cái cao cả nhất ở nơi tôi) (Confessions, III, 6.11). Hai câu này có thể diễn tả cách dễ hiểu hơn, là «Thiên Chúa còn hơn chính tôi "là tôi" nữa». 

Sự hiện diện này của Thiên Chúa −tức hiện diện trong bản thân ta− đã được thánh Phaolô diễn tả cho Hội đồng Arêôpagô ở kinh đô của Hy Lạp và được tác giả sách Tông Đồ Công Vụ trích dẫn: «Thực sự, Người không ở xa mỗi người chúng ta. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu, như một số thi sĩ của quý vị đã nói: 'Chúng ta cũng thuộc dòng giống của Người» (Cv 17,27b-28). Nghĩa là mọi hoạt động, hành động, cử động, dù chỉ là chớp mắt hay thở ra thở vào của chúng ta, đều do Ngài chủ động. Và thánh Phaolô còn nói rõ hơn: «Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,10). Ngài sống trong tôi, làm mọi việc tốt đẹp ở trong tôi, thế mà tôi không hề ý thức.

Tóm lại, tôi giống như con cá sống trong nước mà cứ đi tìm nước, và cứ nghĩ mình chẳng gặp thấy nước bao giờ cả. Thật ra, con cá chỉ cần giác ngộ rằng mình đang được bao phủ bởi nước, mình sống được là nhờ nước, và nước chiếm tới 7, 8 chục phần trăm ngay trong bản thân mình, thì lập tức nó sẽ gặp được nước ngay tức khắc.

Do đó, điều quan trọng để gặp gỡ Thiên Chúa, là phải tập thành thói quen để luôn luôn ý thức rằng Thiên Chúa đang hiện diện trong ta, và mọi hành động, mọi cử động của ta, ngay cả sự hiện hữu của ta đều do Thiên Chúa cả. Và phải nhìn mọi sự bằng «con mắt đức tin» để thấy Ngài trong chính bản thân, trong tha nhân, và trong tất cả mọi sự, mọi vật hiện hữu.

Tuy nhiên, ý thức như vậy mới chỉ là gặp gỡ Ngài một cách nào đó cao hơn sự gặp gỡ bằng thể chất, cao hơn chút ít thôi. Để gặp gỡ thật sự thì phải gặp gỡ Ngài bằng «thần khí» (x. Ga 4,23-24), nghĩa là bằng tâm linh hay tâm hồn.

b. Cần tập quan niệm và nhìn mọi sự giống như Đức Giêsu, và có tâm yêu thương giống như Ngài

Gặp gỡ Thiên Chúa thật sự, chính là kết hiệp với Người, trở nên một với Người. Muốn thế thì phải tập trở nên giống như Ngài. 

Dầu và nước có thể trộn lẫn với nhau, nhưng không thể hòa tan vào nhau được, và cuối cùng thì dầu và nước tách biệt. Do đó, nếu khác biệt nhau quá rõ ràng về bản chất, thì dù có ở cạnh nhau, sát bên nhau, cũng không hòa hợp với nhau được.

Tuy nhiên, nước và rượu có thể hòa tan với nhau thành một hỗn hợp duy nhất, vì hai chất có nhiều yếu tố giống nhau. Tương tự như vậy, ta tuy không thể giống Ngài hoàn toàn, và tuyệt đối không thể, nhưng ta có thể giống Ngài phần nào đến nỗi có thể kết hiệp nên một với Ngài, nghĩa là gặp gỡ Ngài thật sự.

(Nước và rượu, tuy hòa tan với nhau thành một hỗn hợp duy nhất, nhưng chỉ là hỗn hợp, chứ không phải là đồng chất. Phân tử nước vẫn là phân tử nước, phân tử rượu vẫn là phân tử rượu. Tuy là một hỗn hợp duy nhất, nhưng vẫn là hai chất khác nhau hòa tan thành một. Cũng vậy, khi kết hợp với Thiên Chúa, dù ta nên một với Ngài theo nghĩa kết hợp, nhưng vẫn là hai thực thể khác nhau. Lúc đó, «Ngài với ta tuy hai mà một, ta với Ngài tuy một mà hai».)

Giống Ngài phần nào, nghĩa là phần nào cùng quan điểm như Ngài, nói cách khác, là cách quan niệm, cách nhìn vấn đề, cách suy nghĩ và cách hành động của ta phần nào giống như Ngài. Đương nhiên, càng giống càng tốt.

Muốn thế, chúng ta cần phải đọc và suy niệm Lời của Ngài, qua Thánh Kinh, để biết Ngài nhìn mọi sự như thế nào, Ngài quan niệm vấn đề thế nào, Ngài nói và hành động thế nào, để rồi ta tập nhìn mọi sự như Ngài đã nhìn, quan niệm mọi vấn đề như Ngài quan niệm, để hành động giống như Ngài hành động. Như vậy thì ta mới «có duyên» để gặp gỡ hay kết hiệp với Ngài như đã nói ở trên (mục II,b).

Tuy nhiên, bản chất của Ngài là tình yêu, như thánh Gioan đã xác định «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16). Ta muốn giống Ngài thì phải giống ở bản chất. Quan niệm, nhìn vấn đề và suy nghĩ giống Ngài mới chỉ tương tự như ở mức độ nghe và hiểu Lời Ngài thôi. Điều quan trọng nhất, và là cuối cùng để giống Ngài là sống, là thực hành đúng như Ngài hay mình đã quan niệm, đã nhìn và đã suy nghĩ, nghĩa là yêu thương thật sự. Thật vậy, Đức Giêsu nói: «Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá (…) Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát (…)» (Mt 7,24-27).

Tất cả những gì mà ta tu tập được, như thường xuyên ý thức được Ngài hiện diện trong ta, hay nhìn mọi sự như Ngài đã nhìn, v.v... mà cuối cùng không đạt được cái «tâm yêu thương» đối với Thiên Chúa cũng như với mọi người, thì chưa thể gặp gỡ Ngài thật sự được, và sự thánh thiện của ta cũng chưa đi đến đâu cả. Thật thế, thánh Phaolô đã từng viết: «Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tinđến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,1-3). «Đức mến» mà thánh Phaolô nói trong câu này, chính là cái «tâm yêu thương» được thể hiện ra bằng những hành động yêu thương cụ thể.

***

Tóm lại, để gặp gỡ Ngài, chúng ta cần phải ý thức được Ngài ở đâu để mà gặp; rồi phải «có duyên» với Ngài, nghĩa là đồng cảm với Ngài và phải phần nào giống như Ngài, nhất là giống Ngài về bản chất. Muốn thế, ta phải tập luyện từ ý thức, quan niệm, tư tưởng cho tới hành động.

Quả thật, với một số người đã tập luyện như thế, thì việc gặp gỡ Thiên Chúa quả là dễ dàng, nhưng với nhiều người khác thì quả là khó khăn. 

Dễ hay khó tùy thuộc vào quyết tâm của ta. Gặp gỡ được Thiên Chúa như thế, quả không dễ, nhưng chắc chắn không phải là quá khó. Nếu ta quyết tâm thực hiện thì chắc chắn thực hiện được. 
Tôi nghĩ rằng qua những gì tôi vừa viết, tôi đã nêu được một vài lý do căn bản khiến ta gặp gỡ được Thiên Chúa cách đích thực hay vẫn chưa gặp được Ngài.

Nguyễn Chính Kết
____________________

Chú thích:


(1*) Giải thích câu «Thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật» (Ga 4,23). 


Đây là cách thờ phượng Thiên Chúa tốt nhất, hợp với ý muốn của Ngài nhất. Chính Đức Giêsu xác định điều đó. Ngài nói: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật»

«Thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí»:  Chữ «thần khí» trong một số bản dịch Việt ngữ, có lẽ vì muốn dịch sát với từ bằng tiếng Do Thái hoặc Aram (vốn có ý nghĩa «hơi thở của Thiên Chúa»), khiến người bình thường đọc trở nên khó hiểu, thậm chí nhiều người chẳng hiểu nó là gì. Các bản dịch như Vulgata bằng tiếng Latinh (là bản chính thức của Giáo Hội) và các bản tiếng Anh hoặc tiếng Pháp dùng chữ spiritus, spirit hoặc esprit khiến người đọc hiểu liền, không cần giải thích. 3 chữ spiritus (latinh), spirit (Anh) hoặc esprit (Pháp) khiến tôi hiểu ngay  ý nghĩa của nó là tâm linh, tinh thần

(Bản Vulgata dịch 2 câu Ga 4,23-24 là «Sed venit hora et nunc est quando veri adoratores adorabunt Patrem in spiritu et veritate nam et Pater tales quaerit qui adorent eum; spiritusest Deus et eos qui adorant eum in spiritu et veritate oportet adorare»).

Chữ «thần khí» này trong Kinh Thánh có khi viết thường, có khi viết hoa với hai ý nghĩa khác nhau. Khi viết hoa thì phải hiểu làThánh Thần hay Thánh Linh, còn khi viết thường thì hiểu là tinh thần, tâm linh. Trong hai câu Ga 4,23-24, chữ «thần khí», dù trong bản Vulgata hay nhiều bản dịch khác, đều viết chữ thường (kể cả bản dịch của nhóm «Các Giờ Kinh Phụng Vụ»).

(Tuy nhiên, bản Nova Vulgata (bản dịch mới), mới phát hành tại Rôma ngày 25/4/1979 dưới thời Đức Gioan-Phaolô II, dịch hai câu trên là «Sed venit hora, et nunc est, quando veri adoratores adorabunt Patrem in Spiritu et veritate; nam et Pater tales quaerit, qui adorent eum; Spiritus est Deus, et eos, qui adorant eum, in Spiritu et veritate oportet adorare». Bản này đổi tất cả chữ «spiritus» (viết thường) thành «Spiritus» (viết hoa), nên nghĩa chữ là «tâm linh» hay «tinh thần» đều phải đổi thành «Thánh Thần» hay «Thánh Linh», khiến ý nghĩa của câu này trở nên khác hẳn với bản Vulgata cũ. 

(Với bản mới, nếu dịch câu Ga 4,24 là «… Thiên Chúa là Thánh Thần ...» thì không hiểu có còn đúng với thần học của Giáo Hội từ trước đến nay không. Vì nói «Thánh Thần là Thiên Chúa» thì đúng, nhưng nói «Thiên Chúa là Thánh Thần» thì rõ ràng là thiếu logic. Cũng như nói «Đức Phanxicô là con người» thì quá đúng, nhưng nói «Con người là Đức Phanxicô» thì làm sao đúng được? Vì nếu như vậy, thì mọi người trên thế giới đều có thể lý luận: vì tôi là con người, nên tôi là Đức Phanxicô). Vả lại, khi nói về Thánh Thần, Giáo Hội dùng chữ Spiritus Sanctus, hay Creator Spiritus, chứ không dùng chữ Spiritus một mình. 

(Vấn đề phải đặt ra là Đức Giêsu đã nói theo ý nghĩa nào khi nói với một phụ nữ đơn sơ như người phụ nữ Samari? Bản Vulgata cũ và bản mới bản nào gần với bản gốc Hy Lạp hơn? Và động lực nào khiến bản mới đã sửa lại như vậy? Sửa lại cho hợp với quan điểm thần học của người dịch, hay vì khám phá ra bản gốc Hy Lạp là đều viết hoa những chữ ấy? v.v...)

Tôi nghĩ, để dễ hiểu, có thể dịch câu trên (theo bản Vulgata cũ) là «… những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha bằng tâm linh và sự thật...» (Ga 4,23) và câu kế tiếp là «Thiên Chúa là tâm linh, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng bằng tâm linh và sự thật» (Ga 4,24).

Như vậy, việc thờ phượng Thiên Chúa chủ yếu là phải xảy ra trong nội tâm con người, hơn là xảy ra ở bên ngoài (ngoại cảnh, hữu hình, thấy được, tức bằng những nghi thức), mặc dù việc thờ phượng bên ngoài ấy vẫn cần thiết (với điều kiện phải có cái chủ yếu bên trong). Nếu những nghi thức bên ngoài không kèm theo nội dung hay cái chủ yếu bên trong, thì nó trở thành vô giá trị, tương tự như trái trứng bị rỗng ruột, hay những bao bì rất đẹp không đựng gì cả. Vỏ trứng và bao bì rất cần thiết để bảo vệ cái chính yếu bên trong, nhưng khi chỉ còn là vỏ không thì thường bị bỏ vào sọt rác.

Đức Giêsu đã giải thích tại sao lại phải thờ phượng Thiên Chúa bằng tâm linh: Vì «Thiên Chúa là tâm linh» nên cách tốt nhất, thích hợp nhất là dùng tâm linh hay nội tâm của mình để thờ phượng Ngài, và muốn gặp Ngài, thì cũng phải gặp bằng tâm linh của mình. Điều đó thật dễ hiểu, dễ hiểu hơn và dễ dàng hơn là việc dùng thể chất để gặp một thực tại tâm linh.

«Thờ phượng Thiên Chúa bằng sự thật»: Trong lịch sử con người, đã có hai cách thờ phượng Thiên Chúa là thờ phượngbằng những nghi thức thấy được (như sát tế con vật, lễ toàn thiêu, dâng hương, dâng thánh lễ, cầu nguyện, đọc kinh, rước sách, v.v...), và thờ phượng Thiên Chúa bằng tâm linh (việc thờ phượng chủ yếu xảy ra trong nội tâm con người như sát tế "cái tôi" và những gì thuộc về "cái tôi" như ý riêng, những ham muốn, v.v...). Thiên Chúa muốn con người thờ phượng Ngài theo cách sau hơn là cách trước.

Cách trước là thờ phượng Thiên Chúa qua những nghi thức tôn giáo thấy được, mà Cựu Ước chủ trương. Việc «Thờ phượng Thiên Chúa bằng sự thật» đòi hỏi những gì bên ngoài phải phù hợp với tâm tình bên trong nội tâm. Sự phù hợp đó chính là sự thật. Nếu trong và ngoài không phù hợp với nhau, thì đó là giả dối. Nếu miệng ta nói «Lạy Chúa, con tin Chúa, con yêu Chúa, con phó thác mọi sự cho Chúa» nhưng thực tế của đời ta không phản ảnh điều ta nói với Ngài như vậy, thì đó là một hình thức giả dối. Nếu miệng ta nói một đằng, mà thực tế trong lòng ta, hoặc đời sống của ta lại là đằng khác, thì rõ ràng đó không phải là «Thờ phượng Thiên Chúa bằng sự thật» như Ngài đòi hỏi. Nếu khi mua một món đồ, ngoài bao bì giới thiệu đúng là món đồ ta muốn mua, nhưng khi mở ra thì thấy đó không phải là món đồ đúng như bao bì giới thiệu. Lúc đó ta nghĩ sao? phản ứng của ta thế nào?

Việc thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối như thế, Thiên Chúa chẳng ưa chút nào. Đức Giêsu có nói về cách thờ phượng này: «Dân này thờ kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích» (Mt 15,8-9a). 

Thiên Chúa qua miệng ngôn sứ Isaia cũng đả kích kiểu thờ phượng giả dối ấy: «Đức Chúa phán: "Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta, nào nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm! Khi các ngươi đến trình diện Ta, ai khiến các ngươi phải giẫm lên khuôn viên của Ta? Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sa-bát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạt linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu. Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa. Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ"» (Is 1,11-17).

***

(2*) Một số câu Thánh Kinh nói về sự hiện diện của Ngài khắp nơi, trong tha nhân, trong cỏ cây, vạn vật, v.v... như:  

● St 28,16 => «Gia-cóp tỉnh giấc và nói: "Quả thật, có Đức Chúa ở nơi này mà tôi không biết!"».
● Gs 2,11 => «Thiên Chúa của các ông, là Thiên Chúa ngự chốn trời cao cũng như nơi đất thấp».
● 1V 8,27 => «Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây».
● Tv 139,7,8 => «Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài».
● Cn 15,3 => «Mắt Đức Chúa ở mọi nơi mọi chỗ, hằng dõi theo kẻ dữ người lành».
● Is 57,15 => «Ta ngự chốn cao vời và thánh thiện, nhưng vẫn ở với tâm hồn khiêm cung tan nát».
● Gr 23,24 => «Có ai ẩn mình trong nơi bí mật mà Ta lại không thấy».
● Mt 18,20 => «Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ».
● Cl 1,17 => «Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người».
v.v...
Share: