Thứ Hai, 29 tháng 7, 2019

TN19a - Hãy chuẩn bị hành trang cho cuộc sống mai sau




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 19 Thường Niên

(11-8-2019)


Hãy chuẩn bị hành trang cho cuộc sống mai sau



ĐỌC LỜI CHÚA

  Kn 18,6-9: (9) Con lành cháu thánh của những người lương thiện (…) đồng tâm nhất trí về luật sau đây của Thiên Chúa, là trong dân thánh, có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia.

  Dt 11,1-2.8-19: (13) Tất cả các tổ phụ (…) đều xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất. (14) Như vậy cho thấy là họ đang đi tìm một quê hương. (15) Và nếu quả thật họ còn nhớ tới quê hương mình đã bỏ ra đi, thì họ vẫn có cơ hội trở về. (16) Thực ra các ngài mong ước một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời.

  TIN MỪNG: Lc 12,32-48

Hãy chuẩn bị kho tàng trên trời

(32) «Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em. (33) Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá. (34) Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó».

Phải sẵn sàng chờ chủ trở về

(35) «Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. (36) Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. (37) Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. (38) Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ. (39) Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu. (40) Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến».

(41) Bấy giờ ông Phêrô hỏi: «Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?» (42) Chúa đáp: «Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc? (43) Khi chủ về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy, thì thật là phúc cho anh ta. (44) Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình. (45) Nhưng nếu người đầy tớ ấy nghĩ bụng: «Chủ ta còn lâu mới về», và bắt đầu đánh đập tôi trai tớ gái và chè chén say sưa, (46) chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không ngờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt phải chung số phận với những tên thất tín.

(47) «Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. (48) Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt, thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn».



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao có nhiều người mải mê tìm kiếm của cải chóng qua ở đời này, mà không màng đến những của cải quí giá và lâu bền hơn cho đời sau? Có phải là trong thực tế họ không tin có cuộc sống vĩnh cửu đời sau?

2. Muốn chuẩn bị của cải cho cuộc sống đời sau thì bây giờ phải làm gì? Của cải dùng cho đời sau là gì?

3.  Nếu ta không chuẩn bị những gì cần thiết cho cuộc sống đời sau, thì đến bao giờ ta mới chuẩn bị? Bạn nghĩ gì về câu «now or never» (= nếu không bây giờ thì sẽ chẳng bao giờ).
Suy tư gợi ý:

1.  Đừng mải mê thu gom những của cải trần gian

Một bé gái 5 tuổi quí con búp-bê của em vô cùng, đến nỗi khi ngủ, em đòi phải cho búp-bê ngủ với mình. Có lần bị mất búp-bê, em buồn bã khóc lóc cả ngày khiến cha mẹ em phải mua ngay con khác thay thế. Nhưng em vẫn thương tiếc con búp-bê cũ. Nhiều người thử phản ứng của em, đề nghị em đổi búp-bê lấy đồng hồ, tivi, xe gắn máy, xe hơi – toàn là những thứ giá trị gấp 100, gấp 1000, thậm chí gấp 100.000 lần búp-bê – nhưng em nhất quyết không đổi. Đối với em, búp-bê là tài sản quý giá nhất, không gì đổi được. Nhưng đến năm 10 tuổi, em coi búp-bê không ra gì nữa, em bắt đầu thích những đồ chơi điện tử… Đến năm 20 tuổi, em đã trưởng thành, tất cả những thứ mà từ trước đến giờ em cho là vô giá, đều trở nên vô giá trị. Bây giờ em mới bắt đầu thích tiền, vàng bạc, là những thứ trước kia em không thèm, vì hiện nay em đã biết tiêu tiền: em nhận ra nhờ tiền, vàng bạc, em có thể mua tất cả mọi thứ em thích.

Khi còn là em bé, em chưa hiểu và cũng chưa quan niệm được giá trị của đồng tiền, của vàng bạc, chưa có nhu cầu sử dụng tiền bạc. Đối với em, chỉ có con búp-bê là có giá trị, vì nó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu rất ít ỏi của em: làm bạn với em, an ủi em, thỏa mãn tình cảm đơn sơ của em. Nhưng khi lớn lên, hiểu được giá trị của tiền bạc, em thấy việc em không chịu đổi búp-bê lấy những của quí giá hơn quả là một sự khờ dại. Cũng vậy, hiện nay, nhiều người suốt đời say mê tìm kiếm những của cải chóng qua, nay còn mai mất, mà không hề biết hay màng đến những thứ của cải lâu bền không bao giờ mất đi được, giá trị gấp triệu lần những của cải họ đang mải mê tìm kiếm. Tại sao? Chỉ vì họ chưa có một quan niệm, chưa hiểu gì về giá trị của thứ của cải lâu bền ấy. Nhìn bằng con mắt tâm linh, cho dẫu đã 4,5 chục tuổi, họ vẫn chỉ là những «em bé lớn tuổi», trí óc họ chẳng khác gì một em bé. Họ đâu biết rằng sau khi chết, khi bước vào đời sống vĩnh cửu, tất cả những của cải họ thu gom suốt cả đời mà họ tưởng rằng rất có giá trị, bỗng trở nên hoàn toàn vô giá trị trong cuộc sống vĩnh cửu. Lúc đó, họ mới thấy họ hoàn toàn trắng tay và nghèo hơn ai hết, vì họ đã không hề tích trữ những của cải cần thiết cho cuộc sống vĩnh cửu.



2.  Hãy chuẩn bị của cải cho cuộc sống mai sau

Sống ở trần gian này ta không thể không cần đến những của cải thích hợp cho cuộc sống tại đây. Nhưng cuộc sống ở trần gian này chỉ kéo dài nhiều lắm là 100 năm. Người Kitô hữu tin rằng sau cuộc sống ngắn ngủi được kết thúc bằng cái chết này, con người bước vào một cuộc sống khác lâu dài hơn rất nhiều, với cách hiện hữu hoàn toàn khác. Lúc đó, con người cần một loại của cải hoàn toàn khác với thứ của cải trần gian. Của cải trần gian dù đã gom góp được nhiều đến đâu, khi ấy, đều trở nên vô dụng. Vì thế, thật là dại dột khi ở trần gian này con người dành hết thì giờ mình có để gom góp thứ của cải vốn chỉ sử dụng được ở trần gian này, mà không biết tìm kiếm những của cải cần thiết cho cuộc sống vĩnh cửu.

Hãy xem những người đang dự tính trong tương lai sẽ định cư lâu dài ở một nước khác: họ coi cuộc sống hiện nay ở trong nước họ đang sống chỉ là tạm bợ. Vì thế, họ không màng tìm danh vọng, địa vị hay mua sắm nhà cửa gì trong nước hiện tại, mà họ chuẩn bị cho cuộc sống tương lai ở nước ngoài. Để chuẩn bị cho tương lai lâu dài ở nước ngoài, nhiều khi họ phải từ chối những việc làm béo bở, những địa vị hái ra tiền, những căn nhà khang trang… trong hiện tại, chỉ vì chúng có thể gây cản trở cho việc ra đi của họ. Nhiều người lo kiếm tiền để gửi ngân hàng ở quốc gia nơi họ sắp đến định cư, để khi đến quốc gia ấy, họ đã có sẵn tài sản cần thiết để xây dựng cuộc sống của họ. – Đó là sự khôn ngoan thường tình mà ai cũng biết. Thế nhưng rất nhiều người lại không hề biết áp dụng sự khôn ngoan ấy để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu của mình trên trời. Bài Tin Mừng cảnh báo chúng ta về sự dại dột ấy và khuyên chúng ta hãy khôn ngoan dùng thì giờ ở trần gian để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Đó mới là cuộc sống đích thực của chúng ta.



3.  Chuẩn bị thế nào cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau?

Cuộc sống vĩnh cửu mai sau là cuộc sống trong vương quốc của tình yêu. Chỉ những người có tình yêu đích thực – nghĩa là những người giống như Thiên Chúa (mà bản chất là tình yêu) – mới có thể nhập vào vương quốc ấy. Vì thế, tình yêu vừa là «» vào cửa, là «visa» để nhập cảnh, vừa là tài sản để sử dụng trong vương quốc ấy. Do đó, muốn chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau, điều quan trọng và tối cần thiết phải làm ở đời này là phải có được tình yêu đích thực. Tình yêu đích thực khác với tình yêu giả tạo, mặc dù tình yêu giả tạo cũng có vẻ là tình yêu. Tình yêu đích thực chỉ có được khi con người biết ra khỏi chính mình, biết từ bỏ mình, biết quan tâm đến vinh quang của Thiên Chúa và hy sinh cho nhu cầu của tha nhân.


Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đề nghị một việc làm cụ thể để có được tình yêu đích thực: «Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời». Khi «bố thí» – ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng là quan tâm đến nhu cầu của tha nhân và hy sinh cho họ – thì ta sắm được «những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời». Có lần Đức Giêsu nói rất rõ: «Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời» (Mt 19,21). Kho tàng ở trên trời ấy chính là tình yêu đích thực ta «sắm» được ở đời này. Nếu ta không chuẩn bị cho mình những gì cần thiết để vào Nước của Thiên Chúa, làm sao ta có thể vào đó được?


4.  Khi nào ta mới chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu?

Phần cuối của bài Tin Mừng nhắc nhở rằng Thiên Chúa có thể gọi ta về bên kia thế giới bất kỳ lúc nào. Có thể hàng mấy chục năm nữa, nhưng cũng có thể là năm sau, tháng sau, mà cũng rất có thể là ngày mai hay chỉ một tiếng đồng hồ nữa. Không ai biết được ngày giờ nào mình phải ra đi! Nếu chúng ta không chuẩn bị cho cuộc sống mai sau ngay từ bây giờ, thì chúng ta sẽ có khuynh hướng dời sự chuẩn bị ấy cho đến lúc chết, để cuối cùng chúng ta ra đi mà chẳng chuẩn bị gì. Điều gì phải làm ngay kẻo trễ thì người ta làm được vì người ta ấn định ngày giờ làm. Điều gì người ta nghĩ còn có nhiều thì giờ để làm, hay lúc nào làm cũng được, thì cuối cùng người ta chẳng bao giờ làm cả. Đúng như câu châm ngôn: «Now or never» (= không bây giờ thì sẽ chẳng bao giờ). Vì thế, kẻ biết chuẩn bị cho đời sau thì sẽ chuẩn bị ngay từ bây giờ. Còn kẻ không chuẩn bị bây giờ thì dù họ có sống hết cả trăm năm, cuối cùng đến lúc chết họ cũng chưa hề chuẩn bị. Và như thế thì thật là… bất hạnh!



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, ra đi và nhất là đi xa, đi lâu, mà không hề chuẩn bị gì thì thật là dại dột! Xin giúp con biết chuẩn bị cho cuộc ra đi cuối cùng để bước vào cuộc sống vĩnh cửu. Một cuộc ra đi vô cùng quan trọng! Xin giúp con biết chuẩn bị ngay từ bây giờ hành trang cần thiết cho cuộc ra đi vĩnh viễn ấy. Hành trang ấy chính là tình yêu đích thực mà con phải thường xuyên thể hiện ngay bây giờ với những người đang sống chung quanh con. Xin đừng để con chuẩn bị quá muộn màng…


Share:

TN19b - Cầu nguyện bằng hành động: một cách tỉnh thức chờ Chúa đến




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 19 Thường Niên

(11-8-2019)

Bài đào sâu

Cầu nguyện bằng hành động: 
một cách tỉnh thức chờ Chúa đến


  TIN MỪNG: Lc 12,32-48 

Hãy chuẩn bị kho tàng trên trời
Phải sẵn sàng chờ đón chủ trở về


Câu hỏi gợi ý:
1. Tỉnh thức là để làm gì? Đối với người Kitô hữu, tỉnh thức kiểu nào là hữu hiệu nhất, đẹp ý Chúa nhất?

2. Trong đời sống giáo dân, có thể cầu nguyện khi làm bất cứ việc gì không? Có cách nào biến tất cả mọi việc ta làm thành lời cầu nguyện không?

Suy tư gợi ý:

1.  Hãy tỉnh thức. Hãy sẵn sàng.

Đức Giêsu khuyên chúng ta luôn luôn tỉnh thức. Nhưng tỉnh thức để làm gì? Để luôn luôn sẵn sàng đến trước mặt Chúa bất cứ lúc nào Chúa gọi, với tâm hồn trong sáng, đầy tình yêu và đáng yêu. Một người luôn sống đẹp lòng Chúa, yêu thương mọi người, thì luôn luôn cảm thấy mình sẵn sàng đến trước mặt Chúa. Tỉnh thức đối với họ không phải là một tâm trạng bất an của người phải luôn canh chừng kẻo kẻ trộm hay kẻ cướp tới nhà. Tỉnh thức ở đây là một tâm trạng luôn luôn bình an, không phải nơm nớp lo sợ, vì mọi sự đã được xếp đặt an toàn, kẻ trộm có đến bất ngờ thì cũng bó tay, chẳng lấy được mình cái gì. Tỉnh thức kiểu này mới là khôn ngoan nhất.

Từ nhỏ tôi đã nghe cha linh hướng của tôi kể câu chuyện về vị thánh còn rất trẻ tuổi là Đaminh Saviô. Đó là câu chuyện tôi rất thích và ảnh hưởng đến đời sống của tôi rất nhiều. 


Một hôm, vào giờ chơi thể thao, Saviô đang chơi với chúng bạn ngoài sân. Cha Bốscô bèn gọi thánh nhân ra hỏi:

-  Giả như 15 phút nữa Chúa gọi con về với Chúa, thì bây giờ con làm gì?

-  Con vẫn tiếp tục chơi!

-  Con không đi xưng tội hay cầu nguyện để dọn mình chết sao?

-  Bây giờ là giờ chơi, mọi người có bổn phận phải chơi để thân thể khỏe mạnh. Vì thế, con nghĩ cứ chơi là đẹp ý Chúa nhất. Dọn mình chết không gì tốt bằng làm điều đẹp lòng Chúa nhất. Vả lại, lúc nào tâm hồn con cũng sẵn sàng trở về với Chúa! .


Khi kể câu chuyện ấy xong, cha linh hướng bảo rằng: «
Nếu vào giờ chơi luật tu viện buộc phải chơi, mà các con vào nhà thờ cầu nguyện, thì việc cầu nguyện ấy không đẹp lòng Chúa đâu! Vả lại, chính khi các con chơi để đẹp lòng Chúa vì Chúa muốn giờ đó các con chơi, thì lúc ấy chơi chính là cầu nguyện, mặc dù các con chẳng có vẻ gì là cầu nguyện, hay chẳng có ý hướng cầu nguyện gì lúc ấy cả.»

Từ khi nghe cha linh hướng kể câu chuyện ấy, tôi bắt đầu có ý nghĩ đến hình thức cầu nguyện bằng hành động hay bằng việc làm, và làm việc trong cầu nguyện.



2.  Tỉnh thức theo kiểu cầu nguyện bằng hành động

Tỉnh thức kiểu của Saviô trên có vẻ như không tỉnh thức, nhưng đích thực là luôn luôn tỉnh thức, có vẻ như không cầu nguyện, nhưng đích thực là luôn luôn cầu nguyện.

Tôi cũng thích câu chuyện 2 người ghiền hút thuốc hỏi cha linh hướng. Một người hỏi: «
Thưa cha, vừa cầu nguyện vừa hút thuốc có được không?» Cha nói: «Không được!» Còn người kia hỏi: «Vừa hút thuốc vừa cầu nguyện có nên chăng?» Cha đáp: «Tốt lắm! Nên lắm!» 

Hai câu trả lời ấy rất đúng nhưng lại làm cho hai người có hai thái độ cầu nguyện khác nhau: một người hễ cầu nguyện thì không dám hút thuốc và hễ hút thuốc thì không dám cầu nguyện; còn người kia thì có thói quen hễ bắt đầu hút thuốc là bắt đầu cầu nguyện.

Thì ra không nên làm gì khác trong khi cầu nguyện, nhưng lại có thể cầu nguyện khi làm bất cứ điều gì. Thế là từ đấy về sau, nhất là trong đời sống giáo dân của tôi vốn không thể dành nhiều giờ để cầu nguyện, tôi thường cầu nguyện và kết hiệp với Chúa khi làm bất cứ điều gì. Vì thế, công việc tôi làm thường được chìm trong ý hướng tỉnh thức và cầu nguyện. Nhờ đó, tôi dễ làm tốt đẹp công việc của mình, với ý hướng siêu nhiên. Và khẩu hiệu của tôi là biến mọi hành động, mọi công việc thành cầu nguyện. Đời sống nội tâm của tôi nhờ thế phát triển hơn, mà có vẻ như rất ít khi cầu nguyện.

Tuy nhiên, tôi vẫn dành ra mỗi ngày vài lần, mỗi lần ít phút để cầu nguyện nghiêm túc, nghĩa là trong những phút cầu nguyện ấy tôi không làm gì khác. Chính nhờ những giây phút cầu nguyện kiểu thuần túy ấy, tôi mới trung thành được với thói quen vừa làm mọi việc vừa cầu nguyện.




3.  Cầu nguyện bằng hành động cũng là cách cầu nguyện tuyệt vời

Cầu nguyện là nói với Chúa. Nhưng quả thật, trong đời sống con người, lời nói không phải luôn luôn đi đôi với hành động. Biết bao người khi cầu nguyện, họ nói với Chúa một đằng, còn trong đời sống thực tế họ lại hành động một đằng khác. Họ nói rất hay mà làm rất dở, giống như người con thứ hai trong dụ ngôn hai người con trong Tin Mừng: hứa với cha sẽ đi làm vườn nho nhưng lại không đi (x. Mt 21,28-32). Đây cũng là một căn bệnh của thời đại, trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội. Tuy nhiên, có những người không nói, hoặc nói ít, nhưng hành động thật sự. Họ không nói hay tuyên bố là họ yêu ai cả, nhưng hành động và cách xử sự của họ chứng tỏ họ yêu thương mọi người thật sự.

Xét điều ấy, ta thấy hành động cũng là một cách nói rất có giá trị. Giữa hai cách: Một là nói «
tôi yêu bạn», hai là biểu lộ tình yêu bằng hy sinh thật sự cho bạn, thì cách nào nói lên tình yêu nhiều hơn và chân thật hơn? Nếu hy sinh thật sự có giá trị hơn lời nói, thì cầu nguyện bằng hành động là một cách cầu nguyện tuyệt vời, chắc chắn có giá trị hơn hẳn trước mặt Thiên Chúa. Đó cũng là kết hợp với Chúa qua ý chí và hành động. 

Nếu chỉ cầu nguyện bằng lời nói xuông, không có hành động kèm theo bảo chứng cho những lời nói ấy, thì hóa ra lời cầu nguyện của ta chỉ toàn là nói sạo, hoặc hứa hão với Chúa! Đức Giêsu cũng nói: «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào thôi» (Mt 7,21)

Như vậy, những Kitô hữu nào không thể dành nhiều thì giờ để cầu nguyện kiểu thuần túy, vẫn có thể cầu nguyện khi làm tất cả mọi việc, hoặc biến tất cả mọi việc ấy thành cầu nguyện. Thiết tưởng đó là một cách tỉnh thức rất hữu hiệu và đẹp lòng Chúa.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, lúc nào con cũng có thể hành động trong ý hướng muốn làm đẹp lòng Cha, và làm theo cách Cha mong muốn con làm. Nghĩa là con phải làm cách nào hoàn chỉnh nhất, hợp lý nhất, đem lại ích lợi và hạnh phúc cho nhiều người nhất. Con muốn hiệp nhất ý của con với ý của Cha trong từng hành động một. Và con nghĩ đó là cách cầu nguyện bằng hành động, hay biến hành động thành cầu nguyện. Xin cho con đủ tình yêu để thực hiện được điều ấy. Amen.

Nguyễn Chính Kết




Share:

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2019

TN18a - Đừng tham muốn cách ích kỷ; hãy tham muốn cách vị tha




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 18 Thường Niên

(04-8-2019)


Đừng tham muốn cách ích kỷ; 
hãy tham muốn cách vị tha



ĐỌC LỜI CHÚA

  Gv 1,2; 2,21-23: (2) Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.

  Cl 3,1-5.9-11: (1) Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. (2) Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.

  TIN MỪNG: Lc 12,13-21

Đừng thu tích của cải cho mình

(13) Có người trong đám đông nói với Đức Giêsu rằng: «Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi». (14) Người đáp: «Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?» (15) Và Người nói với họ: «Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu»

(16) Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: «Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, (17) mới nghĩ bụng rằng: “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!” (18) Rồi ông ta tự bảo: “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. (19) Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!”  (20) Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (21) Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó».



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Có mấy cách tham muốn? Tham muốn những điều tốt lành đặc biệt cho tha nhân và cho tâm linh mình là điều tốt hay xấu? Khi nào tham muốn trở thành xấu?
2. Yêu thương bản thân mình là tốt hay xấu? Khi nào là tốt, khi nào là xấu?
3.  Quan tâm đến hạnh phúc hiện tại của mình mà không quan tâm đến hạnh phúc tương lai của mình là khôn hay dại? Muốn được hạnh phúc lâu dài trong tương lai thì phải làm gì?

Suy tư gợi ý:

1.  Ai cũng có lòng tham

Đã là con người, ai cũng có tính tham, nghĩa là lòng ham muốn có thêm những điều mà mình cho là tốt đẹp, thuận lợi, có khả năng đem lại hạnh phúc cho mình. Thiên Chúa sinh ra con người như vậy, vì có lòng tham muốn, con người mới tiến bộ, xã hội mới thăng tiến. Tham muốn rồi được thỏa mãn là một nguồn vô tận đem lại hứng thú, sinh khí và hạnh phúc cho con người. Do đó, tham muốn chính là một điều tốt đẹp mà Thiên Chúa đã đặt vào lòng của con người ngay khi tạo dựng nên họ

Tuy nhiên, tham muốn cũng là một cái bẫy để Thiên Chúa thử thách về tình yêu mà con người dành cho Ngài và cho tha nhân. Vì tình yêu đòi hỏi tâm thức ra khỏi chính mình để hướng đến đối tượng mình yêu thương.



2.  Hai cách tham muốn

Do đó, có hai cách tham muốn: tham muốn do tình yêu và tham muốn do ích kỷ.

a) Tham muốn do tình yêu dẫn con người đến hạnh phúc cho mình và cho người, đó là tham muốn cách khôn ngoan sáng suốt. Vì «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16), mà con người được tạo dựng «
theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa» (x. St 1,26-27; 9,6; Kn 2,23), nên con người chỉ được hạnh phúc khi sống phù hợp với bản tính yêu thương của mình

Do đó, những tham muốn mang tính vị tha, mong cho Thiên Chúa được vinh danh và tha nhân được hạnh phúc, tuy không trực tiếp nhắm đem lại ích lợi cho bản thân, nhưng lại giúp con người đạt đến hạnh phúc đích thực.

b) Còn tham muốn do tính ích kỷ dẫn con người đến đau khổ cả cho mình lẫn cho người, đó là tham muốn cách ngu xuẩn dại dột. Ích kỷ (egoism=duy ngã)chỉ nghĩ và lo cho mình, cho hạnh phúc và đau khổ của mình, mà không nghĩ hay lo gì cho tha nhân, cho hạnh phúc và đau khổ của tha nhân. Điều này đi ngược lại bản tính yêu thương mà Thiên Chúa đã đặt để trong lòng con người. Suy nghĩ và hành động ngược với bản tính yêu thương ấy, con người sẽ gặp đau khổ.




3.  Yêu mình cách sáng suốt và yêu mình cách dại dột

Đã là con người, ai cũng yêu chính bản thân mình, chính Thiên Chúa cũng yêu bản thân mình, và đã tạo dựng nên con người giống như vậy. Thật vậy, Thánh Phaolô viết: «không ai ghét thân mình bao giờ» (Ep 5,29)

Người ích kỷ tự tách rời bản thân mình ra khỏi Thiên Chúa và toàn thể vũ trụ, tách rời lợi ích của mình ra khỏi lợi ích chung của Thiên Chúa và toàn vũ trụ. Trong khi Thiên Chúa và toàn vũ trụ là một toàn thể tương tự như một thân thể duy nhất, trong đó Thiên Chúa là đầu và vũ trụ là thân mình và tay chân (x. 1Cr 12,12-27)

Do đó, Thiên Chúa mới chính là «cái tôi» đúng nghĩa nhất của mỗi người, còn tha nhân và vạn vật trong vũ trụ là «cái tôi nối dài» của mỗi người. Nên bất kỳ hành động nào của ta nào nhằm đem lại vinh quang cho Thiên Chúa và hạnh phúc cho tha nhân hay vũ trụ đều đem lại kết quả tốt đẹp và hạnh phúc cho bản thân ta. Còn bất kỳ hành động nào gây bất lợi cho Thiên Chúa hay tha nhân, đều đem lại bất lợi và đau khổ cho bản thân ta.

Thánh Âu-Tinh nói: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn chính bản thân tôi» (Deus intimior intimo meo). Điều đó có nghĩa Thiên Chúa mới là «cái tôi» sâu thẳm nhất của ta, mới chính là bản thân ta cách đúng nghĩa nhất. Nên điều gì đem lại vinh quang cho Thiên Chúa đều đem lại hạnh phúc cho ta.

Còn tha nhân là «cái tôi nối dài» của ta, tương tự như tay chân và mọi bộ phận trong cơ thể của ta. Chúng không phải là ta, nhưng là «cái tôi nối dài» gần nhất của ta. Một người nọ uống rượu quá nhiều, y sĩ bảo: uống rượu nhiều sẽ làm hại gan. Nhưng anh ta nghĩ: gan ta đâu phải là ta, ta cần gì phải lo cho nó; ta cứ uống rượu cho thỏa thích bản thân ta, vì ta phải yêu bản thân ta. Cuối cùng, khi gan bị bệnh, thì chính bản thân anh cảm thấy đau đớn. Lúc đó anh mới hiểu lá gan của anh chính là «cái tôi nối dài» của anh, nên làm hại lá gan chính là làm hại bản thân mình


Một người khác không thèm quan tâm và lo lắng gì đến vợ con mà còn hành hạ vợ con nữa. Anh ta nghĩ: vợ con mình đâu phải là mình, cần gì phải lo cho họ. Đến khi anh bị bệnh hoặc thất thế, cần có người chăm sóc nuôi dưỡng, khi ấy vợ con anh bỏ mặc, vì trước đó anh có quan tâm đến họ đâu?! Lúc ấy anh mới nhận ra vợ con mình tuy không trực tiếp là mình nhưng là «cái tôi nối dài» của mình, là bản thân mình một cách gián tiếp. Không lo cho vợ con chính là không lo cho bản thân. Làm vợ con đau khổ thì kết quả cuối cùng là làm cho chính mình đau khổ. 

Tương tự, nếu ta không chịu chăm sóc cho chiếc xe của ta, thì có lúc chính chiếc xe ấy sẽ hành hạ ta. Chiếc xe của ta cũng là «cái tôi nối dài» của ta. Tất cả mọi người, mọi vật trên thế giới, kể cả thiên nhiên,  đều là «cái tôi nối dài» của ta. Khi con người vì ích lợi riêng trước mắt của mình mà phá rừng, làm ô nhiễm môi trường… thì cuối cùng con người đã phá hoại chính mình.

Do đó, yêu mình cách sáng suốt nhất là yêu cả Thiên Chúa và tha nhân, mọi hành động đều phải nhắm ích lợi cho toàn thể, nghĩa là phải làm sao để «ích người, lợi ta». Kinh Thánh dạy: «Hãy yêu tha nhân như yêu chính mình»
(Mt 19,19b), lý do rất đơn giản: vì tha nhân rốt cuộc cũng là chính mình nối dài ra. Nếu chỉ ích người mà trước mắt không lợi cho ta, thì sớm muộn gì cái ích lợi ta làm được cho người cũng trở về làm ích lợi cho ta bội phần. Không bao giờ ta làm gì ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân mà ta lại bị thiệt thòi, cho dù trước mắt là ta bị thiệt.



4.  Đừng chỉ quan tâm đến hạnh phúc của mình trong hiện tại, mà quên đi hạnh phúc của mình trong tương lai

Nhà phú hộ trong bài Tin Mừng chỉ nghĩ tới lợi ích và hạnh phúc của mình và lo cho nó ngày càng tăng thêm, ngoài ra không còn nghĩ gì tới lợi ích và hạnh phúc của ai. Ông cũng chỉ nghĩ tới lợi ích và hạnh phúc của mình trong hiện tại mà không nghĩ gì tới lợi ích và hạnh phúc cũng của mình trong tương lai, nhất là tương lai sau cái chết. 

Rất nhiều khi lợi ích và hạnh phúc của mình trong hiện tại đi ngược lại lợi ích và hạnh phúc của mình trong tương lai. Nghĩa là lợi ích và hạnh phúc hiện tại có thể là nguyên nhân gây nên những mất mát hoặc đau khổ trong tương lai. Nhất là khi lợi ích và hạnh phúc trong hiện tại đi ngược lại lợi ích hay hạnh phúc của Thiên Chúa và tha nhân. Vì bất kỳ điều gì ta gây thiệt hại hay đau khổ cho Thiên Chúa và tha nhân thì thiệt hại hay đau khổ ấy đều chắc chắn trở lại với chính bản thân ta một ngày nào đó trong tương lai. Đó là luật quả báo: nhân lành sinh quả lành, nhân ác sinh quả ác, «cây tốt sinh quả tốt, cây xấu sinh quả xấu» (Mt 7,17)

Người khôn ngoan thật sự là người không chỉ biết lo cho hạnh phúc của mình trong hiện tại, mà còn lo cho hạnh phúc của mình trong tương lai, bằng cách ngay trong hiện tại biết lo cho vinh quang của Thiên Chúa và hạnh phúc của tha nhân. Đó chính là sự tham muốn khôn ngoan và chính đáng nhất.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, khi dựng nên con, Cha đã đặt để ở trong con lòng tham muốn để nhờ đó con có động lực mà tiến bộ về mọi mặt, nhất là về tâm linh. Nhưng lòng tham muốn là một con dao hai lưỡi: nếu tham muốn cách ích kỷ, thì lòng tham muốn ấy cuối cùng chỉ gây nên đau khổ cho bản thân con; nếu tham muốn cách vị tha, nó sẽ đem lại cho con niềm vui và hạnh phúc lâu dài. Vấn đề mấu chốt vẫn là con có tình yêu hay không. Nếu có tình yêu, mọi tham muốn của con đều là vị tha và đều đem lại hạnh phúc. Nếu không có tình yêu, mọi tham muốn của con đều là ích kỷ và đều đem lại đau khổ cho con. Xin cho con biết tham muốn cách sáng suốt nhất là tham muốn vinh danh Cha và hạnh phúc của tha nhân.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây để đọc bài đào sâu:Người Kitô hữu cần phát triển đời sống tâm linh.
(https://chiasethanhuu.blogspot.com/2019/07/tn18b.html)
Share:

TN18b - Người Kitô hữu cần phát triển đời sống tâm linh





CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 18 Thường Niên

(04-8-2019)


Bài đào sâu

Người Kitô hữu cần phát triển đời sống tâm linh



  TIN MỪNG: Lc 12,13-21

Đừng thu tích của cải cho mình
 
Câu hỏi gợi ý:
1. Sự sống của con người phải chăng chỉ là những sinh hoạt của thân xác với những nhu cầu vật chất và tinh thần thông thường? Còn có gì khác nữa?

2. Muốn sống cho phong phú, tràn đầy, hạnh phúc, phải sống thế nào?

3. So sánh hạnh phúc trong đời sống của thân xác và trong đời sống tâm linh, ta thấy có những điểm khác biệt căn bản nào? (đặc biệt về tính lâu bền?)


Suy tư gợi ý:

1.  Sự sống duy nhất nhưng có nhiều mặt nơi con người

Điều quan trọng nhất đối với con người là sự sống. Sự sống là một thực tại duy nhất nhưng có nhiều mặt, có thể phân loại và sắp xếp theo thứ tự từ cụ thể đến trừu tượng như sau:
 

a) Sự sống tự nhiên hay trần thế, là sự sống có thể bị hủy hoại (nay còn mai mất), lệ thuộc vào những cái chóng qua, những cái dễ bị thay đổi, và lệ thuộc vào những điều kiện của thời và không gian của trần thế. Sự sống này gồm:
 

Đời sống thể chất: liên quan nhiều đến thể xác, cần được nuôi dưỡng bằng vật chất, đồ ăn thức uống, tiền bạc, tiện nghi, sắc dục, v.v...Đời sống tinh thần: liên quan đến những khía cạnh tinh thần của thể xác, như tri thức, tình cảm, ý chí, sở thích, tự do, danh vọng, quyền bính, cần được nuôi dưỡng bằng học hỏi, hiểu biết, tình yêu, lời khen, địa vị, quyền lực, điều kiện và khả năng làm theo sở thích, v.v...

Sự sống siêu nhiên hay tâm linh: là sự sống khó bị hủy hoại nơi bản thân, liên quan nhiều đến linh hồn, đến những thực tại bất tử, siêu việt, siêu thời gian và không gian; được thể hiện thành khát vọng đạt tới Chân Thiện Mỹ, vươn tới Tuyệt Đối; được nuôi dưỡng bằng sự tiếp xúc, tương giao với Tuyệt Đối, với những thực tại siêu việt, bằng những tâm tình hay ý tưởng cao thượng, bằng tình yêu phổ quát mang tính dâng hiến (tức lòng bác ái đích thực). Đây là sự sống mà chính Thiên Chúa đã thông ban cho con người khi nâng con người lên hàng con cái Ngài.

Đó không phải là những sự sống khác nhau, biệt lập nhau, mà là những phương diện hay hình thức sống khác nhau của một sự sống duy nhất. Những phương diện ấy quyện lấy nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, và có thể phát triển với mức độ khác nhau tùy từng người.




2.  Hiện nay, người ta quá quan tâm đến đời sống trần thế mà quên đi đời sống tâm linh

Phương diện của sự sống mà con người cảm nghiệm được dễ dàng nhất, là đời sống thể chất, vì đó là những gì cụ thể, thấy được, sờ được, cảm nhận được. Vì thế, với những người suy tư còn thấp kém, sự sống chủ yếu chỉ là thể chất, với ham muốn ăn ngon mặc đẹp, nhiều tiền bạc, nhà cao cửa rộng, tiện nghi đầy đủ. 

Với những người suy tư cao hơn, đời sống còn là tinh thần, với ham muốn học hỏi, yêu thương, có danh tiếng, địa vị, quyền lực.

Còn đời sống tâm linh, chỉ những ai phản tỉnh cao, sống nội tâm sâu xa, mới cảm nghiệm được sự sống này ở nơi mình, với những nhu cầu cũng rất cấp thiết đòi hỏi phải được thoả mãn của nó: nhu cầu vươn lên đỉnh cao Chân Thiện Mỹ, trở nên một với Tuyệt Đối hay Thiên Chúa là nguồn tình yêu và cũng là sức mạnh vô biên của mình, nhu cầu xả thân, quên mình, làm cho mọi người nên tốt đẹp và hạnh phúc. 


Họ cảm thấy đời sống phong phú và ý nghĩa hơn, hạnh phúc cũng tăng lên rất nhiều khi thực hiện và thỏa mãn được những nhu cầu ấy. Đời sống tâm linh phát triển mạnh khi con người biết quên mình, sống tinh thần tự hủy, không còn sống cho bản thân mà sống cho Thiên Chúa và tha nhân. Đời sống thần bí là một dạng của đời sống tâm linh cao, có cảm nghiệm tương đối rõ rệt về Thiên Chúa và những thực tại siêu việt hay thần linh.

Cũng có rất nhiều người chỉ nghe nói về đời sống tâm linh chứ không tự mình cảm nghiệm được, nên tin có đời sống tâm linh, và đã có những sinh hoạt có vẻ tâm linh, như đọc kinh, cầu nguyện, đi lễ, bên ngoài giống như những người đã cảm nghiệm được đời sống tâm linh. Nhưng vì vẫn tiếp tục chạy theo đời sống thể chất, không đầu tư cho đời sống tâm linh, nên đời sống tâm linh của họ không phát triển được.

Hiện nay, do văn minh thế giới phát triển theo hướng vật chất với những thành tựu của khoa học trên vật chất, nên đời sống vật chất lên cao hẳn so với đời sống tâm linh. Vì thế, đối với rất nhiều người, sự sống bị giản lược vào những sinh hoạt thể chất và tinh thần. Họ chỉ biết lo cho đời sống trần thế của mình được trù phú sung túc, mà quên đi hoặc không biết tới những nhu cầu tâm linh, khiến cho đời sống tâm linh của họ nghèo nàn, kém phát triển. Thực ra, đời sống tâm linh có phát triển thì sự sống mới trở nên dồi dào, phong phú. Đức Giêsu đến là để giúp con người đạt được sự sống đó: «
Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào» (Ga 10,10).



3.  Thiếu đời sống tâm linh, con người không thật sự hạnh phúc

Con người là một sinh vật cao cả, được dựng nên giống Thiên Chúa và theo hình ảnh của Ngài (x. St 1,26). Vì thế, con người không chỉ có đời sống tự nhiên hay trần thế, mà còn có đời sống tâm linh hay siêu thế, là sự tham dự vào đời sống thần linh của Thiên Chúa. Sống dồi dào theo tinh thần của câu Tin Mừng Ga 10,10 là sống đầy đủ mọi chiều kích của sự sống con người. Vì thế, khi con người chỉ sống trong những chiều kích thấp của sự sống, thì con người cảm thấy không hạnh phúc lắm. Hơn nữa, nếu hoàn toàn đắm chìm và bị thu hút trong những cảnh giới thấp ấy, không hề có nỗ lực vươn lên cảnh giới cao hơn, con người sẽ cảm thấy chán chường, đau khổ, cho dù trong những cảnh giới thấp ấy đời sống có đầy đủ đến đâu chăng nữa. 

Chúng ta đã từng nghe nói có những siêu sao màn bạc, thành công tột đỉnh cả tiền tài, tình cảm lẫn danh vọng, nhưng vẫn thấy tâm hồn trống rỗng, buồn chán đến nỗi không chịu nổi phải tự vẫn. Chúng ta cũng nghe nói: những nước có phân xuất tự tử cao nhất thế giới lại là những quốc gia có đời sống vật chất cao nhất, bảo đảm nhất ở Bắc Âu. Điều đó chứng tỏ hạnh phúc đích thực và sự đầy đủ tinh thần lẫn vật chất về mặt trần thế không luôn luôn đi đôi với nhau. Để hạnh phúc đích thật, con người cần có một đời sống tâm linh phát triển.



4.  So sánh giữa sự sống trần thế và sự sống siêu thế

Sự sống thần linh ở trong ta mới là cái quí nhất, tồn tại mãi. Còn sự sống trần thế dù là thể chất hay tinh thần, hay dù có lên cao đến đâu, cũng đều chóng qua và hết sức giả tạm: chỉ cần một biến cố cũng đủ làm thay đổi, làm mất đi phần nào hay tất cả. Vì thế, giá trị của nó không thể sánh được với giá trị của đời sống tâm linh hay thần linh. Tin Mừng nói: «Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?» (Mt 16,26).

Thử so sánh giữa hai phương diện ấy của sự sống ta thấy: sự phong phú của sự sống trần thế hết sức bấp bênh. Biết bao người giầu có với nhà cao cửa rộng, ruộng vườn ngàn mẫu, và địa vị quyền thế không phải nhỏ. Nhưng chỉ cần một cơn bệnh, một cuộc đổi đời, một tai họa, một vụ trộm hay cướp cũng có thể trở thành trắng tay, thậm chí vào tù, hoặc lâm vào cảnh rất đau khổ, v.v... Để sự sống trần thế của mình trở nên phong phú, nhiều khi ta phải đánh đổi: phải thất đức, phải làm cho người khác nghèo khổ, mất địa vị, thậm chí chết hoặc đau khổ tột cùng. Người ta vẫn nói: «
vi phú bất nhân». Sự thất đức luôn luôn có hậu quả hết sức tai hại cho đời sống tâm linh và đời sống hậu thế (sau khi chết)

Sự sống trần thế có phong phú tới đâu thì cũng chỉ kéo dài nhiều lắm là một đời. Tới lúc chết, phải buông bỏ hết và ra đi với hai bàn tay trắng. Tiền bạc, quyền lực, địa vị mình làm nên không đem theo được, mà phải hoàn toàn bỏ lại cho người khác, như sách Giảng Viên trong bài đọc I nói: «Có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng chỉ là phù vân và lại là đại hoạ» (2,21).

Còn đời sống tâm linh, chỉ những ai đã hưởng nếm được, mới cảm nhận được sự ngọt ngào và hạnh phúc của nó. Vì đời sống tâm linh không tùy thuộc vào những thực tại bấp bênh và chóng qua của trần thế, mà liên quan tới những thực tại siêu việt, siêu không gian và thời gian, nên thành quả và hạnh phúc của nó lâu bền, không ai lấy mất được. Hạnh phúc ấy không tùy thuộc vào những hoàn cảnh đổi thay bên ngoài. Chính vì thế, người có đời sống tâm linh cao vẫn có thể hạnh phúc trong những nghịch cảnh: nghèo nàn, tù đày. Họ có thể nghèo mà không khổ, bị tù mà tinh thần vẫn tự do, thoải mái, tự tại


Thiết tưởng mọi người Kitô hữu, là những người tin vào Chúa, vào những thực tại siêu việt, đều phải có đời sống tâm linh cao, nhờ đó, đời sống họ luôn luôn hạnh phúc, bất chấp những hoàn cảnh thay đổi có lợi hay bất lợi.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha đã ban cho con sự sống thần linh của Cha như một mầm sống mà con phải nuôi dưỡng và phát triển trong con. Vì thế, xin cho con biết quan tâm đến sự sống ấy trong con, và sẵn sàng làm tất cả để nuôi dưỡng và phát triển sự sống ấy. Amen.


Share:

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2019

TN17b - Đức Giêsu dạy ta gọi Thiên Chúa là Cha khi cầu nguyện




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 17 Thường Niên

(28-7-2019)


Bài phụ thêm

Đức Giêsu dạy ta gọi Thiên Chúa là Cha
khi cầu nguyện


  TIN MỪNG: Lc 11,1-13

Kinh «Lạy Cha»



Câu hỏi gợi ý:
1.      Khi cầu nguyện, nên gọi Thiên Chúa bằng Cha hay bằng Chúa? Cách nào hợp lý và đúng với tinh thần của Tân Ước hơn? Tại sao?

2.      Thiên Chúa muốn ta nói gì với Ngài khi ta cầu nguyện? Muốn ta ca tụng ngợi khen Ngài, xin xỏ Ngài đủ điều, hay muốn ta tâm sự với Ngài như hai cha con hoặc như hai người bạn tâm giao nói chuyện với nhau?

3.      Thiên Chúa có luôn luôn chiều ý ta, nghĩa là luôn luôn ban cho ta những điều ta cầu xin không? Nếu để ta xin gì được nấy thì điều ấy có ích lợi cho sự trưởng thành của đời sống tâm linh ta không?

Suy tư gợi ý:

1.  Khi cầu nguyện, hãy gọi Thiên Chúa là Cha

Đức Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha, trong đó Ngài muốn các ông gọi Thiên Chúa bằng Cha (Abba). Đây quả là một đổi mới táo bạo, một cuộc cách mạng của Đức Giêsu trong cách nhận thức về Thiên Chúa, đánh dấu sự chuyển đổi từ Cựu Ước sang Tân Ước. Cựu Ước quan niệm Thiên Chúa là chủ tể của vũ trụ, nghĩ đến điều đó thì thật là khủng khiếp, nhất là trong thời đại phong kiến như thời Cựu Ước. Ông vua chỉ một nước nhỏ thôi cũng đã oai phong lẫm liệt như thế nào: giàu sang, quyền thế, nắm quyền sinh sát người dân trong tay. Thế mà Thiên Chúa lại là vua của cả thế giới, hơn nữa, cả vũ trụ. Vì thế, trong Cựu Ước, Thiên Chúa cao cả đến nỗi chỉ cần nhìn thấy Thiên Chúa thì cũng đã phải chết (xem Xh 33,20), thậm chí tới gần nhà tạm của Thiên Chúa cũng đủ để phải chết rồi! (xem Ds 17,28).

Thế nhưng Đức Giêsu đã dạy ta gọi Thiên Chúa là Cha, vì Ngài là người sinh ra ta theo nghĩa đích thực nhất. Còn cha mẹ ở trần gian chỉ là người cộng tác với Ngài trong việc sáng tạo nên bản thân ta. Tình yêu của cha mẹ ta chỉ là hình ảnh tình yêu phụ tử của Ngài đối với ta. Ngài cũng chính là người yêu thương ta nhất, vì tất cả những gì ta có, ta được, dù là tinh thần hay vật chất, đều là do Ngài thương ban cho ta, nhưng thường gián tiếp qua tay một số người nào đó. Những người này dù có cho hay giúp ta điều gì, thì xét cho cùng không phải chính họ cho hay giúp ta, mà là Thiên Chúa, Cha ta, đã cho, đã giúp qua bàn tay của họ.  


Mọi tình yêu mà ta cảm nhận được trên đời đều bắt nguồn từ tình yêu vô biên của Ngài. Người giác ngộ sâu về tâm linh đều cảm nghiệm một cách sâu sắc chính Thiên Chúa mới là Cha của mình theo nghĩa đích thực và căn bản nhất. Chính vì cảm nghiệm rất rõ điều đó, nên Đức Giêsu đã dạy các tông đồ và chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha.

Đương nhiên Thiên Chúa vẫn là Chúa tể của vũ trụ và của ta, nhưng thuộc tính Chúa Tể không căn bản và không diễn tả quan hệ giữa Thiên Chúa và chúng ta đúng bằng thuộc tính Cha. Một vị Chúa tể có thể không sinh ra, và cũng không yêu thương con dân của mình, nhưng một người cha thì không những sinh ra và còn yêu thương con cái mình hơn tất cả mọi người khác. Nhất là khi bản chất của người cha ấy lại là tình thương, là nguồn yêu thương phát xuất ra tất cả những tình cảm yêu thương của mọi người. 


Vì thế, gọi Ngài là Cha nghe có tình nghĩa và thân mật hơn gọi là Chúa. Thật vậy, có ông vua nào lại muốn con cái mình gọi mình là hoàng thượng, hay bệ hạ như mọi thần dân khác mà không gọi mình là cha? Trừ trường hợp ông vua đó nghèo nàn tình cảm, và chỉ ham thích quyền bính. Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa đầy tình yêu thương, chắc chắn Ngài muốn chúng ta coi Ngài là Cha hơn là Chúa.

Nếu Đức Giêsu đã dạy ta gọi Thiên Chúa là Cha khi cầu nguyện, thì ta nên làm theo ý Ngài. Đây là một điểm mới của thời Tân Ước. Chúng ta đã bước vào thời Tân Ước đã 2000 năm, nhưng nhiều khi chúng ta vẫn cứ sống theo kiểu Cựu Ước trong quan niệm, tinh thần và trong cách hành xử. Giáo Hội đã đổi lại cách xưng hô với Thiên Chúa là Cha trong phần lễ qui, là phần quan trọng nhất của thánh lễ. Thiết tưởng cũng nên thống nhất cách xưng hô với Ngài là Cha trong toàn bộ phụng vụ của Giáo Hội. Và người Kitô hữu cũng nên coi Ngài là Cha hơn là Chúa qua cách xưng hô với Ngài, nhất là khi cầu nguyện.




2.  Hãy cầu nguyện với Thiên Chúa như nói chuyện với cha hay mẹ mình

Trong tinh thần coi Thiên Chúa là người cha rất yêu thương, gần gũi, thân thiết với mình, và ở ngay trong tâm hồn mình (x. 1Cr 3,16-17; 6,19; Cv 17,27b-28), chúng ta cảm thấy dễ cầu nguyện hay nói chuyện với Ngài hơn. Chúng ta nói chuyện, tâm sự, kể lể, bàn hỏi, thậm chí nói chuyện phiếm với cha mẹ mình hay bạn tâm giao của mình thế nào, thì cũng hãy nói với Thiên Chúa như vậy. Ngài muốn nghe chúng ta nói những chuyện thực tế của đời sống như thế, chứ không thích nghe những chuyện xa rời cuộc sống, hoặc chẳng ăn nhập gì với đời sống thực của chúng ta như thứ ngôn ngữ của những kinh nguyện làm sẵn (Những kinh nguyện này chỉ để giúp ta cầu nguyện khi ta không biết cầu nguyện thế nào, hoặc dùng để cầu nguyện chung trong cộng đoàn). Ngài chắc hẳn không muốn nghe chúng ta nói với Ngài bằng thứ ngôn ngữ hay tư tưởng xa lạ, khác với ngôn ngữ và tư tưởng thường ngày của chúng ta.

Khi cầu nguyện với Ngài, không nhất thiết là cứ phải luôn miệng ca tụng, tôn vinh Ngài, nhất là không nên nói những lời nịnh nọt không xuất phát từ tâm hồn mình. Khi nói chuyện với cha mẹ ta, ta có làm như thế đâu! Và cũng không phải cứ mở miệng ra là phải xin Ngài hết ơn nọ đến ơn kia. Thật ra Ngài đã biết hết và biết rất rõ ta cần và mong muốn những gì (x. Mt 6,8). Hãy nói những gì tâm hồn mình muốn nói, những gì mà tình cảm, lòng yêu thương hoặc lòng biết ơn thúc đẩy mình nói. Hãy trình bày cho Ngài những niềm vui, nỗi khổ mình đang có, những thuận lợi hay khó khăn mình đang gặp, những dự định, ước muốn, nhu cầu, sáng kiến, những tư tưởng mới, v.v... Hãy tâm sự, bàn hỏi, và xin ý kiến Ngài.

Cầu nguyện không nhất thiết cứ phải luôn miệng nói với Ngài. Nếu không biết phải nói gì với Ngài, thì cứ im lặng đặt mình trước mặt Ngài với lòng đơn sơ tin tưởng vào sự hiện diện của Ngài nơi bản thân mình, hãy nghĩ rằng Ngài đang nhìn mình với ánh mắt trìu mến đầy tình thương của một người Cha, một người Bạn, sẵn sàng nghe ta mà cũng sẵn sàng nói với ta. Hoặc hãy im lặng lắng nghe Ngài nói. Nếu ta yêu cầu Ngài nói và lắng nghe, chắc chắn ta sẽ nghe thấy tiếng Ngài vang vọng trong tâm trí, trong đáy lòng ta. Càng im lặng một cách thâm sâu, thì tiếng Ngài càng rõ nét. Chắc chắn nghe Ngài nói thì có lợi cho ta hơn nói với Ngài. Ngài sẽ chỉ dạy cho ta sự khôn ngoan của Ngài, cách Ngài hành xử thế nào nếu gặp hoàn cảnh như ta, v.v... Cần phải tập nghe tiếng Ngài!



3.  Cầu nguyện không nhất thiết là xin ơn

Khi có nhu cầu gì cần được Ngài giúp đỡ, thêm sức, ta cứ việc trình bày với Ngài. Nhưng đừng nghĩ Ngài là một vị thần chuyên môn thỏa mãn những nhu cầu của ta khi ta yêu cầu, giống như vị thần trong câu chuyện cổ tích Cây Đèn Thần của Alađin, vốn là người đầy tớ luôn làm theo lệnh chủ mình. Không phải bất cứ điều gì ta xin, Ngài cũng cho. Nếu Ngài chiều ta như thế, chắc chắn ta sẽ hư đi, giống như một đứa con được cha mẹ chiều chuộng quá mức. Những cha mẹ khôn ngoan, ngoài việc giúp đỡ và cho con cái những gì thật sự cần thiết cho chúng, còn biết tạo cho chúng tinh thần tự chủ, tự tin, tự lập, có óc sáng tạo, biết nỗ lực, không quá lệ thuộc, bám cứng vào cha mẹ. Thiên Chúa chắc chắn cũng muốn ta trưởng thành lên, nên nhiều khi Ngài để ta tự giải quyết một mình những khó khăn của ta. Vả lại, để giúp ta tiến triển về tâm linh, Ngài phải tập cho ta làm theo ý Ngài, chứ không phải là Ngài làm theo ý ta.

Càng yêu thương ta, Ngài càng rèn luyện, thử thách ta bằng đau khổ. Thánh Phaolô viết: «
Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy? Nếu anh em không được sửa dạy như tất cả mọi người, thì khi đó anh em là con ngoại hôn, chứ không phải là con chính thức» (Dt 12,6-8). Các vị thánh đều cảm nhận được sự rèn luyện và thử thách này một cách rất rõ ràng. Vì thế, ta đừng nản lòng nếu cầu xin mà không được Thiên Chúa nhận lời. Có thể vì yêu thương và muốn ta trưởng thành trong đức tin mà Ngài thử thách ta đấy!



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con vui mừng và hạnh phúc biết bao khi nhận ra Cha là người cha đích thực nhất của con. Cha vừa vừa là Thiên Chúa mà cũng vừa là Cha của con. Con tin chắc chắn Cha là người yêu thương con nhất trên đời, vì thế, con xin phó thác tất cả cuộc đời con cho tình yêu của Cha. Xin cho con biết đáp lại tình yêu vô biên của Cha bằng lòng hiếu thảo đích thực của một người con, và bằng tình yêu chân thành đối với tất cả mọi người là anh chị em với con, vì họ đều là con cái Cha, cùng gọi Cha là Cha như con. Amen.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây . 


Share:

TN17a - «Xin cho con hôm nay lương thực đủ dùng cho một ngày»




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 17 Thường Niên

(28-7-2019)


«Xin cho con hôm nay lương thực đủ dùng cho một ngày»



ĐỌC LỜI CHÚA

  St 18,20-32: (Khi cầu nguyện, Ápraham mặc cả với Chúa nhiều lần để xin Chúa tha phạt cho thành Xơđôm tội lỗi).

  Cl 2,12-14: (13) Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta. (14) Người đã xoá sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Người đã huỷ bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá.

  TIN MỪNG: Lc 11,1-13

Kinh «Lạy Cha»

(1) Có một lần Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: «Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy môn đệ của ông». (2) Người bảo các ông: «Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: 

"Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến, (3) xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy; (4) xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con, và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ"».

Người bạn quấy rầy

(5) Người còn nói với các ông: «Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: «Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, (6) vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả»; (7) mà người kia từ trong nhà lại đáp: «Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được?» (8) Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó.

Cứ xin thì sẽ được

(9) «Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. (10) Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. (11) Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? (12) Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? (13) Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?»




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Trong kinh Lạy Cha, câu «Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày» có ý nghĩa gì? Có phải mỗi lần đọc là ta xin Chúa ban cho ta được đầy đủ lương thực trong mọi ngày suốt đời ta không?

2. Ta xin Chúa cho ta được đủ dùng. Nhưng thế nào là đủ? Những người giàu có trong xã hội đã tự cho mình là đủ chưa? Theo quan điểm của ta thì Chúa đã ban cho ta đủ những điều cần thiết chưa? hay cần phải xin thêm cho đủ?

3.  Được dư thừa của cải trong đời sống có phải là điều tốt không? Nó có thể đem lại nguy cơ gì? Cần làm gì khi ta được Chúa ban cho giàu có?

Suy tư gợi ý:

1.  Kinh Lạy Cha, một công thức để cầu nguyện

Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu dạy cho các môn đệ bài học sơ đẳng về cầu nguyện, chủ yếu là khẩu nguyện (bằng miệng), hay cầu nguyện theo công thức có sẵn. Ngoài cầu nguyện bằng miệng theo công thức có sẵn, còn có nhiều cách cầu nguyện khác cao hơn, như cầu nguyện tự phát, cầu nguyện bằng tư tưởng, bằng tâm tình, bằng hành động, bằng ý thức, chiêm niệm, kết hợp thần bí, v.v… Kinh «Lạy Cha» là một công thức làm sẵn do chính Đức Giêsu lập nên để giúp ta cầu nguyện.



2.  Ngày nào xin lương thực cho ngày nấy và chỉ xin đủ dùng

Có nhiều ý tưởng tuyệt vời trong kinh Lạy Cha. Nhưng bài chia sẻ này chỉ bàn đến một ý tưởng trong kinh đó là: ngày nào thì xin lương thực đủ cho ngày nấy. Ý tưởng này trong bản kinh cũ (do các cố Tây dịch) là: «Xin cho chúng con được hằng ngày dùng đủ», và trong bản kinh phụng vụ hiện nay là: «Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày». Tôi nghĩ, để dịch cho thật sát nghĩa câu «Panem nostrum quotidianum da nobis hodie» trong kinh Pater noster bằng La ngữ, thiết tưởng có thể dịch là «Xin ban cho chúng con hôm nay lương thực đủ dùng cho một ngày». 

Tinh thần của câu này là: ngày hôm nay, ta chỉ xin Chúa ban cho ta đủ lương thực của ngày hôm nay mà thôi. Không xin cho ngày mai hay tuần sau, vì ngày mai ta sẽ lại xin đủ dùng cho ngày mai. Nghĩa là ngày nào xin cho ngày nấy và chỉ xin đủ dùng cho ngày nấy, chứ không xin một lần cho suốt cả cuộc đời. Khi đọc kinh Lạy Cha hằng ngày, thiết tưởng ta nên thấm nhuần và thực hành nhuần nhuyễn ý tưởng này.

Khi đọc câu trên trong kinh Lạy Cha, nếu tinh ý ta sẽ nhận ra ngay tinh thần phải có là phó thác cho Thiên Chúa những nhu cầu riêng của mình từng ngày một. Đương nhiên Thiên Chúa cũng đòi hỏi ta phải cộng tác trong việc thỏa mãn những nhu cầu ấy, bằng việc làm ăn sinh sống, bằng sự cật lực làm việc, chứ không phải «há miệng chờ sung». Thông thường, lòng tham khiến ta muốn xin «một lần cho tất cả», xin cho được đầy đủ suốt cả đời, và cũng muốn xin cho được dư dật chứ không chỉ đủ dùng.




3.  «Biết đủ» thì mới có thể hạnh phúc

Thật ra muốn hạnh phúc, ta phải có tinh thần «biết đủ», tương tự như tinh thần của Nguyễn Công Trứ: «Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc?» (=biết đủ thì đã đủ rồi, chờ cho đủ thì biết đến bao giờ mới đủ?) Thiên Chúa thường ban cho ta khá đầy đủ, nhưng vì ta không có tinh thần «biết đủ», nên ta vẫn thấy thiếu, chẳng mấy khi thấy đủ. Một khi cho rằng mình thiếu thì ta chẳng hạnh phúc mà chỉ thấy đau khổ. Chỉ khi cho rằng mình đã đủ, ta mới cảm thấy hạnh phúc.

Viết tới đây, tôi nghĩ tới câu chuyện một ông vua kia, tuy rất giàu có nhưng vẫn thấy mình thiếu thốn và đau khổ. Ông cầu xin vị thần của ông cho ông được hạnh phúc. Vị thần nói: Nếu ông tìm được chiếc áo lót của người nào tự cho rằng mình hạnh phúc nhất đời mà mặc vào, thì ông sẽ hạnh phúc. Ông bèn ra lệnh cho các quan tìm cho ra người ấy. Nhưng những người có sứ mệnh đi tìm, đã hỏi thăm đủ mọi người – từ ông tể tướng đến những người dân quèn, từ những thương gia giàu nhất nước đến những phường khố rách áo ôm – ai ai cũng đều than rằng đời mình chẳng mấy khi hạnh phúc, mà có quá nhiều đau khổ. Sau nhiều tháng ròng rã tìm kiếm, cuối cùng quân lính tình cờ thấy một nông dân nghèo, dáng vẻ thanh thản và vui tươi, hát nghêu ngao mấy câu đại ý cho rằng mình là người sung sướng nhất đời. Thế là họ đè ngay anh ta ra để lột lấy chiếc áo lót. Nhưng tiếc thay, anh ta nghèo đến nỗi không có áo lót! – Như vậy, ông vua tuy giàu có nhất nước nhưng không «biết đủ», nên vẫn thấy mình thiếu và đau khổ. Còn anh nông dân kia tuy rất nghèo, nhưng tự cho rằng mình được Trời ban như hiện nay là đã quá đủ, nên anh luôn luôn thấy mình hạnh phúc.

Vì thế, khi đọc kinh Lạy Cha đến câu «Xin cho chúng con được hằng ngày dùng đủ», tâm trí tôi thường thầm nguyện rằng: «Xin cho con biết cho là đủ những gì Cha ban cho con». Và trong thực tế, tôi thường thấy rằng Ngài đã ban cho tôi nhiều hơn mức mà tôi cho là đủ. Thật vậy, nếu so sánh cuộc sống của tôi với vô số những người nghèo khổ hơn, tôi thấy mình đầy đủ hơn họ nhiều. Đó là lý do khiến tôi thường hạnh phúc.




4.  Đừng ham dư: dư thừa thường có hại hơn thiếu thốn

Vì của cải vật chất có hạn, nên khi ta dư dả hơn mức trung bình thì điều đó có nghĩa là phải có người vì ta dư dả mà họ bị thiếu thốn. Nói cụ thể cho dễ hiểu: nếu 10 người có tất cả 10 triệu, thì trung bình mỗi người có 1 triệu, và với 1 triệu thì ai cũng đủ. Nếu ta có 2 triệu, thì 9 người còn lại chỉ có 8 triệu (tức mỗi người 8/9 triệu, ít hơn mức trung bình một chút, nên hơi thiếu). Nếu trong 9 người ấy có người có tới 3 triệu, thì ắt 8 người còn lại chỉ có 5 triệu (tức mỗi người 5/8 triệu, nghĩa là dưới mức trung bình rất nhiều, nên rất thiếu thốn). Do đó, ta càng dư giả thì tất nhiên càng có người thiếu thốn. Vì thế, người có tình thương đích thực không ham dư dả trên mức trung bình, mà chỉ cần vừa đủ dùng cho mình. Nên khi đọc kinh Lạy Cha, họ chỉ xin cho mình được đủ dùng mà thôi.

Người ham muốn được dư dả thường cố gắng vun vén hay tập trung của cải về cho mình, có thể bằng những phương tiện chính đáng, nhưng họ sẽ thường bị cám dỗ sử dụng những phương tiện không chính đáng. Nếu ham giàu quá mức, họ dễ trở thành người coi vật chất trọng hơn tình cảm, tiền bạc hơn con người, lương tâm sẽ trở nên lệch lạc, đời sống tâm linh bị thiệt hại nặng nề. Người có đời sống tâm linh cao thường đã từ bỏ được ham muốn này, vì nó trái ngược với đức thanh bần và tinh thần siêu thoát mà một người thánh thiện luôn luôn phải có.

Đừng ham muốn dư dả về vật chất, vì khi quá dư dả vật chất, như đã nói trên, ta có thể vô tình khiến có những người trở nên thiếu thốn. Hiện nay, trong lãnh vực y tế và sức khỏe, người ta khám phá ra rằng nếu ăn quá nhiều đến mức dư thừa chất bổ, chất bổ ấy sẽ biến thành chất độc làm cơ thể suy yếu hoặc bệnh tật. Trong lãnh vực tâm linh cũng tương tự như vậy: của cải dư thừa quá có thể làm hại tâm hồn con người, làm tâm hồn con người suy yếu và bệnh hoạn.

Tuy nhiên, sự dư dả không tác hại trên con người cho bằng tính ham dư dả. Người ham dư dả, ham giầu có thì nghèo cũng khổ mà giầu cũng khổ. Nghèo thì buồn bực vì lòng ham muốn không thành. Còn giàu thì lo gìn giữ của cải, sợ bị mất, khiến cho lòng không thanh thản, và một khi bị mất thì vô cùng đau khổ. Người có nhiều tiền tuy về mặt xã hội thường trở nên mạnh mẽ hơn như người ta vẫn nói: «mạnh vì gạo, bạo vì tiền», nhưng về mặt tâm linh sẽ trở nên yếu hơn rất nhiều. Vì phải lo bảo vệ những gì mình đang có, nhiều khi họ trở nên hèn nhát, sẵn sàng im lặng trước bất công, không dám bênh vực cho lẽ phải, cho sự thật. 


Sự tai hại của sự dư dả vật chất đã được Đức Giêsu xác quyết: «Người giàu có khó vào Nước Trời. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa» (Mt 19,23-24). Vì thế, là người theo Đức Giêsu, chúng ta chỉ cần đủ, không nên ham được dư thừa. Hãy tập biết chia sẻ để những người thiếu thốn cũng được đầy đủ. Nhờ đó tâm linh ta mới mạnh mẽ lên.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con vẫn xin Cha ban cho con được «hằng ngày dùng đủ», nhưng con lại rất vô tình trước sự thiếu thốn của những người nghèo khổ chung quanh con. Xin cho con khi đọc kinh Lạy Cha, khi xin cho mình được «dùng đủ», thì cũng sẵn sàng hy sinh và cộng tác với Cha để đem lại sự «dùng đủ» cho mọi người.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây . 


jjj
Share: