Thứ Hai, 23 tháng 9, 2019

TQ-danh-cap-bi-mat-thuong-mai



Mỹ cảnh báo Trung Quốc đánh cắp bí mật thương mại ngày càng nhiều
Theo Dân Trí
Trong khi Tổng thống Donald Trump gây sức ép với Trung Quốc về việc chấm dứt các hành vi thương mại không công bằng,
Bộ Tư pháp Mỹ cảnh báo các công ty cẩn trọng trước nguy cơ bị Bắc Kinh đánh cắp bí mật thương mại.
Mỹ cảnh báo Trung Quốc đánh cắp bí mật thương mại ngày càng nhiều - 1
Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Adam Hickey (Ảnh: Getty)
«Ngày càng nhiều vụ việc có liên quan tới đánh cắp bí mật thương mại được mở ra, và phần nhiều trong số đó có liên quan tới Trung Quốc», Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Adam Hickey nói với kênh CNBC hôm 23/9.
Kể từ năm 2012, hơn 80% vụ gián điệp kinh tế do Cục An ninh Quốc gia thuộc Bộ Tư pháp Mỹ xử lý đều có liên quan tới Trung Quốc. Theo ông Hickey, tần suất của các vụ việc như vậy tăng lên trong những năm gần đây.
«Có thể do các nạn nhân (của các vụ gián điệp kinh tế) chú ý nhiều hơn tới những gì đã xảy ra, và đây là điều tốt. Có thể họ đã cảm thấy thoải mái hơn trong việc trình báo với cơ quan hành pháp, và đây là tín hiệu tốt. Họ đã chán nản với các vụ việc đó, và đây cũng là điều tốt», Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Mỹ nói thêm.
Tháng 11/2018, Bộ Tư pháp Mỹ đã thành lập «Sáng kiến Trung Quốc» với mục đích đối phó với các mối đe dọa an ninh quốc gia từ Trung Quốc. Sáng kiến này được thực hiện bằng cách xác định và khởi tố các vụ đánh cắp bí mật thương mại và tài sản trí tuệ, tấn công mạng và gián điệp kinh tế.
«Hành vi trộm cắp được chính quyền ủng hộ»
Bắc Kinh đã cáo buộc Washington tìm cách bảo vệ các công ty Mỹ trước sự cạnh tranh của đối thủ và ngăn chặn sự phát triển công nghệ của Trung Quốc. Đáp lại, ông Hickey bảo vệ quan điểm của Bộ Tư pháp Mỹ.
«Chúng tôi hy vọng các quốc gia khác cũng có thể tự chủ về các công nghệ quan trọng. Đó là những gì chúng tôi kỳ vọng về một chính phủ có trách nhiệm. Vấn đề là Trung Quốc không muốn làm điều đó. Một phần trong chính sách công nghiệp của họ, một phần trong cách họ cố gắng thực hiện điều đó, là hành vi đánh cắp được chính quyền hậu thuẫn hoặc nhắm mắt làm ngơ», Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Mỹ nói.
Ông Hickey lấy dẫn chứng tiêu biểu về hành vi có liên quan tới kế hoạch chiến lược «Made in China 2025». Chính phủ Trung Quốc đã công bố kế hoạch này vào năm 2015 với mục tiêu giảm bớt sự phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu trong 10 ngành công nghiệp ưu tiên gồm robot, công nghệ thông tin, hàng không, vận tải đường sắt và công nghệ sinh học.
«Chúng tôi đã truy tố các vụ việc đánh cắp sở hữu trí tuệ đối với 8 trong số 10 lĩnh vực nói trên của Trung Quốc», ông Hickey cho biết.
Sáng kiến của Bộ Tư pháp Mỹ cũng nhấn mạnh về các mối đe dọa an ninh mạng và khả năng dễ bị tổn thương trong hệ thống viễn thông.
Hickey không bình luận về Huawei, tập đoàn công nghệ khổng lồ của Trung Quốc, trong bối cảnh công ty này đang vướng vào hai vụ khởi tố tại Mỹ. Tuy nhiên, Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Mỹ vẫn nhấn mạnh mối đe dọa đối với an ninh quốc gia từ các công ty viễn thông và chuỗi cung ứng ngày càng mở rộng.
«Việc công ty đến từ đâu rất quan trọng, cũng như việc công ty đó có bị buộc phải tuân theo yêu cầu của cơ quan tình báo mà không xem xét tới luật lệ liên quan hay không», ông Hickey cho biết.
Ông Nhậm Chính Phi, nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành của Huawei, từng tuyên bố hồi tháng 4 rằng công ty của ông không bao giờ «cài cửa hậu» trong các thiết bị, ngay cả khi chính quyền Trung Quốc yêu cầu làm như vậy.
«Chúng tôi không được phép cung cấp thông tin của khách hàng cho bất kỳ bên thứ ba nào», ông Nhậm nói.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng Huawei sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tuân thủ theo yêu cầu cung cấp thông tin của chính quyền Trung Quốc.
Thành ĐạtTheo CNBC
«80% bí mật» và lời thức tỉnh của Bộ Tư pháp Mỹ trước mối họa tiềm tàng mang tên Trung Quốc
Tất Dat
80% bí mật và lời thức tỉnh của Bộ Tư pháp Mỹ trước mối họa tiềm tàng mang tên Trung Quốc
Trong khi tổng thống Mỹ Donald Trump liên tục gây sức ép đối với Bắc Kinh trong vấn đề bất công thương mại, Bộ Tư Pháp Mỹ lại đưa ra một cảnh báo mới đối với các công ty Mỹ, thúc giục những doanh nghiệp này «tăng cường phòng thủ».
Phó Trợ lý Tổng chưởng lý Luật sư Mỹ Adam Hickey nói: «Chúng tôi ngày càng phát hiện nhiều trường hợp cho thấy bí mật thương mại đã bị đánh cắp - và rất nhiều trong số chúng có liên quan tới  Trung  Quốc».
Ông Hickey cho rằng, từ năm 2012 tới nay, hơn 80% các trường hợp đánh cắp bí mật kinh tế bị phát hiện đều có «bàn tay» của  Trung Quốc Tần suất các vụ việc đã tăng ngày càng nhiều trong những năm gần đây.
«Điều đó cho thấy có thể nạn nhân ngày càng chú ý hơn tới những điều đang diễn ra - đây là một điều tốt. Họ cảm thấy thoải mái hơn khi báo cáo cho cơ quan tư pháp - đây là một điều tốt. Họ có thể buồn phiền vì bị đánh cắp bí mật thương mại, đây cũng là một điều tốt,» ông Hickey nói với CNBC tại Singapore vào ngày 21/9 vừa qua.
Bộ Tư pháp Mỹ đã khởi động chương trình «Sáng kiến Trung Quốc» vào tháng 11/2018 để chống lại mối nguy cơ an ninh quốc gia từ Trung Quốc. Sáng kiến này được thực hiện bằng cách xác định và truy tố hành vi trộm cắp bí mật thương mại và sở hữu trí tuệ (IP), hành vi gián điệp kinh tế.
«Trộm cắp được chính phủ tài trợ»
Trung Quốc đã cáo buộc Mỹ đang tìm cách bảo vệ công ty Mỹ trong các cuộc cạnh tranh thương mại và tìm cách ngăn chặn phát triển công nghệ của Trung Quốc.
Tuy nhiên, ông Hickey có quan điểm khác về vấn đề này: «Chúng tôi hi vọng các quốc gia khác có thể tự cung cấp cho họ những công nghệ quan trọng. Đây là điều chúng ta đều hi vọng ở một chính phủ có trách nhiệm. Vấn đề ở đây là Trung Quốc không muốn làm điều đó.»
«Đây là một phần trong chính sách công nghiệp của họ. Họ tìm cách đạt được mục đích bằng cách tài trợ cho hành vi đánh cắp, thưởng cho việc đánh cắp hoặc làm ngơ trước chuyện đó».
Ông Hickey chi ra một bằng chứng tiêu biểu có liên quan tới kế hoạch chiến lược «Made in China 2025».
Chính phủ Trung Quốc đã công bố kế hoạch này trong năm 2015 với mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu trong 10 ngành công nghiệp ưu tiên bao gồm robot, công nghệ thông tin (IT), hàng không, vận tải đường sắt và công nghệ sinh học.
«Chúng tôi đã truy tố hành vi trộm cắp bí mật thương mại và sở hữu trí tuệ đối với 8 trong số 10 lĩnh vực nói trên của Trung Quốc».
Sáng kiến của Bộ Tư pháp Mỹ cũng nhấn mạnh vấn đề liên quan tới mối đe dọa an ninh mạng và lỗ hổng trong hệ thống viễn thông.
Ông Hickey không bình luận về công ty công nghệ Huawei của Trung Quốc bởi vì công ty này đã bị chính phủ Mỹ «để mắt» và phạt nặng trong thời gian gần đây.
Ông Nhậm Chính Phi, CEO và là nhà sáng lập của Huawei, đã tuyên bố rằng Huawei «sẽ không bao giờ cài một cửa sau» trong các thiết bị mà công ty này sản xuất - thậm chí kể cả khi được chính phủ Trung Quốc yêu cầu.
Ông Nhậm nói: «Cung cấp thông tin khách hàng cho bên thứ 3 là điều bất khả thi».
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng Huawei sẽ không có lựa chọn nào ngoài việc tuân theo yêu cầu của chính phủ Trung Quốc.

Ông Hickey nhấn mạnh rằng không nên chỉ xem xét liệu có lỗ hổng như thế có tồn tại một cách cố ý hay không, mà còn phải xem liệu chính quyền Bắc Kinh có muốn «tận dụng» công ty Trung Quốc hay không.
«Nếu ngồi chờ để thấy khói súng, chúng ta sẽ là người bị bắn,» ông Hickey nói.
Share:

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2019

TN26b - Vô tâm trước những đau khổ của tha nhân cũng là tội ác




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ Thường Niên

(29-9-2019)

Bài đào sâu

Vô tâm trước những đau khổ của tha nhân
cũng là tội ác



  TIN MỪNG: Lc 16,19-31

Dụ ngôn ông nhà giàu và anh Ladarô nghèo khó


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Người giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay có phạm một tội ác nào không? Ông phải chịu hình phạt nơi âm phủ vì lý do gì? Đó có phải là một tội không?

2. Làm ngơ hay lãnh đạm trước những đau khổ, cùng quẫn, cảnh áp bức mà người thân mình đang phải gánh chịu một cách bất công mà không ra tay can thiệp khi có thể, có phải là tội lỗi không? Đó có phải là thiếu tình yêu? Và như thế, có thể vào được Nước Trời là nơi chỉ dành cho những người biết yêu thương thật sự không?



Suy tư gợi ý:

1.  Chúng ta chỉ là những người quản lý những gì chúng ta có

Tất cả những gì chúng ta đang có trong tay, dù là vật chất hay tinh thần (đức độ, tài năng, chức quyền, địa vị, hay của cải, tiền bạc, v.v...) cũng đều do Thiên Chúa ban. Ngài muốn chúng ta tạm thời quản lý để làm những việc ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân, tức làm lợi cho Nước Trời. Chúng không phải là của ta, vì nếu chúng thật sự là của ta, thì chúng cũng phải theo ta về đời sau. Nhưng trong thực tế, khi lìa cuộc đời, ta phải để lại tất cả cho người khác. 

Do đó, xét cho cùng, chúng ta chỉ là những người quản lý tạm thời những gì chúng ta đang có, và phải sử dụng chúng theo ý muốn của người chủ đích thực của chúng là Thiên Chúa. Và chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về cách chúng ta quản lý chúng. Người quản lý nào không sử dụng của cải tiền bạc của chủ đúng theo ý chủ, nghĩa là không làm lợi cho chủ mà chỉ làm lợi cho mình, sẽ bị đuổi việc hoặc phải chịu trách nhiệm về cách quản lý sai trái ấy.

Trong dụ ngôn bài Tin Mừng hôm nay, người phú hộ bị hình phạt dưới âm phủ, chịu lửa thiêu đốt và khát cháy cổ, không phải vì phạm một tội ác nào, mà chỉ vì sử dụng của cải Thiên Chúa ban để ích lợi cho một mình mình. Ông ta «
mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình», bỏ mặc người nghèo ở ngay trước cổng nhà mình sống chết mặc bay! phải chịu «mụn nhọt đầy mình», «mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta», «thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no» mà không hẳn được ai cho (x. Lc 16, 20-21)

Người phú hộ ấy −cũng như biết bao người giàu có khác− nghĩ rằng những gì mình đang có trong tay là của mình, mình muốn sử dụng hay hưởng thụ thế nào, cho ai hay không cho ai là tùy ý mình. Ông ta nghĩ rằng ông hoàn toàn vô tội khi không làm thiệt hại gì ai. Đối với những người nghèo khổ đến với ông, ông nghĩ rằng ông có quyền không cho, và làm như thế ông không có lỗi gì với họ cả: ông có làm gì khiến họ bị thiệt hại đâu!

Nhưng việc ông phải chịu phạt dưới âm phủ chứng tỏ cách suy nghĩ như thế là hoàn toàn sai lầm. Tuy dù ông không có hành động tích cực hay cụ thể nào gây bất công cho ai, nhưng việc chỉ dùng của cải Thiên Chúa ban để hưởng thụ một mình mình, hay một mình gia đình mình, đồng thời làm ngơ hoặc không đếm xỉa gì đến những đau khổ của những người nghèo túng, bị áp bức chung quanh mình, thì ông đã phạm một tội rất nặng rồi


Vì tiền bạc của cải ông có, thật ra đâu phải là của ông khiến ông có toàn quyền sử dụng theo ý mình. Ông chỉ là người quản lý, và ông phải quản lý làm sao để chứng tỏ ông có tình thương, để làm lợi cho Nước Trời, là thứ xã hội lý tưởng trong đó mọi người luôn yêu thương nhau. Có thế ông mới xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong Nước Trời, vốn chỉ dành cho những con người có tình yêu thương thật sự

Theo bài Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng (x. Mt 25,31-46), rất nhiều người chẳng phạm một tội ác nào tích cực, thế mà chẳng thể vào được Nước Trời chỉ vì, như Chúa nói, «xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng» (Mt 25,42-43).



2.  Của cải vật chất trên nguyên tắc là để mọi người hưởng dùng

Thiên Chúa tạo dựng nên của cải vật chất trên thế gian là cho tất cả mọi người hưởng dùng. Nhưng vì các cơ chế xã hội còn bất toàn, nên sự phân phối của cải chưa hợp lý, khiến cho xã hội còn nhiều bất công: kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra. Do đó, để sửa chữa hay giảm bớt bất công trong xã hội, những ai được cơ chế xã hội ưu đãi khiến mình giàu có hơn người, dù là giàu có một cách rất hợp pháp, phải biết chia sẻ cho những người nghèo khổ hơn mình, nhất là những người gặp cảnh cùng quẫn. Đó là nghĩa vụ mà lương tâm tự nhiên của con người đòi hỏi, không cần phải nại đến luân lý Kitô giáo

Cổ nhân ta có những câu như «Lá lành đùm lá rách», «Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn», «Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng». Việc xây dựng một xã hội công bằng, trong đó của cải được phân chia hợp lý, hay việc chống bất công, cũng là nghĩa vụ của mọi người, nhất là những người được Thiên Chúa ban cho nhiều khả năng làm việc ấy một cách hữu hiệu (những người có tài năng, chức quyền, có địa vị trong xã hội và Giáo Hội.)

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa công bằng và yêu thương, Ngài đã cho Con Một Ngài xuống thế để loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa hay Nước Trời và khởi đầu xây dựng nước ấy, trước hết tại trần gian, và sau đó là trên trời. Nước Trời là một xã hội hay Giáo Hội lý tưởng, trong đó mọi người đều đối xử với nhau không chỉ hợp với lẽ công bằng, mà còn phải đầy tình yêu thương nữa. Những người ích kỷ, chỉ biết hạnh phúc một mình, đầy đủ một mình, những người chủ trương ai chết mặc ai, ai khổ mặc ai, không thể là đối tượng của Nước Trời. Vì thế, những người theo Ngài, tức các Kitô hữu, có nhiệm vụ tiếp nối công việc của Ngài là làm chứng và xây dựng cho Nước Trời. 


Làm chứng là chính mình sống đúng tinh thần công bằng và yêu thương của Nước Trời ngay trong chính môi trường mình đang sống. Xây dựng là làm sao để trong môi trường mình sống ngày càng có nhiều người sống tinh thần ấy. Thiết tưởng mọi Kitô hữu cần ý thức và quan tâm tới chiều kích xã hội và giáo hội này.



3.  Những người giàu có, hạnh phúc, cần quan tâm giúp đỡ và chia sẻ với người nghèo túng, đau khổ

Qua bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Thiên Chúa không chấp nhận cho vào Nước Trời những người sống ích kỷ, không biết yêu thương, những người lãnh đạm hoặc làm ngơ trước những đau khổ, cảnh cùng quẫn, tình trạng bị áp bức, bóc lột mà những người chung quanh ta đang phải gánh chịu một cách bất công. Vì thế, một cách cụ thể, chúng ta cần biết chia sẻ, giúp đỡ họ, và phải làm một cái gì đó khi có thể. Nếu chúng ta có tình yêu đích thực, tình yêu ấy ắt sẽ khiến chúng ta trăn trở, và không thể im lặng hay bất động trước những đau khổ người khác đang phải chịu trước mắt mình

Tình yêu đích thực không cho phép chúng ta hành động như anh nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay, an tâm mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình trong ngôi nhà khang trang đầy tiện nghi, không thèm đếm xỉa đến nỗi cùng quẫn của những Ladarô, mụn nhọt đầy mình, thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống mà ăn cho no đang nằm trước cổng nhà mình. Tình yêu đích thực không cho phép chúng ta khoanh tay ngồi nhìn những kẻ ác tự do gây bất công cho những kẻ thế cô, khi mà chúng ta có thể dùng tài năng hay địa vị của chúng ta để can thiệp.

Chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về những gì Thiên Chúa ban mà chúng ta lại không sử dụng để làm lợi cho Ngài và tha nhân. Dụ ngôn về nén bạc cho chúng ta biết điều ấy (xem Mt 25,14-30; Lc 19,12-27): Kẻ nào đem chôn nén bạc Chúa trao, dù chỉ là một nén, mà không sinh lợi ích cho Ngài, thì sẽ Ngài bị kết án: «
Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 25,30). Do đó, chúng ta không thể tự hào mình vô tội chỉ vì mình không hề làm điều gì bất công. Coi chừng chúng ta là kẻ tội lỗi đáng kết án chỉ vì đã không làm những gì lương tâm và tình yêu thương đòi buộc phải làm, dù bởi lười biếng hay hèn nhát.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con cảm thấy mình chưa đủ tình thương đối với Cha cũng như với đồng loại, vì con chưa dám hy sinh một chút danh tiếng, một chút thì giờ, một chút của cải, hay chấp nhận một chút đau khổ, nhục nhã, khó nhọc để làm cho những người thân đang đau khổ chung quanh con bớt đau khổ. Con vẫn chỉ nghĩ tới sự an toàn và hạnh phúc của riêng con, coi sự an toàn và hạnh phúc của con hơn tất cả. Xin ban cho con có nhiều tình yêu hơn, vì có đủ tình yêu, con sẽ làm được tất cả những gì Chúa muốn, những gì lương tâm và tình yêu đòi buộc. Amen.

Share:

TN26a - Người giàu có không nên sống ích kỷ, mà hãy sống yêu thương, biết chia sẻ




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ Thường Niên

(29-9-2019)


Người giàu có không nên sống ích kỷ,
mà hãy sống yêu thương, biết chia sẻ




ĐỌC LỜI CHÚA

  Am 6,1a.4-7: (1) Khốn cho những kẻ sống yên ổn tại Xion, và sống an nhiên tự tại trên núi Samari (…), (6) nhưng chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ ! (7) Vì thế, chúng sẽ bị lưu đày, và dẫn đầu những kẻ bị lưu đày.

  1Tm 6,11-16: (11) Phần anh, hỡi người của Thiên Chúa, hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa.

  TIN MỪNG: Lc 16,19-31

Dụ ngôn ông nhà giàu và anh Ladarô nghèo khó

(19) «Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. (20) Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, (21) thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. (22) Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Abraham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

(23) «Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Abraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ. (24) Bấy giờ ông ta kêu lên: “Lạy tổ phụ Abraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!” (25) Ông Abraham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. (26) Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được. ”

(27) «Ông nhà giàu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, (28) vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!” (29) Ông Abraham đáp: “Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”. (30) Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Abraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối”. (31) Ông Abraham đáp: “Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”»




CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Giàu sang và hưởng thụ cảnh giàu sang của mình có phải là một tội ác không? Tại sao người giàu có trong bài Tin Mừng lại bị phạt?

2. Nghèo khó và sống đau khổ vì cảnh nghèo khó của mình có phải là điều thiện, là nhân đức không? Tại sao Ladarô, người nghèo trong bài Tin Mừng này lại được thưởng?

3.  Để mọi người sống tốt đẹp, yêu thương và được ân thưởng trên thiên đàng, sao Thiên Chúa không tạo điều kiện để con người thấy trước mắt cảnh thiên đàng hạnh phúc thế nào, và cảnh hỏa ngục đau khổ thế nào?

Suy tư gợi ý:

1.  Tại sao người giàu trong bài Tin Mừng bị phạt?

Người nhà giàu trong bài Tin Mừng bị Thiên Chúa phạt, không phải vì ông ta giàu có hay vì đã hưởng thụ những thú vui từ sự giàu có của mình. Giàu và sự hưởng thụ cảnh giàu sang của mình không phải là một thứ tội hay một tình trạng tội lỗi. Nếu giàu có đến từ vận may, hay do cần cù làm ăn liêm chính, thì sự giàu có ấy là hồng ân hay sự chúc lành của Thiên Chúa. Giàu mà biết giúp đỡ và chia sẻ với người cùng khốn thì thật đáng khen và đáng thưởng. Giàu có chỉ là xấu khi nó là kết quả của tội ác, của bất công, ức hiếp, tham nhũng, nhận hối lộ, hoặc gian lận

Bài Tin Mừng không nói sự giàu sang của ông nhà giàu đến từ đâu. Vậy thì tại sao ông lại bị trừng phạt?Chính vì ông không có tình thương: thấy Ladarô vô cùng nghèo khổ trước mắt như thế mà không hề quan tâm, thương xót, cứu giúp hay chia sẻ, chỉ biết hưởng thụ một mình hay một mình gia đình mình, và hoàn toàn vô tình với người nghèo khổ.




2.  Tại sao Ladarô nghèo khổ được ân thưởng?

Còn Ladarô, anh được thưởng không phải vì anh nghèo, cũng không phải vì Thiên Chúa muốn bù trừ cho cái nghèo khổ anh phải chịu ở trần gian. Nhiều người nghèo mà lòng đầy tham lam, độc ác, ích kỷ (khi trở nên giàu có, nhiều khi họ còn tham lam, độc ác và tỏ ra ích kỷ hơn những nhà giàu mà hiện nay họ đang bực tức vì ganh tị). Những người nghèo mà lòng dạ như thế thì chẳng đáng khen hay đáng thưởng chút nào. Nghèo không phải là một nhân đức hay là dấu hiệu của sự thánh thiện. Trái lại nghèo có thể là một sự dữ mà ai cũng muốn tránh. Nghèo có thể là kết quả của sự kém may mắn, của sự bất tài, của thất bại. Nghèo có thể do lười biếng, không chịu làm ăn, hay làm ăn thiếu tính toán. Nghèo cũng có thể là một hình phạt của Thiên Chúa: «ác giả ác báo», «cha ăn mặn, con khát nước».

Tuy nhiên, nghèo có thể là kết quả của sự lương thiện nhưng thiếu may mắn. Nghèo cũng có thể do hành động tự nguyện của một tâm hồn thánh thiện: muốn sống nghèo theo gương Đức Giêsu, muốn thực hiện điều kiện để theo Ngài là bán hết của cải để chia cho người nghèo khổ
(x. Mt 19,21), hoặc muốn chia sẻ thân phận nghèo với người nghèo vì yêu thương họ. Chỉ cái nghèo này mới là nhân đức: nhân đức thanh bần. Chính Đức Giêsu và gia đình của Ngài cũng là những người nghèo, nhưng là nghèo tự nguyện: «Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có» (2Cr 8,9b).

Vậy tại sao Ladarô được ân thưởng? – Tin Mừng không nói rõ thái độ sống của anh. Về cuộc sống của anh, Tin Mừng chỉ mô tả vắn tắt: «Có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta»
(Lc 16,20-21). Nếu anh được Thiên Chúa thưởng, ắt phải là vì anh đã sống cảnh nghèo khổ ấy phù hợp với thánh ý Thiên Chúa

Qua đoạn Tin Mừng ngắn ngủi trên, ta có thể đoán được anh đã vui lòng chấp nhận cảnh nghèo của mình với tất cả những niềm đau, nỗi khổ, những màn nhục nhã cùng cực của nó: mụn nhọt đầy mình, chó liếm ghẻ. Nhưng anh không phàn nàn, kêu trách, không ghen tị với người giàu có. Dù thèm thuồng những thứ thừa thãi của người giàu có, anh cũng không vì nghèo mà làm những chuyện trái lương tâm (trộm, cướp, gian trá, lường gạt…). Anh vẫn trung thành với chủ trương «đói cho sạch, rách cho thơm», nên vẫn giữ được tâm hồn trong sáng.



3.  Tại sao không cho người chết hiện về cảnh cáo?

Khi thấy tình trạng của mình không thể cứu vãn gì được, người nhà giàu đang bị phạt dưới âm phủ mới nghĩ đến anh em của mình đang sống cuộc đời sang giàu nhưng ích kỷ y như ông ta trước đây. Nếu tiếp tục sống như thế, số phận của họ cũng sẽ y như ông hiện nay. Mặc dù đã có Môsê và các Ngôn Sứ cảnh cáo mọi người, nhưng ông và anh em ông đâu chịu tin. Vì thế, ông muốn cứu họ bằng cách xin tổ phụ Abraham sai Ladarô về cảnh cáo họ với tư cách một người chết hiện về. Ông nghĩ rằng phải có người chết hiện về thì họ mới tin. Nhưng tổ phụ Abraham trả lời: «Nếu Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin» (Lc 16,31).

Sứ điệp của Môsê, các ngôn sứ, Đức Giêsu, các tông đồ và của những người đang tiếp tục công việc của các ngài đã đến với hầu hết mọi người trên thế giới. Kết quả là có người bỏ ngoài tai không thèm nghe, có người nghe nhưng không tin, và có người nghe, tin theo rồi thực hành. Thiết tưởng sứ điệp ấy không thể có tính ép buộc hay đe dọa, mà chỉ để giúp con người nhận ra con đường phải theo và phải làm. Có theo có làm hay không là do thiện tâm và lòng tự nguyện của mỗi người. Nếu chỉ vì sợ bị phạt hay vì bị ép buộc mới làm việc thiện, thì việc thiện ấy đâu xuất phát vì tình yêu thương, nên đâu có giá trị bao nhiêu. Thật vậy, thánh Phaolô đã viết rất rõ ràng: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi»
(1Cr 13,3).


Thiên Chúa có thể mặc khải cho con người nhìn thấy rõ ràng trước mắt sự đau khổ mà con người phải chịu khi sống ích kỷ, vô tình, độc ác, thiếu tình yêu. Thấy như thế, ắt con người sẽ sợ hãi và thay đổi cách sống. Nhưng nếu thay đổi cách sống tốt hơn chỉ vì sợ hãi, thì tính ích kỷ, vô tình, độc ác, thiếu tình yêu vẫn còn nằm trong bản tính của họ. Và sự tốt đẹp hay tình thương họ thể hiện chỉ là bề ngoài và giả dối thôi.

Thiên Chúa muốn con người thay đổi nên tốt hơn và sống yêu thương hơn, nhưng không phải vì sợ hãi, vì áp lực bên ngoài như thế. Ngài muốn con người được tự do đúng theo phẩm giá cao cả của họ. Nếu có thay đổi khiến cuộc sống của họ tốt đẹp và yêu thương nhiều hơn thì phải do chính con người tự nhận ra điều đó là tốt đẹp, rồi họ tự nguyện và cố gắng thực hiện điều đó, nghĩa là hoàn toàn xuất phát từ thiện chí và tình yêu đầy tự do của họ. Vì thế, Thiên Chúa chỉ dùng những sứ điệp qua người này người kia Ngài sai đến để gợi ý giúp con người giác ngộ con đường họ phải theo, rồi để họ tự do theo hay không theo tùy ý họ. Như thế cái tốt đẹp của họ mới là tốt đẹp từ trong bản chất, và sự yêu thương họ tỏ lộ ra mới là tình thương đích thực. Chỉ có thứ yêu thương ấy mới có giá trị và mới phù hợp với những công dân của Nước Trời.

Vậy, cho dù hiện nay chúng ta giầu hay nghèo, chúng ta cần sống theo thánh ý của Thiên Chúa là sống có tình thương thật sự. Nếu giàu có, ta cần biết chia sẻ với những người nghèo khổ hơn chúng ta. Nếu nghèo khó, chúng ta vui vẻ chấp nhận hoàn cảnh sống ấy đồng thời nỗ lực vươn lên trong tinh thần «đói cho sạch, rách cho thơm». Đừng bao giờ vì thiếu thốn, nghèo khổ mà làm điều gì trái với lương tâm, trái với sự công bằng hay tình thương của mình. Có thế, ta mới xứng đáng được Thiên Chúa ân thưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên trời.





CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con biết sống yêu thương, dù trong cảnh giàu hay trong cảnh nghèo khổ. Tình yêu đối với Cha và với tha nhân luôn luôn có thể thể hiện ra thành hành động cụ thể dù trong cảnh giàu hay cảnh nghèo. Thật vậy, dù nghèo đến đâu, nếu có tình yêu, con cũng đều có thể biểu lộ tình yêu đó ra bằng cách này hay cách khác, và luôn luôn vẫn có cái gì đó để chia sẻ với mọi người. Còn không có tình yêu, thì dù giàu đến đâu, con vẫn có thể sống ích kỷ, không hề biết chia sẻ cho ai điều gì. Xin Cha hãy củng cố tình yêu ở trong con, để con yêu thương thật sự và thể hiện tình yêu thương ấy trong bất kỳ cảnh ngộ nào của đời sống con.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây để đọc bài đào sâu:



Share:

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2019

Phó Tổng Giám Mục Saigon Francis Nguyễn Văn Thuận: Vị Giáo Sĩ Bị Tù Không Bản Án



Phó Tổng Giám Mục Saigon
Francis Nguyễn Văn Thuận:
Vị Giáo Sĩ Bị Tù Không Bản Án
Hà Minh Thảo
14/Sep/2019

Ngày 30 tháng 4, 1975, tất cả gần 30 Hồng Y, Tổng Giám mục, Giám mục và Hội Đồng Giám mục Việt Nam đều ở lại với các con chiên.

Cộng sản đưa Tổng Giám mục Francis Nguyễn Văn Thuận ra Bắc nhốt trong tù 13 năm. Tháng 11 năm 1988, Cộng sản thả ra cho đi chữa bệnh vì sắp chết và cấm không cho Ngài về nước.

Ngày 16. 09. 2019, chúng ta kỷ niệm Lễ Giỗ lần thứ 17 Ðức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận. Ngày 04. 05. 2017, Bộ Phong Thánh đã công bố sắc lệnh nhìn nhận Vị Tôi Tớ Chúa này đã thực hiện các nhân đức ‘đến mức độ anh hùng’ để từ ngày đó, Ðức cố Hồng Y P.X. Nguyễn Văn Thuận được mang tước hiệu ‘Đấng Đáng Kính’ (Venerabile).

I. Trung thành bài sai Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI.

Ngày 07.01.1975, khi tỉnh Phước Long, một địa điểm chiến lược như cửa ngõ vào Sài Gòn, thất thủ, đe dọa sự sống còn của miền Nam nước Việt. Trước tình hình quân sự như vậy, Ðức cha Henri Lemaitre, Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam đã trao đổi với Ðức cha Phao lô Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục Sài Gòn để phải tìm một Giám mục phó với quyền kế vị đáp ứng một tiêu chuẩn không trẻ nhưng cũng không quá lớn tuổi và tuân theo ý muốn có ‘tinh thần sống chung và hợp tác với chính quyền mới’ của Ðức Thánh Cha Phao lô VI.

Mãi đến hơn 3 tháng sau, ngày 25. 04. 1975, điện tín từ Vatican gửi đến Sài Gòn mới xác nhận việc bổ nhiệm này. Lúc đó, Nha Trang đã rơi vào tay nhà nước cộng sản Bắc Việt. Mọi liên lạc với Ðức cha Nguyễn Văn Thuận đều bị cắt đứt. Do đó, mãi đến ngày 07.05.1975, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn mới tiếp nối được liên lạc với Ðức cha Nguyễn Văn Thuận để yêu cầu Người vào ngay Sài Gòn. Vào được Sài Gòn, Ðức cha Nguyễn Văn Thuận được hỏi ý kiến về việc bổ nhiệm này và nếu ưng thuận thì bàn giao sứ vụ Giám mục Nha Trang cho Ðức cha Phao lô Nguyễn Văn Hòa. Cùng ngày 07.05.1975, Đức cha Thuận, trong Tâm Thư gởi cho hàng giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân Giáo phận Nha Trang, đã viết: «Ngày 24.05.1975, Đức Thánh Cha Phaolô VI thuyên chuyển tôi về làm Tổng giám mục phó Sài Gòn với quyền kế vị, bổn phận tôi là cúi đầu tuân phục quyết định tối thượng của Đức Thánh Cha».

Ngày 12.05.1975, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn chính thức loan báo tin bổ nhiệm Ðức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận vào chức vụ Tổng Giám phó với quyền kế vị.

Cái gọi là ‘Nhóm Cấp Tiến’ bao nhiêu gồm trên dưới 20 ‘vị’ không đại diện cho ai và cũng không trực tiếp quản nhiệm các giáo xứ. Nhưng vì họ là thành phần trí thức liên lạc trực tiếp và ảnh hưởng tới những quyết định của Ðức Tổng Giám mục về cả về phạm vi Đạo lẫn Đời. Sau 30.04.1975, tiếng nói của họ rất có trọng lượng, tay sai đắc lực cho ‘cách mạng. Cộng sản Việt rất xảo quyệt đã ‘đánh thắng Mỹ’, giờ đây, sử dụng Giáo sĩ và Giáo dân Công Giáo để khởi đầu việc trục xuất Ðứùc Khâm sứ Tòa Thánh khỏi Việt Nam và Ðức Tổng Giám mục phó về Nha Trang và, sau đó, 13 năm tù… Tiếng nói của họ trở thành tiếng nói áp đảo, ngầm chứa đe dọa đối với những ai không theo họ. Những người sau này vào cái thế của đa số thầm lặng như quy luật của các ‘trò chơi chính trị’.

Theo đó, đã có một buổi họp tại Câu Lạc bộ Phục Hưng ngày 08.05.1975, khoảng 20 linh mục đã soạn thảo thư gửi Ðứùc Khâm sứ, Ðức Tổng giám mục Bình và Đức cha Thuận. Họ gồm các linh mục sau đây: Nguyễn Huy Lịch, Chân Tín, Trần Viết Thọ, Nguyễn Văn Trinh, Huỳnh Văn Huệ, Trần Xuân Lai, Nguyễn Quang Lãm, Đinh Bình Ðịnh, Trần Thái Hiệp, Nguyễn Thiện Toàn, Hoàng Kim, Nguyễn Văn Hòa, Trương Bá Cần, Huỳnh Công Minh, Hoàng Văn Thiên, Thanh Lãng, Vương Đình Bích.

Ngày 12.05.1975, lại có một buổi họp khác và đã đề cử những người sau đây đi gặp Tổng Giám mục Bình và Giám mục Thuận gồm 8 người, trong đó có Thanh Lãng, Hoàng Kim, Vương Đình Bích, Phan KhắcTừ…

Trong phiên họp ngày thứ sáu 27.06.1975, tại Dinh Ðộc lập cũ (Trụ sở Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn – Gia Định), kéo dài từ 15 đến 19 giờ, Ðức cha Nguyễn Văn Thuận đã đối diện với ba Cán bộ cao cấp của Ủy ban Quân quản cùng các người Công Giáo. Ðối với Chính quyền cộng sản, sự thuyên chuyển độ một tuần trước khi họ tiếp thu Sàigòn vào ngày 30.04.1975, là bằng cớ âm mưu giữa Vatican và các Ðế quốc. Ðể trả lời sự cáo buộc đó, Người đã lập lại sự vâng phục trên: « Đã được bổ nhiệm, thì tôi bó buộc phải vâng lời, không thể làm khác ».

Một người trong ‘Nhóm Cấp Tiến’, linh mục Thanh Lãng cho rằng không thể chấp nhận Tổng Giám mục phó Nguyễn Văn Thuận đứng đầu Giáo phận là vì ông là Giám mục ‘nổi tiếng chống cộng’. Đó là một sự phản đối hoàn toàn mang tính chính trị.

[Xin ghi nhận. Lm. Thanh Lãng đã kể lại sự việc từ lúc bắt đầu như thế nào trong tài liệu đánh máy 39 trang, đã hối hận và xin thứ lỗi về việc đã làm đối với Ðức Hồng Y Ðáng Kính P. X. Nguyễn Văn Thuận, trước khi chết].

Linh mục Trần Du đã biện luận trước Ủy ban Quân quản: «Quyết định bắt Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận rời Sài Gòn không thể thi hành được. Hai triệu dân Công Giáo không chấp nhận. Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận không có quyền từ chức. Vậy thì chính quyền có thể giết Ngài, có thể giết cả tôi, có thể bỏ tù Ngài hay bỏ tù tôi, nhưng không thể tự ý trục xuất Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận ra khỏi Sài Gòn».

Có người cho rằng nếu Toà Thánh sớm đã bổ nhiệm để Ðức cha Nguyễn Văn Thuận đã có mặt tại Sài Gòn trước ngày 30. 04. 1975 thì mọi chuyện đã yên ổn với chủ nhân mới Sài Gòn. Mọi chuyện không đơn giản như vậy vì sau đây là lý do thứ hai và chính yếu vì các Ðức cha khác không Vị nào có.

II. Cháu ông Ngô Ðình Diệm

Ðó là một lý do không ai trong chúng nghĩ đến, nhưng đó là Sự Thật mà Người Mỹ và những kẻ gây ra ngày 01.11.1963 đã giúp cộng sản chiến thắng ngày 30.04.1975. Chúng ta hãy bóp óc suy nghĩ đi…

1. - Ngày 15.08.1975, Ủy ban Quân quản mở cuộc họp tại Nhà hát Thành phố để cáo buộc tội Ðức cha Nguyển Văn Thuận ‘sau lưng’ Người. Khoảng 350 giáo sĩ, tu sĩ được mời buộc nghe. Ủy ban Quân Quản muốn ngừa tránh mọi phản ứng của người dân đối với vụ bắt Ðức cha Thuận. Trước đó, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn văn Bình và Đức Tổng Giám Mục phó được đưa đến Dinh Độc Lập lúc 14 giờ. Tại đó, khi đi qua hành lang để đến phòng họp, Ðức cha Bình đi trước, Ðức cha Thuận đi sau. Lúc đó, một công an chận Ðức cha Thuận lại và nói: ‘Anh đi lối này’ và lôi Người đi mất luôn. Khoảng 30 phút sau, do chỉ thấy tướng Trà nói chuyện vu vơ, Ðức cha Bình hỏi: - Thưa Thượng tướng, còn chuyện gì cần nữa không?

Tướng Trà trả lời:

- Thôi! Cụ ra về được rồi.
- Ðức cha phó của tôi đâu mời Ngài cùng về.
- Như cụ thấy, chế độ này là chế độ Cộng sản. Tên Thuận là dòng dõi Ngô Ðình Diệm, chúng nó chống Cách mạng từ trong trứng chống ra, nên không thể để nó ở đây được.

Sau đó, Ðức cha Thuận bị bắt và đem đi trên một xe hơi có hai công an kèm theo. Trong cuộc hành trình dài 450 cây số, trên đường không có một ai. Ðức cha biết mình đang mất tất cả. Ra đi với chiếc áo chùng thâm trong túi có một cỗ tràng hạt. Người chỉ còn biết phó thác cho Chúa Quan Phòng. Giữa bao lo âu ấy, Người vẫn thấy có một niềm vui lớn: ‘Hôm nay là lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời… ’ và Chúa muốn Ðức cha hãy trở về với điều cốt yếu. Sau đó, Ðức cha đã bị giam giữ nhiều nơi khác nhau, trong đó, có 9 năm bị biệt giam, cho đến ngày 23. 11. 988, được thả tự do và bị quản chế tại Hà Nội.

2. - Năm 1993, nhân việc bổ nhiệm Ðức cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi, Giám mục Phan Thiết về nhận niệm vụ Giám quản Sài Gòn, ngày 22.09.1993, ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch Uûy ban Nhân dân Thành phố, đã gửi thư cho Ðức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình có nhắc lại việc bổ nhiệm Ðức cha Nguyễn Văn Thuận như sau: «… Như cụ đã biết, năm 1975 Chính phủ ta đã không chấp nhận ông Nguyễn Văn Thuận về Giáo phận thành phố và dứt khóat sẽ không bao giờ chấp nhận, vì ông Nguyễn Văn Thuận đã từng gắn bó với một gia đình có nhiều nợ máu với nhân dân và bản thân ông Nguyễn Văn Thuận cũng có một quá trình lâu dài và tinh vi chống phá sự nghiệp giành độc lập và bảo vệ độc lập dân tộc… ».

3. - Ngày 05.07.2013, tiến trình phong Chân Phước cho Vị Tôi Tớ Chúa đã hoàn thành ở Tổng Giáo phận Rôma. Nhân dịp này, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Ðức, được Hội đồng Giáo Hoàng Công lý và Hòa bình mời tham dự lễ ‘Bế mạc phần điều tra tại Giáo phận’, đã bị công an sân bay Nội Bài, Hà nội chặn lại không cho xuất cảnh sang Bangkok (Thái lan) trên đường đi Rôma (Ý đại lợi). Ông Ðức kể cho ông Mặc Lâm, phóng viên Ðài Á châu Tự do RFA biết: «Khi làm ở Phòng Tôn giáo Bộ Công an, người ta có ‘đối sách’ về Ðức cha vì một tội rất to là cháu của Ngô Ðình Diệm và sự về Sài gòn làm Phó Tổng Giám mục là để lót ổ lên Tổng Giám mục nên Người bị chuyển ra Bắc». Tại sao, với hai ‘tội nặng’ này và bị giam giữ 13 năm, trong có những năm biệt giam, nhưng đảng cộng sản không dám đem Ðức cha ra tòa xét xử?

Trong thời gian 13 năm ở tù không bản án, bắt chước Thánh Phaolô, Cha đã viết thư cho các giáo đoàn về kinh nghiệm sống Ðức Tin, Mục vụ, Tu đức. Ðó là ba tập sách:

- Ðường hy vọng (1975) ;
- Ðường hy vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Cơng Đồng Vatican II (1979) ;
- Những người lữ hành trên Ðường Hy Vọng (1980).

III. Thi hành sứ vụ tuyên úy trong lao tù

1- Trại tù khổ sai.

Ở trại Phú Khánh, Ðức cha bị giam trong một phòng không có cửa sổ, phải đi qua ba lớp cửa trong một hành lang mới đến khí trời. Vào đó nóng cực kỳ, tôi ngột ngạt và cảm thấy trí óc mất sáng suốt dần dần, cuối cùng là mê man. Có lúc người ta để đèn sáng như ban ngày, lúc khác lại nằm trong bóng tối. Buồng vừa nóng vừa ẩm, đến nỗi tôi xuống nằm dưới nền, còn nấm thì mọc lên trắng cả chiếc chiếu của tôi. Lúc nằm trong tối tăm, tôi thấy có một lỗ dưới vách, ánh sáng lọt vào, tôi lết đến, kê mũi vào đó để thở. Lúc nào trời mưa, nước ở ngoài ngập, những con trùng ở ngoài bò vào, có cả giun và có lần có cả con rết dài; dù thấy vậy, nhưng tôi yếu mệt quá không làm gì được, tôi cứ để cho chúng bò quanh, ngày nào nước xuống, thì chúng lại bò ra. Sau này hai linh mục bị giam cách tôi hai lớp cửa, đã thuật lại cho tôi biết: “Một hôm cô Thanh, cấp dưỡng, đã mỡ cửa cho chúng con ra đứng nhìn Ðức Cha nằm dưới đất và bảo: cho hai anh nhìn thấy ông Thuận, ông sắp chết!” Nhưng trong cơn cơ cực này, Chúa đã cứu tôi!

Tôi phải chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa: Chính Chúa muốn cho tôi ở đây, chứ không phải nơi khác.

2. Của nuôi phần Hồn.

«Khi bị bắt, tôi phải ra đi tay không, đi ngay lập tức. Ngày hôm sau, tôi được phép viết cho những người thân để xin những thứ cần thiết nhất như áo quần, kem đánh răng,… Tôi viết: “Xin vui lòng gửi cho tôi một chút rượu thuốc để chữa bịnh đường ruột”. Các tín hữu hiểu ngay. Họ gửi cho tôi một chai nhỏ đựng rượu lễ, bên ngoài có ghi ‘Thuốc chữa bịnh đường ruột’, còn bánh lễ thì họ giấu trong một ống nhỏ chống ẩm thấp».

Giám thị hỏi tôi:

- Ông bị bịnh đường ruột?
- Phải.
- Ðây, có ít thuốc cho ông đây.

Tôi không bao giờ có thể diễn tả hết hết niềm vui lớn lao của tôi: mỗi ngày, với ba giọt rượu và một giọt nước trên lòng bàn tay, tôi cử hành Thánh Lễ. Và đó cũng là bàn thờ, là nhà thờ chính tòa của tôi! Ðó là liều thuốc đích thực cho linh hồn và thân xác tôi: «thuốc trường sinh bất tử, thuốc giải độc để khỏi chết, nhưng luôn được sống trong Chúa Giêsu», như Thánh Ignatio thành Antiokia đã nói.

Mỗi lần như thế tôi được dịp giang tay và đóng đinh mình vào thập giá với Chúa Giêsu và cùng Ngài uống chén đau khổ nhất. Mỗi ngày, khi đọc lời truyền phép, với tất cả tâm hồn, tôi làm lại một giao ước mới, giao ước vĩnh cửu giữa tôi và Chúa Giêsu, hòa lẫn Máu Ngài với máu của tôi. Ðó là những Thánh Lễ đẹp nhất trong đời tôi!

Tuy nhiên, cách dâng lễ mỗi nơi mỗi khác. Dưới hầm tàu thủy chở tôi ra miền Bắc, ban đêm tôi ngồi giữa mấy bạn tù, bàn thờ là túi cói đựng đồ, dâng lễ thánh Phanxicô quan thầy của tôi và cho các bạn chịu lễ. Lúc ở trại Vĩnh Quang, tôi phải dâng lễ trong góc cửa ban sáng lúc người ta đi tắm sau giờ thể dục. Lúc đã quen với thời khóa biểu của trại, tôi dâng lễ ban đêm, vì chúng tôi được chia thành từng đội 50 người, ngủ chung trên một láng gỗ, mỗi người được 50 cm, đầu đụng nhau, chân quay ra ngoài. Chúng tôi đã thu xếp để năm anh em Công Giáo nằm quanh tôi. Ðến 9 giờ rưỡi đêm, nghe tiếng kẻng là tắt đèn và mọi ngươi phải nằm trong mùng muỗi cá nhân: tôi ngồi cúi sát xuống để dâng lễ thuộc lòng. Tôi đưa tay dưới mùng để chuyển Mình Thánh cho anh em chịu lễ. Chúng tôi nhặt lấy giấy nylon bọc bao thuốc hút để làm những túi nhỏ đựng Mình Thánh. Như thế Chúa Giêsu luôn ở giữa chúng tôi. Chúng tôi tin một sức mạnh: Thánh Thể. Thịt Máu Chúa làm cho chúng tôi sống. «Ta đã đến là để chúng được có sự sống, và sống một cách dồi dào» (Ga 10,10). Như manna nuôi dân Do Thái đi đường về Ðất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường Hy vọng (Ga 6,53).

Mỗi tuần, sáng thứ sáu có buổi học tập, tất cả 250 anh em phải tham dự. Ðến lúc xả hơi, các bạn Công Giáo thừa dịp đó mang các túi nylon đựng Mình Thánh đến chia cho bốn đội kia, mỗi người thay nhau mang trong túi áo một ngày…

Những người tù biết có Chúa Giêsu Thánh Thể đang ở giữa trại tù với họ. Chính Ngài an ủi, xoa dịu những khổ đau thể xác và tinh thần; chính Ngài thêm can đảm chịu đựng cho họ. Ban đêm, họ thay phiên nhau làm giờ thánh. Sự hiện diện thinh lặng của phép Thánh Thể biến đổi họ cách lạ lùng. Nhiều người Công Giáo trở lại sống đạo đức hơn; nhiều anh em không Công Giáo tìm hiểu Phúc âm và lãnh phép Thánh tẩy trong trại cải tạo, hoặc sau lúc được tự do. Nhà tù trở thành trường dạy giáo lý. Không có gì cưỡng lại được tình yêu Chúa Giêsu. Ðêm tối của ngục tù trở thành ánh sáng, hạt giống đã đâm chồi dưới đất đang lúc trời giông tố phong ba. Những ơn trọng này do Chúa Giêsu Thánh Thể chứ không phải do sức loài người.»

3. Thiết lập Tình Người trong lao tù.

Trong ngục tù chủ nghĩa vô thần ngụy trang trại cải tạo đầy hận thù, nhờ Ơn Chúa Thánh Thần, Ðức cha Nguyễn Văn Thuận đã có thể kết bạn với cai ngục, những người quen hành hạ tù chính trị bằng nhục hình hoặc các biện pháp tâm lý ác hiểm. Đức cha kể: «Ở trại giam Phú Khánh, một đêm tôi đau quá, thấy một người gác đi qua, tôi kêu: ‘Tôi đau quá, xin anh thương tình cho tôi thuốc! ’ Anh ta đáp: ‘Ở đây chẳng có thương yêu gì cả, chỉ có trách nhiệm’. Đó là bầu khí chúng tôi ở trong tù.»

Một đêm đông lạnh quá, không ngủ được, tôi nghe có tiếng nhắc: «Tại sao con dại thế? Con mang tình thương Chúa Giêsu trong tim con. Hãy yêu thương họ (cai tù) như Chúa Giêsu đã yêu con». Sáng hôm sau, Ðức cha bắt đầu mến họ, yêu mến Chúa Giêsu trong họ, tươi cười với họ, trao đổi đôi ba câu nói… Ngài tìm cách trò chuyện, khơi gợi sự tò mò nơi cai ngục:

- Lúc bị biệt giam, trước tiên người ta trao cho năm người gác Ðức cha: đêm ngày có hai anh trực. Cứ hai tuần đổi một tổ mới, để khỏi bị tôi làm nhiễm độc. Một thời gian sau không thay nữa, vì ‘cấp trên’ nói: «Nếu cứ thay riết thì sở công an bị nhiễm độc hết!». Thật vậy, để tránh nhiễm độc, mấy anh không nói với tôi, chỉ trả lời ‘có’ hoặc ‘không’. Người muốn lịch sự vui vẻ với họ, họ vẫn lạnh lùng. Phải chăng họ ghét ‘cái mác phản động’ nơi Người: Tất cả áo quần đều đóng dấu hai chữ lớn ‘cải tạo’, kể từ ngày bước chân vào trại Vĩnh Quang ở Bắc Việt…

- Tôi thuật lại những chuyến đi ra nước ngoài, cuộc sống, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tự do dân chủ ở Canada, Nhật Bản, Pháp, v.v… Những câu chuyện đó kích thích tính tò mò của họ, giục họ đặt nhiều câu hỏi. Tôi luôn luôn trả lời… Dần dần chúng tôi trở thành bạn. Họ muốn học sinh ngữ Anh, Pháp… tôi giúp họ. Từ từ họ trở thành học trò của tôi! Bầu khí nhà giam đổi nhiều, quan hệ giữa họ với tôi tốt đẹp hơn. Thậm chí cả những ông xếp công an, thấy tôi đối xử chân thành, không những họ xin tôi giúp các chiến sĩ học hành ngoại ngữ, nhưng họ còn gửi anh khác đến học.

Ðức cha sống theo lời Chúa Giêsu dạy: «Điều gì con làm cho một người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính mình Ta».

IV. Người tù không bản án

Bị bỏ tù không bản án thì việc ra khỏi nhà tù cũng ‘không giống ai’, Ðức cha đã viết trong ‘Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá’ như sau: «Một hôm trời mưa, tôi đang thổi cơm trưa, tôi nghe điện thoại của chiến sĩ trực reo. ‘Biết đâu có tin gì cho tôi? Ðúng rồi, bữa nay là lễ Ðức Mẹ dâng mình vào đền thánh, 21 tháng 11 mà! ’. Năm phút sau, anh chiến sĩ trực đến:

- Ông Thuận ơi, ông ăn chưa?
- Chưa ạ, tôi đang thổi cơm đây.
- Ăn xong, ăn mặc sạch sẽ, đi gặp lãnh đạo.
- Lãnh đạo là vị nào vậy?
- Tôi không biết, tôi chỉ được báo thế. Chúc ông may mắn.

Tôi đã được đưa đến nhà khách chính phủ, bên hồ Ha-le, và tôi đã gặp ông Mai Chí Thọ, Bộ trưởng Nội vụ (Bộ công an). Sau lời chào hỏi xã giao, ông Bộ trưởng đã hỏi:

- Ông có nguyện vọng gì không?
- Thưa có, tôi muốn được tự do.
- Bao giờ?
- Hôm nay.

Ông Bộ trưởng có vẻ ngạc nhiên, thường tình phải có thời gian cho cơ quan nhà nước xếp đặt… Nhưng hôm nay là lễ Ðức Mẹ nên tôi tin chắc và xin như vậy. Ðể đánh tan bầu khí lúng túng và ngạc nhiên ấy, tôi nói:

- Thưa ông Bộ trưởng, tôi ở tù lâu lắm, suốt ba đời Giáo hoàng: Phaolô VI, Gioan Phaolô I, và Gioan Phaolô II. Về phía xã hội chủ nghĩa thì tôi đã ở tù bốn đời Tổng Bí thư Liên Xô: Brezhnev, Andropov, Chernenko, và Gorbachev.

Ông Bộ trưởng bật cười và nói:

- Ðúng! đúng!

Ông quay qua bảo người bí thư:

- Hãy liệu đáp ứng nguyện vọng của ông.

Trong lòng tôi vui mừng tạ ơn Ðức Mẹ Maria, vì không những được tự do mà còn được cả dấu chỉ. Chắc Mẹ tha tội tôi cả gan thách đố Mẹ.»

Từ khi còn ở trong nước hay lúc bôn ba nơi đất người, rất nhiều lần khi còn là Ðức cha hay Ðức Hồng Y, Giáo sĩ P.X. Nguyễn Văn Thuận đã yêu cầu nhà nước Việt Nam đưa Người ra trước Tòa án nhân dân để được biết: Tại sao Người đã bị giam tù trong 13 năm? Tội thứ nhất thì vô lý, Tội thứ hai thì nực cười.

MỜI ÐỌC THÊM:

Ngày 02.11.1963, khi nhận hung tin hai người cậu Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu bị thãm sát, Linh mục P.X. Nguyễn Văn Thuận không tin một người như Diệm lại phải chết thê thãm như thế và Cha rất phẩn uất.

Hiền mẫu của Cha, bà Ngô Ðình Thị Hiệp, tìm cách trấn an con và đưa về Sự Thật bằng những lời lẽ ôn tồn. Cha quan sát mẹ, sức lực còn tốt trước những đau đớn bà phải chịu. Bà đứng dậy và đi đến bàn làm việc, mở ngăn kéo để rút ra một tờ giấy trắng. Bà kéo tay con vào nhà nguyện và nói: «Ðã đến lúc con phải đọc tờ này. Mẹ đã cất giữ một thời gian khá dài».

Cha Thuận ngừng nơi cửa nhà nguyện để đọc. Cha nhận ngay những dòng chữ của cậu Diệm, đơn sơ như chữ trẻ viết, rõ ràng, những chữ O thật tròn, các khoản cách đều đặn. Ðây là bản chính ghi những lời Tuyên khấn ngày 01.01.1954 tại tu viện Thánh André ở Bruges Bỉ) ở bậc oblat dòng Thánh Benoit. Văn kiện ghi rõ tên thánh của Cậu là Odilon. Đôi tay Cha run lên. Thật tự nhiên khi Cậu chọn tên này mà lễ mừng đúng ngày 01.01. hàng năm.

Sự chọn này còn là một điều tiên tri? Thánh Odilon là Thánh Bổn mạng những người Tị nạn và những người Lánh nạn, và Tổng thống Diệm đã nổ lực hoàn thành trong 9 năm (1954 – 1962) để giúp gần một triệu người Việt Miền Bắc vào lập nghiệp ở Miền Nam Tự do. Thánh Odilon, đồng thời, là Ðấng Sáng lập Lễ các Ðẳng Linh hồn, ngày ông Diệm trở về Nhà Cha.

Bà Hiệp nói, bằng một vọng nhẹ ‘Cậu con đã hiến trọn đời cho Tổ Quốc. Thật không gì bất thường cho sự Vị Quốc Vong Thân. Là người đã khấn cho Thiên Chúa. Như vậy, không có gì là quá đáng khi Chúa gọi Cậu về Nhà Cha. Thuận cúi đầu vâng lời và đi theo Mẹ vào Nhà Nguyện và nghĩ rằng: «Lạy Chúa, con tin rằng Chúa đã chết trong tay Con Người. Sự chết đã cứu rỗi Con. Nhưng vì những lý do nào mà Cậu con đã phải chết như thế?».

Cha Thuận ngước nhìn Mẹ. Bà bình tĩnh trước sự tàn sát dã man và sự qua đời của hai Anh mình. Bà đang quỳ cầu nguyện…

Ngày 14. 09. 2019

Lễ Suy Tôn Thánh Giá

Hà Minh Thảo
Share: