Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

Thời Kỳ Gì Đây ?


 

Thời Kỳ Gì Đây ?



ĐỖ DUY NGỌC
Chúng ta đang sống thời đại gì đây?
Có lẽ trong lịch sử của dân tộc, đây là một thời kỳ khó đặt tên.
Ngành giáo dục thì có Bộ Trưởng ngọng và câm. Có Cô Giáo quỳ, Cô Giáo giẻ lau, Cô Giáo đéo, Cô Giáo câm, Cô Giáo đi hầu rượu như gái bia ôm. Có Thầy Giáo ấu dâm, Giáo Viên bán chỗ dạy, Giáo Viên ăn chận tiền Giáo Viên, Lãnh Đạo ngủ với Cô Giáo để cho biên chế. Có Sinh Viên ngủ với Thầy để xin điểm, có Học Sinh bóp cổ Cô Giáo, Học Trò đâm Thầy lủng ruột.
Bộ Y Tế thì có Thứ Trưởng ký nhập đủ loại thuốc gây tai hoạ khôn lường. Có Lãnh Đạo tiếp tay nhập thuốc giả bán giá cao. Có bệnh nhân 4 người một giường, có người cấp cứu sắp chết phải đóng tiền mới khám. Có Bác Sĩ, Y Tá bị dí chạy quanh, bị đấm đá túi bụi. Có viện phí thì tăng mà phẩm lượng lại giảm. Có bệnh viện vào nằm không xem TV cũng đóng tiền, không dùng nước nóng cũng trả tiền, đêm không được bật đèn. Bệnh nhân bị xem như những con thú trong chuồng, bị đối xử nhẫn tâm, là đối tượng để tận dụng làm giàu.
Bộ Giao Thông Vận Tải làm đường chưa xài đã lún, chưa chạy đã nát, giá thực hiện cao nhất Thế Giới mà phẩm lượng thấp nhất trái đất. Cầu làm cốt tre, đường lót bằng mút. Cầu chưa đi đã sập, đường chưa chạy đã lắm ổ voi. BOT nơi nào cũng có, thu giá trên trời, đặt không đúng chỗ, làm một đoạn thu cả đường, thu tiền quá niên hạn quy định. Bộ Trưởng phớt lờ dư luận, xem thường ý kiến nhân dân.
Bộ Tài Nguyên Môi Trường đào hết tài nguyên đem bán. Biển ô nhiễm vì Formosa, lãnh đạo tìm mọi cách bênh vực, làm đủ trò chối tội. Cấu kết với doanh nghiệp bán đất, bán rừng. Ao hồ, sông ngòi khô hạn, ô nhiễm, lãnh đạo bình chân như vại, quẩn quanh không lối thoát. Các thành phố lớn khí độc nằm trong khí thở, nhân dân sống chung với ô nhiễm môi trường, cái mầm bệnh về hô hấp lúc nào cũng chục chờ xâm nhập lá phổi của người dân .
Bộ Tài Chính suốt ngày tìm đủ cách để rút ruột người dân vô tội vạ. Thuế môi trường, thuế tài sản, hàng trăm thứ thuế dội lên đầu dân, xứ nghèo mà mua gì cũng đắt vì thuế quá cao. Chính sưu thuế làm dân nghèo đi. Thuế cao mà an sinh xã hội thì quá tệ lậu, người già, trẻ em chẳng được quyền lợi ưu tiên nào trong đời sống. Thuế cản trở doanh nghiệp, thuế khiến dân không lối thoát.
Lãnh Đạo từ trung ương đến địa phương chạy theo thu lợi bằng mọi cách. Họ làm giàu một cách nhẹ nhàng, dễ dàng và nhanh chóng khiến các đại gia của các nước tư bản phải thèm thuồng .
Thứ gì họ cũng ăn, đặc biệt là ở lãnh vực đất đai. Vì lợi nhuận quá lớn đưa đến mỗi địa phương là một Lãnh Chúa, bỏ ngoài tai những quyết định của trung ương, trên bảo dưới chẳng cần nghe. Tìm đủ mọi cách để lừa dối kiếm lời. Sửa luôn quy hoạch của trung ương để cướp đất dân, bỏ túi hàng ngàn tỷ. Bắt tay những doanh nghiệp bán đất, bán rừng, bán biển, bán đảo, đuổi dân đi, khiến dân trở thành kẻ tha phương cầu thực. Di tích, đền đài, kiến trúc lâu năm đều được quy thành tiền, có giá là đập là xoá để xây dựng mới, vừa bán đất có tiền vừa được chia chác từ dự án mới.
Lãnh đạo cấu kết với nhau, bắt tay với những doanh nghiệp ma đầu tạo ra những nhóm lợi ích chia nhau lợi tức bất kể đạo lý, thần linh, lịch sử, ký ức những thứ theo họ nghĩ là không sinh lợi. Họ bán rẻ đất nước này, họ không cần quan tâm dân sẽ sống như thế nào mà chỉ nghĩ họ thu lợi được bao nhiêu. Càng lúc họ càng phi nhân tính, quay cuồng với đồng tiền mà quên hết và vứt bỏ hết mọi giá trị để làm một con người. Họ tha hoá, trụy lạc trong cách sống, tìm đủ mọi cách để hưởng lạc. Họ mua sắm, xây dựng nhà cửa nguy nga, sân vườn như Vua Chúa. Họ gởi tiền ra nước ngoài, mua những khu đất lớn, những lâu đài, những chuỗi nhà hàng, siêu thị. Con cái sinh hoạt, vui chơi như những trẻ dòng dõi hoàng gia. Và lúc cần, họ rời đất nước trở thành những đại gia định cư ở xứ người. Họ trang bị cho mình nhiều bằng cấp, nhiều học hàm, học vị nhưng mở miệng toàn nói ngu, nói ngược với ý kiến nhân dân nên chẳng bao giờ được lòng dân .
Thời mà miếng ăn bỏ vào mồm cứ sợ là thuốc độc, bệnh uống viên thuốc cứ nghi là thuốc giả. Thời mà ở đâu cũng có thể bị đe doạ, ở trong nhà sợ kẻ cướp, ra đường sợ lũ giật dọc, sợ cây rơi, điện giật, sập hố, sẵn sàng bị giết chỉ bởi một lời nói, một ánh nhìn .
Thời mà trong sinh hoạt chẳng biết tin ai, chẳng biết tin vào cái gì? Thời mà những lời rao giảng đạo đức, những lời dạy dỗ, những tuyên ngôn trở thành như những câu thoại của một vở kịch hài. Thời mà người ta ngang nhiên chiếm đất công. Một bên là hàng ngàn người lũ lượt chen nhau để làm thủ tục lên máy bay, máy bay không còn chỗ đậu, đường băng kẹt như xa lộ kẹt xe. Một bên là bãi cỏ xanh biếc mênh mông hàng trăm héc ta, dành cho một vài kẻ thừa tiền nhởn nhơ giải trí. Thế mà dư luận, ý kiến của cả xã hội chẳng làm gì được, cả chính phủ cũng chỉ đưa mắt nhìn.
Thời mà kẻ cướp vào nhà ta không dám hé môi, nếu phản ứng có thể bị cướp giết, nếu đánh trả ta trở thành tội phạm, phải đi tù. Nếu chống trả gây hậu quả cho kẻ cướp, ta có thể bị kết án tử hình. Thế luật pháp đứng về phía nào? Luật pháp bảo vệ ai?
Xã hội chứa toàn mầm ác, con người đối xử với nhau tệ hơn thú vật. Trọng vật chất hơn con người. Suốt ngày các phương tiện truyền thông quảng cáo một lối sống chú trọng bề ngoài, đề cao lối sống vật chất, thiếu tình người. Các chương trình giải trí nhảm nhí, thiếu văn hoá, chỉ toàn là kiểu làm trò của các anh hề.
Văn hoá vỡ nát, phong tục bị bôi bẩn, lịch sử bị bóp méo, truyền thống bị đánh mất. Mọi giá trị tinh thần bị đảo lộn, ông / thằng bị đánh tráo. Con người dựa sức mạnh vào đồng tiền, dùng đồng tiền chi phối và lèo lái luật pháp, đứng trên luật pháp. Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
Nền nếp gia phong bị đảo lộn, những khuôn phép bị bẻ gãy, người lương thiện hoang mang và gánh chịu thiệt thòi. Trẻ con bị nhồi nhét vào đầu một lối sống thực dụng hoang dã, ích kỷ, chỉ biết thu vén cho bản thân và vô cảm với mọi thứ chung quanh. Chúng bị nhồi vào đầu những kiến thức vô bổ trong khi thiếu trang bị kỹ năng sống và sáng tạo. Một thế hệ nói và làm như một con vẹt. Một thế hệ chỉ biết cúi đầu thiếu ý thức phản kháng. Chúng như một cơ thể thiếu sức đề kháng nên cái xấu dễ xâm nhập và tung hoành.
Con người mất lòng tin nên chạy theo thần linh, ma quỷ. Họ mê tín đến độ cuồng si, họ tin vào Thế Giới ảo vọng một cách cực đoan. Họ không còn lòng tin vào cuộc sống nên dễ bị dẫn vào con đường tà đạo, tin vào quỷ ma.
Ngay những người chăn dắt linh hồn cũng trở thành kẻ buôn thần bán thánh, đội lốt Thầy Tu, mượn áo Nhà Dòng để làm điều bất chính. Chùa Đình xây lên to lớn, bề thế để kiếm lời. Nó không còn là chỗ tu hành linh thiêng mà trở thành nơi kinh doanh Thần Phật.
Cả xã hội nhốn nháo vì đồng tiền, cả đất nước sôi sục vì lợi lộc. Không còn chỗ để nói chuyện nhân từ, không còn thời gian để bàn chuyện lễ giáo. Người ta kinh doanh cả chuyện làm từ thiện, người ta cướp cả chén cơm của người già và bình sữa của em bé, viên thuốc của người bệnh. Ngang nhiên ăn cướp và ngang nhiên hưởng thụ, luật pháp ngoảnh mặt làm ngơ. Họ xô đẩy, chen lấn nhau để sống nên bỏ mặc văn minh, đánh rơi văn hoá.
Tôi không bôi đen xã hội, tôi không bêu xấu thời tôi đang sống, nhưng đau đớn thay nó là sự thật, một sự thật tàn nhẫn không kể hết được, tôi chỉ là người ghi chép lại những điều này báo chí, dư luận nói nhiều rồi.
Nhưng tôi vẫn tin rằng xã hội vẫn còn có những ánh sáng le lói để ta còn chút tin. Vẫn còn một ít người tốt để ta còn trông cậy. Thế nhưng ánh sáng không diệt hết đêm đen, người tốt thành cô đơn trong Thế Giới hỗn loạn này. Nhưng rồi phải có lòng tin để sống. Tin rồi cái thiện sẽ thắng cái ác. Người tốt sẽ diệt kẻ xấu. Kẻ bán nước phải bị nêu tên, người yêu nước phải được ca ngợi.
Nhưng giờ đây, ta gọi thời ta đang sống đây là thời kỳ gì nhỉ? Lưu Quang Vũ đã có lần gọi là: «thời kỳ đồ đểu». Nhưng bây giờ, cái đểu đó, cái đốn mạt đó đã tiến xa lắm rồi, gọi là thời kỳ đồ đểu e là còn nhẹ quá chăng ?./.
ĐỖ DUY NGỌC


Share:

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020

Thong-diep-chinh-tri-cua-phim-Ky-Sinh_trung



Người giàu, người nghèo ...
và thông điệp chính trị của “Ký sinh trùng”
Phan Đăng Phong



Bộ phim Hàn Quốc “Parasite” đình đám của đạo diễn Bong Joon Ho đã làm nên lịch sử tại giải Oscar 2020 vừa rồi.

http://vtv16.info/phim/ky-sinh-trung-v1-7301/xem-phim.html

Nó là bộ phim không sử dụng tiếng Anh đầu tiên chiến thắng giải “Phim hay nhất” (Best Picture), cùng với ba giải thưởng khác là “Kịch bản gốc Xuất sắc nhất” (Best Original Screenplay), “Phim Quốc tế hay nhất” (International Feature Film) và giải “Đạo diễn Xuất sắc nhất” (Best Directing) của ông Bong Joon Ho. Khán giả Việt Nam cũng như khán giả quốc tế có vẻ rất hài lòng với kết quả này: sự thành công của “Parasite” thể hiện sự phát triển của nền điện ảnh châu Á trên trường quốc tế, của một Oscar chuyển mình từ một sân chơi bị gọi là thiếu đa dạng và “toàn da trắng” tới sự công nhận một bộ phim xứ Hàn với những giải thưởng rất uy tín.

Tuy nhiên, không phải ai cũng hài lòng với chiến thắng này của “Parasite”.

Tùy cảm nhận nghệ thuật của mỗi người, có những người cho rằng có những bộ phim khác xứng đáng nhận nhiều giải thưởng hơn. Nhưng cũng có những người cảm thấy “Parasite” không xứng đáng với những sự công nhận này vì đơn giản họ không đồng ý với nội dung và thông điệp của bộ phim: một sự lên án chủ nghĩa tư bản và thể hiện những hậu quả của chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism).

Và thật vậy, nội dung của “Parasite” không hề thân thiện với những người là con chiên ngoan đạo của chủ nghĩa tư bản hay một nền kinh tế tự do.

Những người này thường ủng hộ chủ nghĩa tân tự do như đề xuất của Ronald Reagan hay Margaret Thatcher ở thế kỉ 20 vì tin rằng chỉ có một nền kinh tế tự do lưu thông, không bị ràng buộc và chính phủ ít can thiệp như vậy mới hiệu quả với cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng và thị trường lao động. Họ tin rằng chỉ khi áp dụng một nền tư bản tân tự do, những người rất nghèo mới có cơ hội thoát nghèo bằng cách chăm chỉ lao động, và cho rằng con người chỉ mãi nghèo nếu như không chăm chỉ.

Tư tưởng theo kiểu thuyết Xã hội Darwin (Social Darwinism) này – cho rằng thuyết tiến hóa của Darwin có thể được áp dụng lên cả xã hội, rằng chỉ có những kẻ “mạnh nhất” trong xã hội mới “chiến thắng” và leo lên các tầng lớp xã hội cao hơn – không phải là mới, mà dường như theo gót tư bản và chủ nghĩa tân tự do ở bất kì đâu, thậm chí cả những nhà nước cộng sản đang mang một nền kinh tế tư bản như Trung Quốc (kinh ngạc thay, thuyết Xã hội Darwin thực chất có tầm ảnh hưởng rất lớn lên Trung Quốc và một vài nước châu Á khác). Dù là nhà nước nào và theo chế độ nào, người ta cũng phải biện minh được sự tồn tại của những người nghèo tới rất nghèo trong xã hội.

Đạo diễn Bong Joon Ho hiểu được điều đó, và đặt ra câu hỏi rằng: Nhưng như vậy có công bằng không?




Gia đình Kim. Ảnh: Vox.

Gia đình Kim trong phim không phải là những người lười biếng, và thậm chí có thể nói là không phải không có tài, nhưng họ không có cơ hội để đổi đời. Sống ở một khu ổ chuột và phải lao động bằng cách gấp hộp pizza, con cái của họ không có cơ hội đi học Đại học để kiếm được công việc tốt – dù cho, như chúng ta đã thấy khi các tình tiết trong phim được hé lộ, Ki-woo và Ki-jeong không phải là không có tiềm năng. Ki-woo dù không đi học đại học vẫn đủ thông minh để dạy gia sư cho con gái nhà Park giàu có. Ki-jeong có khả năng đồ họa và sử dụng Photoshop rất giỏi.

Cơ hội đổi đời của gia đình Kim tới theo kiểu “may mắn” (con trai Ki-woo được bạn sắp đi du học nhờ gia sư thế cho nhà Park) chứ không phải là nhờ vào bất kì một cơ hội nào mang tính thể chế hóa tới từ chính phủ hay xã hội. Giả sử như không có biến cố may mắn này, nhà Kim sẽ mãi mãi sống ở nơi ổ chuột bẩn thỉu, thấp kém, nơi mà người ta tè bậy vào và ngập lụt mỗi mùa mưa.

Dù vậy, kể cả khi gia đình Kim đã nắm bắt lấy cơ hội đổi đời, thân phận của họ vẫn chỉ là “parasite” – ký sinh trùng cho gia đình nhà Park giàu có. Khi nhà Kim đã “thâm nhập” được vào gia đình nhà Park bằng cách làm gia sư cho hai đứa con trai và con gái của họ, làm giúp việc, làm lái xe, nhà Kim nhận ra rằng mình không phải là những “ký sinh trùng” duy nhất: họ có những “ký sinh trùng” đối thủ khác, và hai bên “ký sinh trùng” quyết định đấu tranh với nhau chỉ để tranh cái vị trí “ký sinh trùng” này.

Phép ẩn dụ “ký sinh trùng” này cũng là cách suy nghĩ của một số người ủng hộ thuyết Xã hội Darwin. Họ không đồng ý với cải thiện phúc lợi xã hội vì cho rằng làm vậy sẽ biến những người nghèo thành “ký sinh trùng” thay vì ép họ làm việc. Nhưng như chúng ta đã thấy, giả sử như người bạn của Ki-woo không quyết định nhờ cậu làm gia sư thay thế, thì có làm việc tới mấy gia đình nhà Kim cũng không đổi đời được. Hơn nữa, kể cả khi gia đình Park có tận hai “ký sinh trùng”, họ vẫn không nhận ra: họ quá giàu để để ý hay thậm chí là để tâm đến số tiền đổ vào màn lừa đảo của nhà Kim và đống đồ ăn “không cánh mà bay” trong nhà.

Sự “ngây thơ” này của hai bố mẹ nhà Park thể hiện đặc quyền của họ (không phải cân nhắc, thắt chặt chi tiêu), nhưng cũng đặt ra câu hỏi rằng: Nếu gia đình Park chẳng thèm bận tâm mấy đến khoảng tài sản thừa thãi của mình, tại sao số tiền ấy lại không thể đi vào thuế, đi vào tăng cường phúc lợi xã hội cho những người giống gia đình nhà Kim để không phải đẩy họ vào con đường kiếm miếng cơm manh áo có phần tủi nhục như là lừa đảo để đi làm “ký sinh trùng” thế này?




Một cảnh trong phim “Parasite”.
Ảnh: CJ Entertainment.

Trong phim, dường như không có một tình tiết nào nhắc đến chính phủ, phúc lợi xã hội, thuế má, quan điểm chính trị. Bong Joon Ho cũng chẳng cần phải sử dụng những chủ đề đó một cách trực tiếp để thể hiện sự mục ruỗng của một xã hội nơi khoảng cách giàu nghèo là quá lớn tới mức tương phản. Nhưng điều đó cũng thể hiện rằng bạn không cần phải đồng ý với một tư tưởng chính trị nào đó để đồng ý rằng ít nhất chúng ta cũng phải có những biện pháp mang tính nhà nước, mang tính thể chế hóa để giúp đỡ những người chưa có điều kiện có cơ hội thoát nghèo – và một nền kinh tế tư bản tự do thái quá chắc chắn sẽ không phải giải pháp.

Theo nhà triết học người Pháp Michel Foucault, nhà tù và hệ thống công lý hiện đại không phải vận hành chỉ để thực thi công lý mà còn để gìn giữ quyền lực của những giai cấp cao trong xã hội. Hành động giết người của ông bố Ki-taek nhà Kim là một hành động theo kiểu “tức nước vỡ bờ” – đỉnh điểm của sự căm ghét thái độ “ngây thơ” nhà giàu của ông bố nhà Park, một hành động mà Karl Marx có thể gọi là đỉnh điểm của “xung đột giai cấp”. Ông Kim đã có thể bị cảnh sát tống vào tù vì bạo lực và ám sát ông Park, để bảo tồn “công lý” cho xã hội.

Nhưng người ta cũng có thể đặt câu hỏi rằng, nếu tống ông Kim vào tù là một hành động để bảo tồn công lý, thì công lý ở đâu cho những người “ký sinh trùng” sống dở chết dở ở trong điều kiện tồi tàn như gia đình Kim hay ông Geun-sae? Sự nghèo khổ kéo dài từ thế hệ thế này tới thế hệ khác chẳng lẽ không xứng đáng được cho là bất công bằng và nên nhận được “công lý”? Giả sử có xứng đáng đi chăng nữa, biết đổ lỗi cho ai đây? Những người được cho là gây ra sự nghèo khổ này có bao giờ bị trừng phạt nhân danh công lý không, hay cuối cùng vẫn là những người nghèo này phải đi tù đày tủi nhục? Những câu hỏi này khiến cho “Parasite” càng mang tính thời sự của nó, bởi vấn đề về công lý và chức năng của nhà tù hiện đại không chỉ là câu hỏi của riêng quốc gia nào.

Việc những người nghèo, những “ký sinh trùng” trong phim quyết định đấu tranh với nhau để làm “nô lệ” cho nhà giàu thay vì hợp sức lại, thực chất cũng là một khía cạnh triết học chính trị nữa. Nếu vận dụng lý thuyết truyền thống của Karl Marx, lẽ ra tầng lớp dưới trong xã hội phải kết hợp với nhau để chống lại giai cấp tư sản áp bức, nhưng điều đó không xảy ra trong “Parasite” – ngược lại, chúng ta thậm chí còn thấy một cuộc đấu tranh đổ máu theo đúng nghĩa đen giữa hai phía “ký sinh trùng”. Điều này có phải có nghĩa là chủ nghĩa Marx ở thời hiện đại là vô dụng?

Không hẳn. Chủ nghĩa tân Marx (neo-Marxism) và Antonio Gramsci đưa ra một câu trả lời khác: Tầng lớp thượng lưu chiến thắng trong cuộc chiến văn hóa, biến thị hiếu thượng lưu của họ thành xu hướng, trở thành “tiêu chuẩn” (giống như các mặt hàng quần áo cao cấp như Gucci được coi là “hình mẫu” của thời trang vậy), và từ đó các tầng lớp dưới sẽ không hợp sức chống lại họ nữa vì cảm thấy rằng sự tồn tại của tầng lớp thượng lưu là cần thiết cho chính họ. Trong “Parasite”, suy nghĩ sẽ làm hại gia đình Park không hề xuất hiện cho tới khoảnh khắc “tức nước vỡ bờ” của ông Kim. Kể cả vậy, đó vẫn là một trường hợp khá cực đoan và hi hữu: đối với những người nghèo như gia đình ông Kim, sự tồn tại của kẻ giàu như nhà Park là cần thiết, và vì thế không cần phải nổi dậy.

Nhưng điều đó có nghĩa là bộ phim “Parasite” cổ vũ một xã hội đi theo hướng xã hội chủ nghĩa?

Có thể, nhưng cũng không hẳn. Nhìn vào những nhà nước cộng sản như Trung Quốc cùng với tư tưởng chính trị “tinh hoa” – chỉ những “tinh hoa” của xã hội mới được nắm quyền – liệu cơ hội đổi đời có phải là bình đẳng giữa mọi người, hay sự giàu có và quyền lực sẽ mãi tập trung vào tay của một bộ phận nhỏ được gọi là “tinh hoa”? Ngược lại, ở những nước thực thi dân chủ tự do, khả năng một người trung lưu, không có nhiều sự ủng hộ tiền bạc từ nhiều công ty, tập đoàn lớn được bầu lên nắm quyền so với khả năng của một người thượng lưu, giàu có, vận động vì quyền kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân lớn liệu có là ngang nhau?

Thay đổi thể chế chính trị vẫn sẽ không ăn thua nếu như sự bất bình đẳng về cơ hội vẫn giữ nguyên. Điều mà những bộ phim như “Parasite” thể hiện không phải là cổ vũ một thể chế chính trị cụ thể nào, mà là thể hiện những bất cập còn tồn đọng trong xã hội – bất cập về cơ hội, về khoảng cách giàu – nghèo, về công bằng trong xã hội. Một nhà nước đi theo cộng sản có thể vẫn bất công, và một nhà nước đi theo tư bản vẫn có thể cố gắng có được bình đẳng, và ngược lại. Điều quan trọng không phải là giới tinh hoa hô hào chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, hay ngồi tranh luận về chính trị. Điều quan trọng cuối cùng vẫn là liệu những chính sách chính trị này, kia, có thực sự có lợi cho những nhóm người yếu thế trong xã hội hay không.

11/02/2020

Phan Đăng Phong
Bài phản ánh quan điểm riêng của tác giả. Mọi bài bình luận xin gửi về địa chỉ bbt@luatkhoa.org.

...”...Tất cả mọi việc thế gian,
Đều như mộng, huyễn, ảnh hiện,
Như giọt sương mai, điện chớp
Đến...đi...mau lẹ như thế...”...

(Ý kinh Kim Cang)


Share:

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2020

Giải pháp vận động áp dụng Đạo luật 93-559 của Hoa Kỳ


Giải pháp vận động Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump 
áp dụng Đạo luật 93-559 để thực hiện hội nghị quốc tế 
về Hiệp Định Paris 1973 vì Hiệp định này đã bị CSVN vi phạm


Kính thưa Quý Vị,
Chúng tôi là thành viên của một nhóm vận động thu thập 100,000 chữ ký để gửi Thỉnh nguyện thư yêu cầu Tổng thống Donald Trump thực hiện Public Law 93-559 để ông tổ chức Hội nghị Quốc tế về việc xử lý khi Hiệp Định Paris 1973 bị vi phạm. Chúng tôi xin trình bày giải pháp mà chúng tôi nghĩ rằng khả thi giúp cho Quê hương Việt Namthoát được nạn Hán Hóa và nguy cơ mất nước.
Đó chính là giải pháp vận động Hoa Kỳ và 12 quốc gia đã ký kết những văn bản quy định việc xử lý nếu Hiệp Định Paris1973 bị vi phạm hay không được thực hiện nghiêm chỉnh.
Như Quý Vị đã quá biết: Hiệp Định Paris1973 đã bị CSVN vi phạm trầm trọng [*1]. Chính vì sự vi phạm này mà miền Nam Việt Nam mới rơi vào tay cộng sản năm 1975, dẫn đến tình trạng hết sức bi đát cho dân tộc Việt Nam của chúng ta. 
[*1]  Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973: 
xem https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/readersopinions-nqk-12172012160001.html
Hiện nay, nói đến Hiệp Định Paris, chúng ta cần phải nói đến 3 văn bản quan trọng:
1) Hiệp Định Paris[*2] được ký ngày 27/1/1973 để đem lại Hòa bình cho Miền Nam Việt Nam;
[*2]  Hiệp Định Hòa Bình Paris năm 1973:


2) Định Ước Quốc Tế [*3] được ký ngày 2/3/1973 để xử lý khi Hiệp Định Parisbị vi phạm.
[*3] Định Ước của Hội Nghị Quốc tế về Việt Nam Ký kết tại Paris ngày 02/03/1973: 
3) Đạo luật Public Law 93-559 của Hoa Kỳ do Tổng thống Gerald Ford ký ngày 30/12/1974.  Điều 34-b-4 [*4] trong Đạo luật này quy định: Tổng Thống và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phải thực hiện một hội nghị quốc tế về Hiệp Định Paris 1973 để đòi buộc Hiệp Định này phải được thực thi đúng như các quốc gia ký vào đó đã cam kết.
[*4] PUBLIC LAW 93-559 của Quốc hội Hoa Kỳ, điều 34-b-4: 
Rất nhiều người khi nói đến Hiệp Định Paris, họ chỉ biết đến văn bản thứ nhất là Hiệp Định Paris mà không hề biết đến hai văn bản sau liên quan đến việc Quốc tế phải hành động ra sao khi Hiệp Định Parisbị vi phạm. Mà hiện nay, ai cũng thấy Hiệp định này đã bị CSVN vi phạm trầm trọng, thế mà chẳng ai buộc Quốc tế phải hành động để xử lý việc vi phạm này.
Chúng tôi xin nói về 3 văn bản nói trên, đặc biệt 2 văn bản sau liên quan đến việc xử lý vi phạm.

1) Hiệp Định Paris năm 1973
Nội dung Hiệp định Paris đòi hỏi các nước phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như hiệp định Geneva 1954 đã công nhận. Hoa Kỳ và đồng minh phải rút quân ra khỏi Việt Nam. Nhân dân miền Namcó quyền quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ có giám sát quốc tế. Sau đó việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không được có sự can thiệp của nước ngoài.

2) Định Ước Quốc Tế
Là văn bản cam kết của 12 quốc gia [*5] ký ngày 2/3/1973, tức hơn một tháng sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, trong đó có 9 quốc gia và 3 thành phần của Việt Nam (gồm Bắc Cộng, Việt Nam Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam), với sự chứng kiến của ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc. 
[*5] 12 quốc gia ký tên trong Định ước Quốc tế gồm: 
[1] Canada, [2] Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, [3] Hoa K,ỳ, [4] Cộng hòa Pháp, [5] Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, [6] Cộng hòa nhân dân Hungary, [7] Cộng hòa Indonesia, [8] Cộng hòa nhân dân Ba Lan, [9] Việt Nam dân chủ cộng hòa, [10] Vương quốc Anh và Bắc Ireland, [11] Việt Nam Cộng Hòa và [12] Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết.
Một số điều quan trọng được họ cam kết là:

1. Điều 2: Cam kết đảm bảo việc thực thi Hiệp Định Paris, tôn trọng những quyền dân tộc căn bản của người dân Việt, tức sự độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cũng như quyền dân tộc tự quyết của người dân miền Nam Việt Nam.
2. Điều 4: Tất cả các quốc gia ký tên cam kết nghiêm chỉnh tôn trọng các điều nói trên và tránh làm bất cứ hành động nào trái với các điều khoản trên.
3. Điều 7b (quan trọng nhất) quy định: Nếu Hiệp Định Paris bị vi phạm, thì chỉ cần có 6 hoặc hơn 6 nước tham gia ký kết bản Định ước Quốc tế đồng yêu cầu, thì một hội nghị quốc tế phải được họp lại để đưa ra các biện pháp giải quyết.
Không cần nói thêm, mọi người đều biết Hiệp Định Paris đã bị vi phạm trầm trọng: không ngừng bắn, không tổ chức tổng tuyển cử và việc CS cướp lấy miền Nam1975 là hệ lụy của sự vi phạm nầy.
Ngoài hai văn bản trên, cần phải nói đến một văn bản rất quan trọng khác.

3) Đạo luật Public Law 93-559 của Hoa Kỳ
Điều 34-b-4 [*6] của Đạo luật này quy định: Tổng Thống và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phải thực hiện hội nghị quốc tế về Hiệp Định Parisđể đòi buộc Hiệp Định này phải được thực hiện đúng như đã cam kết.
[*6] PUBLIC LAW 93-559 của Quốc hội Hoa Kỳ, điều 34-b-4: 
o0o
Hiện nay, Hiệp Định Paris đã bị vi phạm trầm trọng khiến Việt Nam rơi vào tay cộng sản, dân tộc Việt Nam lầm than, nạn Hán hoá đang xảy ra từng ngày, và đất nước Việt Nam có nguy cơ bị Trung cộng xâm chiếm với sự tiếp tay của CSVN.
Chẳng lẽ lương tâm và đạo lý không hề buộc chúng ta lên tiếng tố cáo trước quốc tế sự vi phạm ấy sao? Hiện đã có những văn bản quy định Quốc tế, đặc biệt Hoa Kỳ, phải làm gì khi Hiệp Định Parisbị vi phạm. Những văn bản quan trọng này đang bị quốc tế quên lãng, chẳng lẽ lòng yêu nước lại chấp nhận để chúng ta không đếm xỉa gì đến những văn bản đó và không nhắc nhở quốc tế để họ thực hiện những gì họ đã cam kết trong văn bản đó sao?
Để được Tổng thống Hoa Kỳ áp dụng đạo luật Public Law 93-559 đòi buộc Hoa Kỳ họp Hội nghị quốc tế để xử lý việc vi phạm Hiệp Định Paris, theo thông lệ đã có của Hoa Kỳ, trước tiên chúng ta cần làm một thỉnh nguyện thư và thu thập 100,000 chữ ký trong vòng 30 ngày rồi đệ trình lên Tổng thống Hoa Kỳ. Nhận được thỉnh nguyện thư này thì trong vòng 60 ngày, Tổng thống Hoa Kỳ có trách nhiệm trả lời. Sau khi thỉnh nguyện thư được phát động, để ký tên, mọi người chỉ cần vào website của White House (Nhà Trắng), và ghi tên & họ cùng địa chỉ email.  Người nào từ 13 tuổi trở lên thuộc bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng có thể ký, miễn là không bị bệnh tâm thần.
Kính thưa Quý Vị, chúng tôi rất ước mong Quý Vị quan tâm tìm hiểu giải pháp này [*7]. 
[*7] Xin vui lòng tham khảo: 
a. Vấn đề vận động để tái họp Hội nghị Quốc tế về Hiệp định Paris với Luật sư Lâm Chấn Thọ (1)
https://www.youtube.com/watch?v=kgtRYcZrpjo

b. Vấn đề vận động để tái họp Hội nghị Quốc tế về Hiệp định Paris với Luật sư Lâm Chấn Thọ (2)
https://www.youtube.com/watch?v=zK_AXlitFHU

c. Làm sao vận động Hội Nghị Quốc tế xử lý việc vi phạm Hiệp Định Paris?
https://www.youtube.com/watch?v=yw-rSAnXJ1w
Có rất nhiều người Việt không thực sự hiểu đầy đủ và tường tận về việc quốc tế đã có những cam kết sẽ xử lý khi Hiệp Định Paris bị vi phạm, nên chúng tôi cũng rất mong Quý Vị có cách nào để thật nhiều người biết và hiểu sự thật về tầm quan trọng và khả năng giải quyết vấn đề Việt Nam của Đạo luật 93-559 cũng như Điều 34-b-4 trong Định Ước Quốc Tế quy định việc xử lý khi Hiệp Định Paris bị vi phạm.
Kính Thư
Lisa Nguyễn
Phone: +1-209-210-3087

Share:

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2020

Ngo-Dinh-Diem-va-CIA-1


Ngô Đình Diệm 
và vai trò lịch sử của CIA 
tại Việt Nam (1)




Thủ tướng Ngô Đình Diệm trong lễ bàn giao 1954. Nguồn: alphahistory.com

Khi đó, tôi cũng như nhiều người trẻ khác tin tưởng rằng người Mỹ đến để giúp Việt Nam chống Cộng, viện trợ rộng rãi và hào hiệp với một tinh thần dân chủ, hợp tác.
Nhưng  thực ra đó chỉ là một cuộc hôn nhân gượng ép với nhiều bất đồng, nghi kỵ lẫn nhau để đi đến chỗ đổ vỡ mà người ta quen gọi là «thay ngựa giữa dòng». Người Mỹ và chính sách của chính quyền Mỹ là hai thực tế khác biệt. Người Mỹ đến Việt Nam để áp đặt hơn là hợp tác. Người Mỹ có thể hành xử dân chủ trong nước họ, nhưng họ làm trái ngược khi sang Việt Nam. Chính sách của họ thay đổi từng thời kỳ mà không lý đến quyền lợi và nhất là chủ quyền của Việt Nam.
Mâu thuẫn sâu xa giữa ông Diệm và người Mỹ là chủ quyền của Việt Nam.
Bằng mọi giá, ông Diệm bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Vì thế, trong một cuộc gặp gỡ sau cùng với Cabot Lodge, ông Diệm đã cay đắng nói huỵch tẹt ra:
«Je ne suis pas une marionnette,» Diem said. «Je pas serveur. I am  not a puppet. I will not serve. Diem would reserve these words for one of his last meeting with Lodge. In this first meeting, he indicated his disapproval with facial expression.»
(Tôi không phải là bù nhìn. Không phải là đầy tớ.)
Patrick J. Sloyan, The Politics of Deception: JFK’s Secret Decisions on Vietnam, Civil Rights, and Cuba, 2015, trang 189
Ông Diệm luôn luôn chỉ là Diệm như Seth Jacob viết:
«Diem never pretend to be anything other than what he was and he never changed
Seth Jacob, America’s Miracle man in Viet Nam, 2004, trang 4
Vì thế, Diệm không dễ dàng quỵ lụy để tìm một «ân huệ», ông không vun trồng và gầy dựng một lực lượng hậu thuẫn chính trị ở Mỹ, như nhiều chế độ ở Á Châu cũng cần sự ủng hộ của Mỹ như người Trung Hoa Quốc gia như trùm mật vụ William Colby  viết,
«In contrast to some other regimes dependent on American support in Asia, most notably the Chinese Nationalists, Diem made little effort to cultivate and activate a supporting political force in the United States.»
William Colby with James Mc Cargar. Lost Victory: A Firsthand Account of America’s Sixteen-Year Involvement in Vietnam, 1989, trang 111
Cho nên, sự mâu thuẫn giữa người Mỹ và ông Diệm có phải là sự khác biệt về hai nền tảng văn hóa Á Đông và Âu Mỹ. Lãnh đạo Trung Hoa Quốc gia ứng xử với Mỹ khác cách của ông Diệm như Colby nhận xét.
Ông Diệm là một nhà nho cuối cùng trong guồng máy chính trị Việt Nam có lòng tự trọng. Không mềm dẻo, không có sự nhân nhượng trước mối lợi. Nói cho cùng, ông không sống hèn. Ông chết vì chính cái giá trị đạo đức của mình. Cây trúc phải chăng là biểu tưởng của người quân tử mà nhiều người đã quên? Ông Diệm là như thế trước một áp lực của Mỹ với chủ trương thực dụng?
Tìm hiểu vai trò của CIA dựa trên tài liệu sẽ cho thấy một phần sự thật.
Một số tác giả Mỹ sau này, vì có độ lùi thời gian cần thiết, viết một cách tương đối khách quan hơn, như Edward Miller với cuốn Misalliance. Ngô Dinh Diem, the United States and the fate of South Viet Nam. 2013. Tác giả chỉ nhắc đến tên tổng thống Ngô Đình Diệm và nước Mỹ nói chung, bất kể đời Tổng thống nào của Mỹ. Đồng thời chứng minh được rằng ông Diệm có đường lối, chính sách và nhất là cái quyết tâm của một người lãnh đạo, sống chết với đất nước mình, muốn làm một cuộc cách mạng xã hội mà không được người Mỹ chia xẻ, để đi đến chỗ tan rã. Từ sự tan rã đó tạo ra số phận cay nghiệt cho sự đổ vỡ miền Nam.
Không có bất cứ một tổng thống hay người Mỹ nào có đủ cái quyết tâm với mảnh đất quê hương mình như những gắn bó của ông Diệm với đất nước của ông.
Ông Diệm hơn bất cứ một nhà lãnh đạo chiến lược nào của Mỹ. Ông có một niềm tin xác tín, một hiểu biết sâu xa về cộng sản, một đạo đức chính trị và một lòng yêu đất nước mình mà người Mỹ không có được. Miller đã dành hẳn một chương I viết về ông Diệm, từ trang 19-53: Man of Faith. Người của niềm tin. Chính những yếu tố nhân văn ấy, những yếu tố chủ quan, những yếu tố tinh thần ấy nếu không có sự có mặt của người Mỹ, ông sẽ là người đưa đất nước đến một tương lai sáng lạn mà người Mỹ không thể nào cung cấp cho Việt Nam được.
Người Mỹ có thể  là một đại gia giàu có, có nhiều chính sách, nhiều giải pháp, nhiều súng đạn. Nhưng không mấy người Mỹ nào hiểu Việt Nam.
Rõ ràng họ đã thất bại trước bọn cộng sản.
Ông Diệm chỉ có một con đường và không có chọn lựa nào khác. Đó là con đường thứ ba, con đường Dân tộc: chống cả thực dân Pháp và cộng sản và độc lập với người Mỹ.
Hiểu rõ được cái chân lý đơn giản ấy thì mọi chuyện được sáng tỏ và ra khỏi cơn mê hoặc tin tưởng hay chống đối Mỹ là kẻ phản bội
«Trong bài diễn văn đầu tiên của mình sau khi trở về Sài Gòn, Ngô Đình Diệm tái khẳng định rằng mục tiêu của ông là đề xướng thay đổi cách mạng ở Việt Nam. Trước một thời cơ khẩn cấp, tôi sẽ hành động quyết-liệt. Tôi sẽ cương-quyết vạch ra một đường lối cứu-quốc. Một cuộc cách-mệnh toàn diện sẽ được thực hiện trong hết mọi ngành tổ-chức và sinh-hoạt quốc-gia.» (Edward Miller «Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Ðình Diệm, 1945–54«, Journal of Southeast Asian Studies, 35 (3), October 2004, pp 433–458. Hoài Phi & Vy Huyền biên dịch)
Nhưng quyết tâm và giấc mơ của ông Diệm khi về nước nào được người Mỹ đếm xỉa đến?
Cạnh đó còn có một số sách khác như  The Lost Mandate Of Heaven của Geoffrey Shaw với; The Lost Revolution: The U.S. In Vietnam, 1946-1966 của Robert Shaplen; The Politics of Deception: JFK’s Secret Decisions on Vietnam, Civil Rights, and Cuba của Patrick J. Sloyan.
Người Mỹ tức giận trước tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược giữa hai bên là một thực tế chính trị nổi bật thời Đệ I cộng Hòa. Sự cứng đầu của một lãnh tụ nước nhược tiểu và sự áp đảo của một siêu cường qua các cố vấn, qua CIA là một cuộc đối đầu không khoan nhượng.
Và như đòn mà CIA quen dùng là bôi nhọ ông Diệm. Dù đối đầu với Mỹ, cộng sản vẫn tuyên truyền ông chỉ là bù nhìn của Mỹ hay gọi chính quyền Đệ nhất Cộng hòa là chế độ Mỹ-Diệm.
Ông Diệm vừa là nạn nhân của đồng minh Mỹ đồng thời của Cộng sản Hà Nội. Miller đặt câu hỏi
«If  he was a puppet, why did the United States want him removed? And by subsequent releases of documentary evidence showing that Diem disregarded U.S advice much more often than he followed it.»
Edward Miller, Misalliance. Ngô Dinh Diem, the United States and the fate of South Viet Nam, trang14
Cũng đúng như nhận xét của Stanley Karnow. Roger Hilsman tự cho cái quyền yêu cầu loại bỏ cố vấn Ngô Đình Nhu như một giải pháp «ân huệ» với chính quyền Ngô Đinh Diệm. Không ai hỏi ai cho Hilsman cái quyền đó? Ông Diệm không phải bù nhìn của Mỹ. Thật vô lý đến ngạc nhiên! Và trong trường hợp điều đó không được Diệm chấp nhận thì chính bản thân ông Diệm cũng bị loại bỏ.  Karnow viết:
«Hilsman proposed that Diem be "given the chance" to jettison his brother. If  Diem "remains obdurate and refuses," Hilsman continued, "we must face the possibility that Diem himself cannot be preserved."»
Stanley Karnow, Vietnam. A History (revised and updated). Penguin Books, 1984, trang 303.
DCVOnline | DEPTEL243 hay Điện tín 243 do nhân viên bộ Ngoại giao gởi Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Henry Cabot Lodge, Jr ngày August 24, 1963. Nội dung điện tín 243 do những nhân viên của Bộ Ngoại giao có mặt ở Washington,  W. Averell Harriman, Roger Hilsman và Michael Forrestal, soạn thảo vào một chiều thứ Bẩy khi Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara và Giám đốc CIA John McCone đang đi nghỉ hè. Tổng thống cũng đang nghỉ mát ở Hyannis Port. Kennedy nói với Forrestal đưa bản thảo cho một viên chức cao cấp (hơn) phê chuẩn.  Harriman và Hilsman chạy đi gặp thứ trưởng Ngoại giao George Ball; ông này không chấp thuận cho đến khi cả ba điện thoại, từ tư gia của Ball,  cho Ngoại trưởng Dean Rusk, Ông Rusk nói, «Well, go ahead. If the president understood the implications, [I] would give a green light.» (OK, cứ làm. Nếu tổng thống đã hiểu hệ quả, (tôi) cũng đồng ý bật đèn xanh.»
Như vậy, Karnow đã trích dẫn Điện tín 243 ra khỏi ngữ cảnh và trích dẫn sai khiến người đọc có thể hiểu lầm (như tác giả NVL tưởng rằng «Hilsman tự cho cái quyền yêu cầu loại bỏ cố vấn Ngô Đình Nhu như một giải pháp «ân huệ» với chính quyền Ngô Đình Diệm.»
Cuối trang 2 của Điện tín 243 ghi rõ,
«(1) Chúng ta phải làm áp lực với Chính phủ Việt Nam về những điểm này:
(a) Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận hành động đàn áp Phật Giáo của Nhu và những cộng tác viên của ông ta dưới bình phong thiết quân luật.
(b) Phải có hành động nhanh chóng giải quyết tình hình, kể cả bãi bỏ luật 10[/59], thả các sư sãi bị bắt, v.v..
(2) … chính phủ Mỹ không thể tiếp tục viện trợ Chính phủ Việt Nam về quân sự và kinh tế trừ khi những bước kể trên được thực hiện ngay lập tức và chúng ta nhận thấy điều này cần có sự loại bỏ Ngô Đình Nhu ra khỏi hiện trường. Chúng ta muốn để cho Diệm có cơ hội hợp lý để loại Nhu, nhưng nếu ông ấy vẫn bướng bỉnh, thì chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận hệ quả rõ ràng là chúng ta không thể tiếp tục ủng hộ  Diệm.»
Điện tín 243 của Bộ ngoại giao Mỹ gởi tòa Đại sứ Mỹ tại Saigon ngày 24/8/1963
Lưu ý, trong đoạn văn này Bộ Ngoại giao Mỹ không dùng chữ «obdurate and refuses» như Karnow viếtchỉ có chữ «obdurate» (ngoan cố, bướng bỉnh) và Điện tín 243 cũng không có đoạn «we must face the possibility that Diem himself cannot be preserved» mà nguyên văn là «…we are prepared to accept the obvious implication that we can no longer support Diem.»
Dưới đây là Điện tín 243 của Bộ ngoại giao Mỹ gởi tòa Đại sứ Mỹ tại Saigon ngày 24/8/1963




Nhìn lại ngày nay thì đấy là sự một xâm phạm chủ quyền quốc gia một cách thậm vô lý và độc đoán. Chính quyền Mỹ đã khuyến khích việc lật đổ một đồng minh chỉ vì sự bất đồng ý kiến được coi như thiếu sự hợp tác của ông Diệm. Và dựa trên đó, người Mỹ coi như có cái quyền được chi phối một chính phủ độc lập chỉ vì chính phủ ấy không đáp ứng được những đòi hỏi của chính phủ Mỹ. Một điều có thể không bao giờ có thể xảy ra trên nước Mỹ thì đã xảy một cách rất tự nhiên ở Việt Nam.
Cho nên có thể khẳng định, ông Diệm bị lật đổ chỉ vì đã không làm theo những quyết định của người Mỹ. Tất cả những lý do khác chỉ là cái cớ, cái phụ thuộc hay do tuyên truyền mà sau này đọc tài liệu CIA sẽ thấy rõ. Những khẩu hiệu như độc tài, gia đình trị, kỳ thị Phật giáo v.v. và v.v. chỉ là lá bài, sản phẩm được tuyên truyền mà phần sự thật nhỏ nhoi không đáng kể.
Người Mỹ không chấp nhận một tiến trình tiệm tiến cải thiện, chấp nhận một thực tế Việt Nam vừa mới độc lập. Đối với ông Diệm, báo chí, dư luận như thế đã là một phần tự do. Nhưng tiêu chuẩn người Mỹ về tự do cao hơn, theo một «American-style democracy», mà thực tế là Việt Nam đang ở trong thời chiến! Chính phủ Việt Nam không thể tiến hành thực hiện dân chủ cùng lúc tiến hành cuộc chiến tranh một mất một còn với cộng sản. Và vì thế, chính phủ ông Diệm bị coi là độc tài.
Nhưng có bao nhiêu mức độ độc tài, mẫu độc tài? Độc tài ở những nước hậu thuộc địa; Độc tài ở những nước chậm tiến; độc tài theo kiểu Hitler. độc tài theo kiểu Cộng sản. Khi người Mỹ nhúng tay vào việc lật đổ Sukarno, năm 1965 và dựng lên chính quyền của Suharto thì đó là độc tài hay dân chủ? Khi Mỹ trực tiếp nhúng tay vào việc lật đổ ông Ngô Đình Diệm thì đó là độc tài hay dân chủ kiểu Mỹ?
Hình như hiếm có tài liệu nào nói đến tính chính danh, tính hợp pháp của việc lật đổ Ngô Đình Diệm? Khi người Mỹ như Nixon nói «No more Vietnams» thì điều đó ám chỉ lỗi lầm về phía ông Diệm hay về phía người Mỹ? Nixon còn tỏ ra đi xa hơn khi cho rằng Chiến tranh ở Việt Nam là vô đạo đức, «The war in Vietnam is immoral».
Khi một người Mỹ có con em trong danh sách bức tường tưởng niệm hơn 50.000 người Mỹ chết, than: «Here the price we paid!» Thì đó có phải là cái giá phải trả của sai lầm? Bởi vì nếu là chính nghĩa thì làm gì có giá.




Nghĩa trang chiến tranh Canada Bény-sur-Mer (Pháp): Cái giá người Canada và Anh đã gục ngã ở bờ biển Normandy và Mặt trận Caen, Bãi Juno trong Đệ nhị Thế chiến. Một phần nhỏ của cái giá phải trả để bảo vệ hòa bình thế giới. Nguồn: Burtonpe at English Wikipedia

Dư luận nói chung cho thấy Việt Nam chỉ là con bài bù nhìn sau cái chết của ông Diệm, mặc các áo khác màu cho một tranh chấp mà chúng ta chỉ là kẻ thừa hành hay nạn nhân. Sự đến và đi, sự tiếp tục hay ngưng lại, sự củng cố gia tăng cường độ chiến tranh hay sự cắt giảm quân số hay trang thiết bị – nói thẳng như việc Việt Nam hóa chiến tranh – chỉ là sự đáp ứng tùy tiện cho một lá bài mà ngoài thẩm quyền trách nhiệm của chính người Việt.
Cách nói đúng nhất của người Mỹ như Nixon viết trong nhan đề cuốn sách: No more Vietnams. Chữ Vietnam nay có thêm chữ S. Chúng ta chết vì chữ S này. Cái nhìn của Nixon về cuộc chiến rất thực tế, rất Mỹ. ông viết:
«Our critical error was to ignore one of the iron laws of war: Never go in without knowing how you are going to get out
Richard Nixon, No more Vietnams. 1985. trang 46
Tất cả đều đúng. Người Mỹ đến rồi đi, vào rồi ra tùy tiện. Chính phủ Việt Nam chưa bao giờ chính thức mời họ đến. Mà đi hay đến là tùy họ. Nhưng người ở lại là kẻ nhận lãnh hậu quả!
Đã có khoảng 1300 cuốn sách của người ngoại quốc viết về Việt Nam. Nhưng người trong cuộc thì như kẻ ngoài cuộc, chẳng có nhiều dịp và cơ hội để viết về chính mình.

Câu chuyện mở đầu

Người ta  đọc thấy trên bức tường bằng đá cẩm thạch tại Tổng Hành Dinh của CIA ở Langley, Virginia câu sau đây:




Trên tường tại Tổng hành dinh của CIA. Nguồn: OntheNet

«AND YE SHALL KNOWN THE TRUTH AND
THE TRUTH SHALL MAKE YOU FREE.» – JOHN VIII-XXXII
Victor Marchetti và John D. Marks, The CIA and the cult of Intelligence. 1974)
Câu trong thánh kinh nêu trên trở thành nguyên tắc lý tưởng cho bất cứ ai làm trong ngành tình báo của Mỹ như cơ quan tình báo CIA. Vì thế, khi được thu nhận, các nhân viên tình báo của Mỹ buộc phải ký một thỏa thuận buộc không được tiết lộ tất cả các nguồn tin thu thập được của ngành tình báo. Tất cả trở thành tài sản trí tuệ của CIA mà không ai được quyền xử dụng trong phạm vi cá nhân của mình.
Cũng chính vì tính cách bảo mật ấy đã biến cơ quan tình báo CIA đã đi xa cái mục đích ban đầu trong việc đi tìm sự thật của nó.
Nó trở thành một cơ quan với thuyết ClandestineVới nguyên tắc này, cơ quan tình báo CIA đã can thiệp vào nhiều biến cố chính trị lớn nhỏ trên thế giới trong việc thu thập tin tức, đến xâm nhập, phản tuyên truyền, ngụy tạo tin tức, ngụy tạo bí mật, ngụy tạo hồ sơ, mua chuộc bằng tiền bạc, cài người, cung cấp các phương tiện vật chất ngay cả vũ khí, các phương tiện truyền tin, ấn loát, tổ chức khuynh đảo công khai hoặc bán công khai ngay cả đến lật đổ một chính phủ cũng như thủ tiêu, ám sát một nhân vật lãnh đạo đối thủ nếu cần.
Nhất là kể từ sau thế chiến thứ hai trong cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản. Sự sợ hãi chủ thuyết cộng sản đã mở đường cho một số nhà lãnh đạo  cấp cao của nước Mỹ có một xác tín rằng thế chiến II là «The wrong war against the wrong enemies» (xem William Blum, The CIA, a forgotten history. 1986, trang 15).
Vì thế, theo họ, đáng lẽ những nỗ lực chiến tranh chống Phát Xít Đức thì nên dồn về phía Đông và loại trừ chủ nghĩa Bolshevism một lần cho tất cả.
Sự xoay trục này cho thấy ngay khi chiến tranh thế chiến II vừa chấm dứt, các văn bản đầu hàng được ký kết giữa đồng minh và phe trục chưa ráo mực thì người Mỹ ở Trung Hoa  đã xử dụng lính Nhật còn đóng tại Trung Quốc cùng với Mỹ để chống cộng sản Trung Hoa.
Điều ấy cũng ít ai nhận ra. Và điều ấy cũng đã xảy ra tương tự tại Phi Luật Tân.
Mặc dầu trong thế chiến II, cộng sản Trung Hoa cùng sát cánh với đồng minh chống Nhật. Nhưng điều ấy không còn quan trọng nữa.
Người Mỹ đã chọn tướng Chiang Kai-Shek như người của họ qua cơ quan The office of Strategic Service (OSS, tiền thân của cơ quan tình báo CIA).
Theo nhận định của tác giả Leon Blum, khi chiến tranh kết thúc tại Trung Hoa, thay vì giải giới binh sĩ Nhật đã đầu hàng và cho họ xuống tàu về nước. Lính Nhật được giữ lại và có nhiệm vụ giữ an ninh lãnh thổ Trung Hoa ngay trên các khu vực mà trước đây họ đã chiếm đóng. Nếu không có lính Nhật thì toàn thể nước Trung Hoa đã bị Mao Trạch Đông nuốt trửng ngay từ năm 1945. Nhờ đó, người Mỹ có thời gian để chuyển vận quân đội của Tưởng Giới Thạch về phía Nam. Tổng thống Truman nói: «Using the Japanese to hold off the Communists» (Dùng quân đôi Nhật để cầm chân cộng sản). (Leon Blum, Ibid, trang 15).
Sau đó, Mỹ đã bỏ ra khoảng 2 tỉ đô la tiền mặt và một tỉ đô la tiền trang bị vật liệu và huấn luyện cho 39 sư đoàn của họ Tưởng. (Leon Blum, Ibid., trang 17)
Và để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, CIA Mỹ đã can thiệp cách này cách khác vào 49 nước. Nước Tàu từ 1945-1960, Phi Luật Tân 1940-1950. Hy Lạp từ 1947-1950. Ý 1947-1948. Đại Hàn 1945-1953. Đông Âu 1948-1956. Nước Đức 1950… Sau đó là Iran, Guatemala, Costa Rica, Syria, Trung Đông, Indonesia. Brazil, Peru, Dominican Republic, Cuba 1959-1980, Ghana, Uruguay, Chile, Bolivia, Angola, Zaire, Jamaica, Morocco, El Salvador, v.v..

Tổng thống Mỹ chúc mừng Chủ Tịch và nhân dân Trung Hoa Cộng sản (Trung Cộng) nhân dịp 70 năm Đảng Cộng sản Trung Hoa cầm quyền, cũng là chứng cớ nghiệt ngã cho sự tàn bạo của Cộng sản Trung Hoa. Nguồn: Twitter.com
Tay bắt mặt mừng: TT Mỹ Donald J. Trump và trùm Cộng sản Bắc Hàn Kim Jong-un. Nguồn: NPR
Việt Nam không còn là «một trong những nạn nhân của chính phủ Mỹ»: Tổng thống Donald J. Trump hân hoan phất cờ Việt Nam Cộng sản bên cạnh Thủ tướng CHXHCNVN Nguyễn Xuân Phúc. Nguồn: Saul Loeb / AFP/Getty Images

Việt Nam chỉ là một trong những nạn nhân của chính phủ Mỹ.
Sơ lược về các sự can thiệp của CIA vào nội tình của 50 các nước khác để thấy rằng trường hợp Việt Nam cũng nằm trong chuỗi mắt xích ấy. Và khi hiểu như thế rồi thì tất cả những gì đã xẩy ra ở Việt Nam là điều không lạ. Sớm nhất là nước Trung Hoa, sau đó đến Việt Nam và muộn nhất là trường hợp Nicaragua (1981) và Iraq cách đây hơn 10 năm.
Sự can thiệp dưới mọi dạng thức như tuyên truyền, âm mưu lật đổ chính quyền, bầu cử gian lận, ám sát các nhà lãnh đạo, ngụy tạo tin tức.. Và tất cả được dàn dựng che mắt thứ nhất và trên hết là người dân Mỹ, sau đó đến các nước liên hệ và cuối cùng cả thế giới về tính hợp pháp, tính chính nghĩa nhân danh lý tưởng tự do, dân chủ của những hoạt động khuynh đảo đó.
Tất cả những điều ấy đều xảy ra y hệt ở Việt Nam thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhìn lại chính xác điều ấy để trách mình thay vì trách nhau.

CIA ở Việt Nam

Và đến lượt Việt Nam từ 1950-1973.
Sự có mặt của Người Mỹ và CIA vào năm 1950 ở Việt Nam, nhất là ở miền Bắc mang tính cách «quốc tế» rồi. Mục đích chính là be bờ, ngăn chăn chủ nghĩa cộng sản lan rộng. Mao Trạch Đông đã thống nhất nước Tàu vào năm 1949 sau khi đuổi Tưởng Giới Thạch ra khỏi Thượng Hải ngày 27-5-1949. Một tháng sau mất Nam Kinh. Tưởng Giới Thạch chạy đến Trùng Khánh, rồi Hải Nam và cuối cùng ra Đài Loan, sau 30 năm nội chiến, đánh Nhật, rồi thua Cộng sản.
Và Mao Trạch Đông sau khi đã làm chủ toàn thể nước Trung Hoa đã đưa ra lời cảnh cáo Mỹ và Anh bằng những lời lẽ đe dọa như sau:
«Chúng tôi chủ trương rằng tất cả các chính quyền ngoại quốc giúp đỡ bọn phản động Trung Quốc và chống đối lại cuộc chiến đấu của dân tộc chúng tôi cho nền dân chủ đều phạm phải lỗi lầm không tha thứ được
Han Suyin, Le Déluge du matin. La presse. Stock. 1972, trang 477)
Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối càng trở nên sâu đậm, rõ nét hơn khi có cuộc chiến tranh Cao Ly vào tháng 6 năm 1950. Đông Dương trở thành vùng trọng điểm bảo vệ vùng Đông Nam Á. Và người Mỹ nay sẵn sàng trả giá cho những chi phí quân sự cho người Pháp và một chính quyền do Bảo Đại cầm đầu.
Tài liệu CIA có ghi rõ:
«The final Communist victory in China in 1949 and Pyongyang’s invasion of South Korea in 1950 reinforced the American view of Communism as an implacably expansionist monolith. Indochina came to be seen as critical to the defense of the Asian littoral. (…) In february 1950, The French National Assembly ratified the agreement etablishing Emperor Bao Dai as the head of a nominally independent Viet Nam. This pro forma gesture sufficed, in the cirscumstances, to assuage Washington’s anticolonial bias, and the door opened to a program of direct support to the French Expeditionary Corps.»
Thomas L. Ahern Jr. (2000), CIA and the House of Ngo, Center for the Study of Intelligence, USA. Approved for release date 19-feb-2009, trang 3
Sự trợ giúp quân sự của Mỹ cho Pháp mỗi ngày mỗi gia tăng vào khoảng một tỉ đô la một năm. Đến 1954 thì số tiền lên đến 1 tỉ 400 triệu đô la/năm và chiếm 78% ngân sách chiến tranh của Pháp. (William Blum, Ibid, trang134).
Cần ghi nhận ở đây là trong những hoạt động của CIA có mặt trắng, mặt đen.
Khi cần thì mặt trắng là những điều tốt như viện trợ, làm các công tác xã hội, phát triển cộng dồng như đào giếng, tạo dựng  các khu dân sinh, hỗ trợ văn hóa như tài trợ các cơ sở văn hóa như Asia Foundation, v.v.. Măt đen là tuyên truyền nói xấu, dựng chuyện, khuynh đảo. Thật không dễ để nhận ra hai mặt trắng đen ấy.
Xin mở một dấu ngoặc là trước khi bắt đầu có cuộc chiến tranh Đông Dương thì vào năm 1945, Ho Chi Minh có viết khoảng 8 lá thư cho TT Mỹ Truman và Bộ Ngoại Giao Mỹ để xin trợ giúp quân sự để đánh đuổi Nhật. TT Mỹ đã không trả lời, không đáp ứng những mong đợi của Hồ Chí Minh  và cũng đã không tiết lộ đã nhận được những lá thư đó. Nhưng cơ quan OSS có nhận huấn luyện cho bộ đội của Võ Nguyên Giáp và cung cấp một số võ khí. Và chỉ có vậy. Hồ sơ này sau đó chỉ được tiết lộ trong hồ sơ của Bộ Quốc Phòng Mỹ tên là «The Pentagone Papers».
Theo Lữ Giang, toán người Mỹ có tên là Dear Team thuộc tổ chức OSS của Hoa Kỳ đến Tuyên Quang huấn luyện về tình báo và quân sự cho Việt Minh  tổ chức chống Nhật. Họ có chụp ba tấm hình; một tấm hình cho thấy có 6 người Mỹ và 5 người Việt, trong đó có Võ Nguyên Giáp và Hồ Chinh Minh. Một tấm khác cho thấy, người Mỹ đang dạy du kích quân tập ném lựu đạn. Tấm chót cho thấy dân quân đang gánh tải đạn cho Việt Cộng. ( Lữ Giang, Những bí ẩn lịch sử đằng sau cuộc chiến Việt Nam, Quyển I, 1999, trang 236)
Có một điều cần ghi lại ở đây là sau thế chiến thứ hai, khi người Pháp quay trở lại Việt Nam thì tướng Leclerc cũng đã tuyên bố vào tháng 9-1945 như sau:
«I din’t come back to Indochina to give Indochina back to the Indochinese». Subsequently, the French emphasized that they were fighting for the «free world»against communism, a claim made in no small part to persuade the United States to increase its aid to them.»
William Blum, Ibid, trang 134
Trong khi đó về phía Việt Minh, họ đã dấu cái đuôi cộng sản và vì vậy đã lừa dược nhiều người Việt Nam yêu nước trong hàng ngũ của họ để chống Pháp thực dân thay vì chống cộng sản.
Có một số chi tiết mà trước đây không ai ngờ tới là vào năm 1952, người Pháp muốn mở một cuộc thương lượng với Việt Minh tại Miến Điện. Người Mỹ đã làm áp lực mạnh mẽ trên phái đoàn thương thuyết của Pháp và làm trì hoãn cuộc thương thuyết và phái đoàn đã được gọi khẩn cấp về Ba Lê. Áp lực của người Mỹ là nếu Pháp mở cuộc đàm phán với Việt Minh thì Mỹ sẽ cúp viện trợ. (William Blum, Ibid, trang 135.)
Rõ rệt hơn nữa, nếu cần người Mỹ sẽ loại người Pháp và chiến đấu một mình với Việt Minh. Vì người Mỹ qua Đề đốc Arthur Radford đã gửi môt khuyến cáo đến Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Charles Wilson nhan đề «Studies With respect to Possible U.S. Actions Regarding Indochina». Nội dung bản báo cáo tin tưởng rằng có thể có lợi thế quân sự trong việc dùng ngay cả máy bay quân sự thả bom nguyên tử để tiêu diệt Việt Minh. Tuy nhiên đề nghị ấy đã không được Bidault của Pháp chấp nhận vì bom nguyên tử có thể gây tổn thất cho cả binh đội Pháp lẫn Việt Minh.
Sách của W. Blum viết:
«A Council paper recommended that «It be U.S policy to accept  nothing short of a military victory in Indo-China»and that the «U.S. actively oppose any negotiated settlement in Indo-China at Geneva». The Council Stated further that, if necessary, the US should consider continuing the war without French participation.»
William Blum, Ibid., trang 136
Nhưng kết thúc là Hiệp Định Geneve đã được ký kết không có sự  ký kết của Bảo Đại cũng như người Mỹ. Việc không ký kết này giúp người Mỹ không bị ràng buộc vào những điều khoản phải được đôi bên tôn trọng. Vì tổng thống Mỹ Eisenhower đã tuyên bố:
«I will not be a party to any treaty that makes anybody a slave, now that is all there to it. But the US did issue a «unilateral declaration»in which it agreed to «refrain from the threat of the use of force to disturb «the accord
William Blum, Ibid., trang 13
DCVOnline | Hải quân Mỹ trực tiếp điều động cuộc di cư trong Chiến dịch Đường đến Tự do (Operation Passage to Freedom, bắt đầu từ 11 tháng 8, 1954) đưa hơn 300,000 dân, quân cán chính và cả người Pháp vào Nam bằng đường biển. Tổng số người di cư từ Bắc vào Nam (1954-55) là hơn 800,000 người. (Ronald B. Frankum Jr., Operation Passage to Freedom, Texas Tech University Press, 2007)

Giao tiếp đầu tiên giữa CIA và ông Ngô Đình Nhu

Theo tài liệu CIA thì «Từ 1951, cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ CIA đã cử điệp viên Edward Korn (sau đổi họ là Korn Paterson) sang Việt Nam liên lạc với Nhu.»
Ngoài Korn còn có Virginia  Spence, một nhân viên văn phòng không có huấn luyện về tình báo, nhờ thông thạo tiếng Pháp; Spence giữ được mối liên lạc thân tình với bà Nhu. Sau này qua ông Nhu, Spence còn có cơ hội gặp TGM Ngô Đình Thục, ông Trần Quốc Bửu, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam. Spence nhớ lại về ông Nhu, vào giai đoạn đó, «he needed us far more than we needed him.»
Thomas L. Ahern Jr. (2000), CIA and the House of Ngo, Center for the Study of Intelligence, USA, Trang 21-22
Ahern Jr. ghi  thêm ý kiến của Spencer về Nhu như sau
«The Station had no illusion about either Nhu’s personal qualificaions or his influence on the local political sense. Spence described Nhu and his Workers’ Party  cadres as «seven busy little politicians». She saw him as «a born schemer»whose potential looked greater for covert action than for intelligence collection:
«Anything a friend tells him he swallows whole. He does have a certain political stature and a great flair for making nothing look like something.» [Xóa trắng 2 dòng].
But Nhu was intelligent, energetic, and passionately nationalistic. At the time, he displayed what Harwood saw as liberal impulses that offered the prospect of a compatible joint approach to questions of political organization. In any case, there was nobody else.
Thomas L. Ahern Jr., Ibid, trang 23
Mặc dầu có sự đánh giá khá thấp của nhân viên CIA về Ngô Đình Nhu. Họ cho rằng ông Nhu cũng chẳng có một tổ chức chính trị  hay có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ. Nhân sự có khả năng thích ứng được với tình thế thật hiếm hoi, như trường hợp Trần Văn Đỗ, chú của bà Nhu. Một người trông hiền lành, nhưng thiếu nghị lực, thiếu can đảm, thiếu hành động. Cùng lắm chỉ là một thứ công chức. Vậy mà khi thành lập chính phủ, ông Diệm cũng phải bổ nhiệm Trần Văn Đỗ làm Bộ trưởng Bộ ngoại giao.
[DCVOnline | Năm 1954, ông Trần Văn Đỗ được bổ nhiệm làm Trưởng phái đoàn đại diện Quốc gia Việt Nam ở Genève, thay cho ông Nguyễn Quốc Định. Ông nhất quyết không ký vào Hiệp định Genève vì không chấp nhận việc chia cắt Việt Nam, và nhân danh phái đoàn Quốc gia Việt Nam ra một tuyên bố riêng:
«… chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở.»
Bác sĩ Trần Văn Đỗ được Thủ tướng Diệm bổ nhiệm làm bộ trưởng Ngoại giao đã bị loại từ 1955 vì chính quyền cho rằng ông ủng hộ Bình Xuyên. Ông Trần Văn Đỗ là một trong 18 người thuộc nhóm Caravelle ký tên vào thỉnh nguyện thư, còn gọi là Tuyên cáo Caravelle gửi tổng thống Diệm đòi chính phủ cải tổ vào tháng 4 năm 1960.]
Bên cạnh Trần Văn Đỗ còn có một nhân vật thuộc đảng Đại Việt cũng sáng giá là ông Nguyễn Tôn Hoàn ở ngoài Bắc lúc đầu. Người Mỹ có tiếp xúc, nhưng cũng không dùng. Đây là một chính khách «sa lông», ngay từ năm 1946 đã lưu vong sang Tàu. Thời Ngô Đình Diệm, khi chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị) bị triệt hạ. Ông lại đành lưu vong sang Pháp mở nhà hàng ăn. Thời Nguyễn Khánh lại được  chiêu mời về tham gia chính phủ, rồi cũng không xong. Nói chung, các nhà chính trị miền Nam đều như thế cả.
«These men who have schemed and fought and gone without to get political power don’t have any idea what to do with it now that it’s within their grasp. All the shouts « Throw out the French,» «Throw out Bao Dai,»  «Up Democracy,» «Down communism» don’t do a thing for the day-to-day running of a government. They are like the bride who couldn’t see beyond the end of the church’s aisle. Now someone is going to… ask them to collect taxes and do something for the working man and I think they are scared. They need support, all right, but they do not realize how much.»
Thomas L. Ahern Jr., Ibid, trang 21
Đó là nhận xét của Virginia Spence, về những chính khách quốc gia chống Việt Minh ngay trước khi ông Diệm được bổ làm Thủ tướng, trong cuộc phỏng vấn với Thomas L. Ahern Jr. ngày 31 tháng 7, 1964.
CIA thấy rằng cuối cùng cũng chẳng có ai khá hơn các ông Diệm, ông Nhu.
Sau đó Harwood có thảo luận với người Pháp để lập một tân chính phủ không cộng sản tại Việt Nam. Harwood gặp Ngô Đình Nhu vào tháng năm và đưa ra một đề án
«plans which might involve Diem». He said the Agency understood the brothers to be in contact and asked if Diem would accept a position other than that of prime minister. Nhu’s answser was categorical «no».
Thomas L. Ahern Jr., Ibid, trang 23
Sau này gạo đã thành cơm. Ông Diệm đã được các nhân viên CIA như John Anderton và McCarthy móc nối lại với ông Diệm và Bảo Đại tại Paris. Việc bổ nhiệm ông Diệm làm Thủ tướng là điều trở nên thực tế hơn. Và trong đó có một điều quan trọng nay cần nhắc lại ở đây là cần bảo đảm tính liên tục cho chính quyền Ngô Đình Diệm không bị Bảo Đại  giải tán chính phủ.
Điều đó được ghi lại như sau:
«The term also included a requirement for CIA access to Bao Đai in order to prevent him from dismissing a Diem government «on a whim» and for the  continued secrecy of the liaison wih CIA.».
Thomas L. Ahern Jr., Ibid, trang 25
Vì thế sau này, ông Diệm đã không chịu rời Việt Nam sang Pháp như lời Bảo Đại yêu cầu cũng là điều hiểu được, vì nằm trong thỏa thuận giữa Nhu và CIA với Bảo Đại.
Phần Nhu cho biết không nhận bất cứ chức vụ nào trong chính phủ của Diệm.
«Nhu insisted that he would accept no position in his brother’s Cabinet, and Spence believed he had «worked so long covertly he couldn’t bear to do otherwise.»
Thomas L. Ahern Jr., Ibid, trang 25
Và kể từ nay, sự hình thành chính phủ Diệm luôn luôn có sự có mặt của CIA trong mọi tình huống, từ những chi tiết cũng như việc nhỏ nhặt . Và Harwood trở thành người thân thiết trong gia đình của Nhu, là cha đỡ đầu của Lệ Thủy, con gái đầu lòng của vợ chồng Nhu.

Edward Lansdale vào cuộc ngày 7-7-1954













Edward Lansdale (hàng thứ hai, đội mũ) đứng sau Trung tướng John W. ‘Iron Mike’ O’Daniel, chỉ huy của Nhóm cố vấn hỗ trợ quân sự Hoa Kỳ (trái), Đại sứ G. Frederick Reinhardt (giữa) và Ngô Đình Diệm (phải), Sài Gòn, 1955. Nguồn: Muir S. Fairchild Research Information Center

Sự vào cuộc của Edward Lansdale thời Đệ Nhất Cộng Hòa ghi đậm nét một dấu thử nghiệm cuộc chiến tranh phản gián chống lại cộng sản trên mọi mặt.
Edward Lansdale mang vào Việt Nam tất cả những thành quả và kinh nghiệm chiến đấu thành công với thử nghiệm COIN (Kỹ thuật phản gián) và việc loại trừ phiến quân Hukbalahap ra khỏi giới nông dân nghèo Phi Luật Tân. Tuy nhiên vấn đề còn lại là mỗi xứ sở bất hạnh lại có những vấn đề bất hạnh theo cách riêng. Có những bất hạnh chung như số phận ngắn ngủi của TT. Ramon Magsaysay (rớt máy bay tháng 3-1957) và ông Diêm bị thảm sát với sự đồng lõa ngầm của cánh diều hâu Mỹ tháng 11-1963. Liệu cả hai còn sống thì số phận đất nước họ ra sao?
Nếu Edward Lansdale đã thành công ở Phi Luật Tân thì ở Việt Nam, ông đã gặp nhiều khó khăn về phía nội bộ chính quyền Việt Nam cũng như chính quyền Mỹ và cả về phía Việt Minh cộng sản.
Trước hết, cộng sản Việt Nam không phải phiến quân HUK. CSVN được huấn luyện, nhồi sọ kỹ càng hơn bất cứ loại chiến binh nào. VNCH phải đối đầu với một kẻ thù có quyết tâm và tàn bạo hơn bất cứ đạo quân nào. Chiều kích chiến tranh Việt Nam mở rộng ra sự can thiệp của thế giới với sự có mặt của Tàu và Liên Xô như hệ thống hậu cần. Cho dù cuộc chiếc tranh phản gián trên mọi mặt như tâm lý chiến như phát quà, chữa bệnh, tuyên truyền, xâm nhập, khuynh đảo đến bình định nông thôn, với hứa hẹn người cầy có ruộng liệu có phải là giải pháp duy nhất để chiến thắng Cộng sản với một giá rẻ về người và tiền bạc mà không cần đến bom Napalm và sau này bom trải thảm của B,52?
Sau này với sự thất bại của tướng William Westmoreland trong việc tập trung tấn công dựa vào võ lực đã thất bại với cuộc chiến tranh du kích trong trận chiến Mậu Thân. Và tướng Creighton Abrams nhấn mạnh vào chuyện bình định nông thôn đã gặp trở ngại về một cuộc chiến tranh quy ước vào năm 1972?
Bấy nhiêu thử nghiệm thêm vào việc đếm xác chết (body Count), Bombing-run, Free-fire Zones đã thu được kết quả gì? Lewis Sorley trong cuốn Westmoreland. The general who lost Vietnam viết:
«Westmoreland often maintain that «our purpose was to defeat the enemy and pacify the country, and the country couldn’t be pacified until the enemy was defeated.»In his term, defeated meant killed, which in turn etablished body count as the measure of merit in this war
Lewwis Sorley. Westmoreland Boston NewYork, 2011 trang 121
Người ta thấy là người Mỹ cũng như quân đội VNCH không đủ năng lực để cùng lúc chống đối hai mặt trận chiến tranh quy ước và chiến tranh du kích.
Vì thế, Max Boot, một sử gia quân sự trong cuốn sách của ông. The Road not taken. Edward Lansdale and the tragedy in Viet Nam đã nhằm giới thiệu và ủng hộ quan điểm chiến tranh phản gián của Edward Lansdale như một giải pháp cho Việt Nam và sau này trong trường hợp Iraq.
Sau ông Diệm, chính sách đưa quân ồ ạt vào Việt Nam hẳn là đi ngược đường lối chiến tranh của Edward Lansdale.
Sau đây là phần tóm tắt lại những công việc mà vị tướng tình báo đã làm trong hai năm rưỡi giúp ông Diệm.
Có cơ hội để nhìn lại cho thấy vai trò của CIA, qua Edward Lansdale là một cần thiết của nền Đệ Nhất Cộng Hòa còn non yểu. Giả dụ mà không có Edward Lansdale thì liệu chế độ Ngô Đình Diệm tồn tại được bao lâu.
Trước khi ông Diệm từ Paris về Việt Nam đầu tháng sáu thì Edward Lansdaleđã có mặt trước một tháng để chuẩn bị bãi đáp cho ông Diệm về cầm quyền.
Công việc của Edward Lansdale lúc bấy giờ là tạo cho ông Diệm một vị thế vững vàng. Ngày mồng 7 tháng 7-1954, không hẹn trước, Edward Lansdale cùng với George Hellger cũng là thông dịch viên đến gặp Diệm. Mặc dầu nói thông thạo tiếng Anh, nhưng ông Diệm trong hai năm rưỡi trời liên lạc với Edward Lansdale, ông chỉ nói tiếng Pháp. Lansdale đề nghị với đại sứ Mỹ Heath và đưa ra một chương trình 3 năm để giúp Diệm. Heath đồng ý và để cho CIA hành dộng bên cạnh Diệm.
Ngày 12, đại sứ Heath và Landsdale cùng đến gặp Diệm và yêu cầu Diệm nhận Lansdale như một cố vấn riêng của Diệm. Và cũng trong buổi gặp gỡ này, Lansdale đã  đưa ra chương trình «emergency adoption» như kêu gọi sự hợp tác của các giáo phái tham gia vào lực lượng quân đội của chính phủ và một số chương trình cải cách khác. Nhưng xem ra Diệm ít quan tâm đến việc phải mặc cả với các giáo phái mặc dù có chiều hướng muốn hợp tác với chính quyền mới. Harwood báo cáo là các giáo phái, đảng Đại Việt, vài nhóm Thiên chúa giáo ngay cả Bình Xuyên đều muốn về hợp tác với chính quyền và hy vọng được đáp trả cân xứng
«would like to offer their loyalty to the government for something in return, but Diem has shown little desire to bargain. This attitude was not, as Harwood dryly noted, «a political asset which will attract mass support.»
Thomas L. Ahern Jr., Ibid, trang 31








Ông Diệm bỏ phiếu trưng cầu dân ý 1955. Nguồn: alphahistory.com
Đại tá Edward Lansdale đề nghị với Thủ tướng Diệm làm phiếu đỏ cho mình và màu xanh lá cây cho Bảo Đại trong cuộc trưng cầu dân ý  ngày 7 tháng 7 năm 1955. Vì màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn và màu xanh lá cây tượng trưng cho sự xấu xa, hai người hy vọng rằng nhiều người mê tín sẽ bỏ phiếu cho Diệm.
Kết quả Bảo Đại được 1.09% số phiếu; Ngô Đình Diệm được, 98.91%, tổng số phiếu là 108.42%!







Kết quả Trưng cầu Dân ý ngày 23-10-1955. Nguồn: Direct Democracy
Đại tá Lansdale, nói với ông Diệm rằng tỷ lệ thắng của ông là quá đáng để công chúng có thể tin. Ông đề nghị Diệm công bố một con số gần khỏang 70%. Ông Diệm không đồng ý. (The Election of Vietnamese President Ngo Dinh Diem, October 1955)
Sau đó cả hai ông Diệm và Lansdale đã tích cực trong việc đưa một triệu người miền Bắc vào Nam. Lansdale lo việc vận động di cư. Ông Diệm lo định cư và ổn định đời sống cho những người di cư này.
Kinh nghiêm chiến tranh tâm lý thành công ở Phi Luật Tân đã được nhóm người của CIA áp dụng ròng rã trong 6 tháng tại miền Bắc trước cuộc di cư với khẩu hiệu, truyền đơn như: «Christ has gone to the South»hoặc «Virgin May has departed from the North» hay «They voted with their feet».  Đồng thời, tẩy chay các hãng Pháp muốn tiếp tục ở lại làm ăn với Việt Cộng.  Theo Victor Marchetti và John Mark, các khấu hiệu tuyên truyền đã đem lại kết quả như sau:
«The day following the distribution of these leaflets, refugee registration tripled. Two days later, Vietminh took the radio to denounce the leaflets; the leaflets were so authentic in appearance that even most the rank and file Vietminh were sure that the radio denunciations were a French tricks.»
Victor Marchetti, John D. Marks, The CIA and the Cult of Intelligence, trang 171
Phải nói đây là những giai đoạn  hợp tác tốt đẹp và ăn ý nhất giữa đôi bên.
Nhờ cả Mỹ và chính phủ Bảo Đại đã không ký vào Hiệp Định Genève nên họ có đủ lý do để trì hoãn việc tổng tuyển cử như quy định sau hai năm. Bởi vì, theo Eisenhower, nếu có cuộc tổng tuyển cử thì đến 80% dân chúng lúc bấy giờ sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh thay vì Bảo Đại. (Sau này là ông Ngô Đình Diệm.)
Tuy nhiên, Edwward. Miller có ý kiến trái ngược đáng xét lại. Vì ông cho rằng vai trò của ông Nhu trong việc chuẩn bị cho ông Diệm về nước cũng như điều hành có tính toán và tổ chức chu đáo không hẳn như những nhận định của CIA và Lansdale. Edward Miller nhận xét:
«All of these caricatures of Diem are based on false assumptions, and many of conclusions drawn from them are wrong. Contrary to what the puppet thesis suggests, Diem obtain power in 1954 through his own efforts anh those of his brothers, not because of a U.S. Pressure campaign. His subsequent success in consolidating his power in South Vietnam was also mainly the result of his own maneuver.»
Edward Miller, Ibid, trang 15
(Còn tiếp p2)
© 2020 DCVOnline
Share: