Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

TN21 - Điều quan trọng nhất trong việc sống đạo


CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 21 Thường Niên

(21-8-2016)


Điều quan trọng nhất trong việc sống đạo
là tuân hành thánh ý Thiên Chúa.


ĐỌC LỜI CHÚA

·   Is 66,18-21: (18) Còn Ta, Ta biết rõ việc làm và ý định của chúng, Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Ta.

·   Dt 12,5-7.11-13: (5) Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. (6) Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. (7) Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy.


·   TIN MỪNG: Lc 13,22-30

Thiên Chúa ruồng bỏ người Do-thái bất trung
và kêu mời dân ngoại

 (22) Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. (23) Có kẻ hỏi Người: «Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?» Người bảo họ: (24) «Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.

 (25) «Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: «Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào!» thì ông sẽ bảo anh em: «Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến!» (26) Bấy giờ anh em mới nói: «Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi». (27) Nhưng ông sẽ đáp lại: «Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!»

 (28) «Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Ápraham, Ixaác và Giacóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. (29) Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa. (30)Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.    Trong đời sống thường nhật, người làm việc không có phương pháp, không có đường lối thì có thành công không? Còn trong đời sống tâm linh thì sao?

2.    Có bao giờ bạn nghĩ rằng có những người mang danh giữ đạo suốt cả đời, thế mà không vào được Nước Trời, chỉ vì họ giữ đạo cách sai lầm không? Phải giữ đạo hay sống đạo cách nào mới đúng?

3.    Cốt tủy của Kitô giáo là gì? Nói chung, bạn đã nghiêm túc giữ đúng cốt tủy này chưa, hay chỉ giữ những điều tùy phụ?

Suy tư gợi ý:

1.   Muốn thành công, phải đi đúng đường, làm đúng lối

Trong đời sống thường nhật, làm việc gì mà muốn thành công thì cần phải làm cho đúng phương pháp hay cách thức của nó. Để thực hiện những kế hoạch lớn, cần phải đi cho đúng hướng, nếu không đúng hướng, sẽ thất bại ê chề: «sai một ly, đi một dặm». Nhiều người khi làm việc gì thì chỉ biết cắm cúi làm, không cần biết làm thế nào cho đúng để có thể chắc chắn thành công và đạt hiệu quả cao nhất. Dường như họ quan niệm: «cần cù bù thông minh»! Làm không đúng cách, đi không đúng hướng, chẳng những không đạt được mục đích, mà còn gây thiệt hại nữa. Vì thế, có danh nhân đưa ra công thức: «Nhiệt thành + ngu xuẩn = phá hoại».

Dù việc nhỏ hay việc lớn ở trần gian này, muốn thành công, đều cần phải làm cho đúng cách, đúng phương pháp. Việc nên thánh, việc đạt được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau, theo quan niệm của người Kitô hữu, là việc quan trọng nhất trên đời. Thế mà nhiều Kitô hữu chẳng cần biết phải làm cách nào để chắc chắn đạt được mục đích ấy, và điều gì cần thiết nhất để đạt được mục đích ấy. Việc quan trọng như thế mà họ cứ thực hiện theo kiểu mò mẫm, làm theo những hiểu biết không chắc chắn, thiếu chính xác! Vì thế, sẽ có nhiều trường hợp người Kitô hữu trung thành giữ đạo cả một đời, tưởng sẽ được Thiên Chúa thưởng công bội hậu, nhưng… rất tiếc không phải như thế! Bài Tin Mừng hôm nay cho ta biết điều không may ấy có thể xảy ra.

2.   Muốn vào Nước Trời, phải thi hành thánh ý Thiên Chúa

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu cho biết: «Có nhiều người tìm cách vào (Nước Trời) mà không thể được» vì họ đã sử dụng những cách không đúng, không hiệu quả. Ngài cho thấy cảnh thất bại của họ vào ngày phán xét: họ tưởng những việc họ đã làm ở trần gian để vào Nước Trời sẽ giúp họ vào được Nước ấy. Nhưng sự việc xảy ra thật phũ phàng! Những việc họ đã làm với mục đích vào được Nước Trời là hoàn toàn vô ích, vì những việc không cần thiết thì họ làm một cách thật chăm chỉ, còn việc cần thiết phải làm thì họ lại không thèm làm. Đức Giêsu mô tả cảnh ấy cách rõ rệt hơn trong Tin Mừng Matthêu: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,22-23).

Theo đoạn Tin Mừng này thì vào ngày phán xét, nhiều người được tiếng là tốt lành thánh thiện – vì đã làm được những việc đạo đức ít ai làm được, như nói tiên tri, trừ quỉ, làm phép lạ – họ tưởng rằng làm được như thế thì chắc chắn mình đã đủ hoặc dư tiêu chuẩn để vào Nước Trời rồi. Nhưng không ngờ Chúa phán một câu khiến họ bật ngửa: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» Thì ra những việc đạo đức ấy tuy được người đời nể phục và ca tụng, nhưng hoàn toàn không ích lợi gì cho việc vào Nước Trời của họ nếu không muốn nói là có hại. Có hại vì chúng làm họ lầm tưởng rằng mình thánh thiện thật sự rồi sinh tự hào, kiêu ngạo.

Vậy thì việc gì là cần thiết để vào được Nước Trời? Đức Giêsu nói rất rõ: «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi» (Mt 7,21). Lời Chúa nói thật rõ ràng: điều cần thiết nhất và duy nhất để được vào Nước Trời là thi hành ý muốn của Thiên Chúa (cụm từ «chỉ… mà thôi» nói lên tính duy nhất của điều cần thiết ấy). Thực hiện thánh ý Chúa, đó là điều phải làm trong thực tế, nghĩa là phải hành động thật sự chứ không chỉ nói hay tuyên xưng xuông. Phần đầu của câu Tin Mừng trên còn nhấn mạnh sự vô ích của những lời nói, lời tuyên xưng, hoặc những lời cầu nguyện rỗng tuếch không dẫn đến hành động.

Vậy điều quan trọng và cần thiết để vào Nước Trời là thực hiện thánh ý Thiên Chúa. Nhưng thánh ý Thiên Chúa là gì? Ngài muốn chúng ta làm gì?

3.   Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì?

Thiên Chúa là Tình Yêu, và Nước Trời là vương quốc của Tình Yêu, trong đó, Tình Yêu thống trị tất cả. Vì thế, chỉ những ai có tình yêu đích thực mới phù hợp với Nước Trời. Thiên Chúa là Tình Yêu, nên Ngài chủ yếu muốn chúng ta – vốn được dựng nên theo hình ảnh của Ngài – phản ảnh trung thực bản tính yêu thương của Ngài. Vì thế, khi Đức Giêsu đến, Ngài chỉ đưa ra một lề luật duy nhất là: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34). Ngài không hề đưa ra một giới luật nào khác để mọi Kitô hữu theo Ngài hiểu được tầm quan trọng duy nhất của nó mà tập trung mọi nỗ lực của mình vào đó. Để nhấn mạnh tầm quan trọng duy nhất này, Ngài còn mô tả ngày phán xét cuối cùng, Thiên Chúa chỉ xét theo một tiêu chuẩn duy nhất: ta đã yêu thương tha nhân ra sao bằng hành động cụ thể: «Xưa Ta đói (khát, là khách lạ, trần truồng, đau yếu, ngồi tù…), các ngươi đã (không) cho ăn (uống, tiếp rước, cho mặc, thăm viếng, đến hỏi han…)» ; «mỗi lần các ngươi (không) làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã (không) làm cho chính Ta vậy» (Mt 25,31-46). Không thấy Ngài phán xét theo một tiêu chuẩn nào khác. Vậy, điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta chủ yếu là tình yêu đích thực, nghĩa là biết tích cực yêu thương tha nhân.

Điều rất lạ là Kitô hữu nào cũng biết cốt tủy Kitô giáo là công bằng và yêu thương, nhưng số Kitô hữu – kể cả những người giảng dạy về Kitô giáo – tập trung cố gắng để thực hành điều cốt tủy này dường như không nhiều. Nếu nhiều thì chắc chắn bộ mặt Kitô giáo đã khác hẳn hiện nay. Lời Chúa nói về điều cốt tủy ấy thật chắc chắn và rõ ràng, nhưng người Kitô hữu dường như tập trung cố gắng vào những gì khác chứ không phải vào điều cốt tủy ấy. Hiện nay, đa số Kitô hữu vẫn còn đi vào vết xe cũ đã đổ của người Do Thái, là quá coi trọng hình thức tôn giáo bên ngoài, những tập tục, nghi thức, chỉ biết lãnh nhận các bí tích một cách chiếu lệ thiếu hẳn chiều kích nội tâm, v.v… Đó là những điều mà các ngôn sứ bao đời và cả Đức Giêsu đã đả phá kịch liệt (x. Is 1,11-17; Am 5,21-24; Gr 6,20; 14,12; Mk 3,4; 6,6-8; Mt 5,23-24; 9,13; Mc 12,33; v. v…). Hoặc họ tập trung nỗ lực vào việc giữ những luật này lệ nọ, đủ mọi thứ luật, nhưng luật quan trọng nhất phải tuân giữ là công bằng và yêu thương thì lại bỏ qua.

Chính vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay «có kẻ hỏi Người: Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?» và Đức Giêsu đã khẳng định: «Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít» (Mt 22,14; 20,16). Vậy chúng ta phải sống đạo thế nào cho đúng thánh ý Chúa, kẻo cả đời giữ đạo Chúa của chúng ta trở thành «xôi hỏng, bỏng không», hay thành «công dã tràng» thì thật đáng tiếc! Đừng để câu Kinh Thánh sau đây đúng với chính chúng ta: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12).

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, chúng con mang danh là Kitô hữu, nhưng nhiều khi chúng con không sống theo quan niệm và tinh thần của Đức Kitô, mà sống theo quan niệm và tinh thần của ai đấy mà chúng con cho là đúng, hoặc tưởng rằng là của Đức Kitô. Xin giúp chúng con biết rõ Cha muốn chúng con làm gì, và tinh thần của Đức Kitô là gì, bằng cách tham chiếu Lời của Ngài. Đừng để chúng con quan trọng hóa những điều tùy phụ mà coi nhẹ điều chính yếu nhất là thực hiện công lý và tình thương trong cuộc đời mình (x. Mt 23,23b).
(Nguyễn Chính Kết)
Share:

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

TN20 - Có phải Đức Giêsu đến để đem gươm giáo và chia rẽ?


CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 20 Thường Niên

(14-8-2016)

Có phải Đức Giêsu đến để đem gươm giáo và chia rẽ?



ĐỌC LỜI CHÚA

·  Gr 38,4-6.8-10: (4) Các thủ lãnh thưa với vua Xítkigiahu: «Xin ngài cho giết Giêrêmia đi, vì những luận điệu của ông ta đã làm nản lòng các binh sĩ còn lại trong thành này, cũng như toàn dân. Thật vậy, con người ấy chẳng mưu hoà bình cho dân này, mà chỉ gây tai hoạ».

·  Dt 12,1-4: (3) Anh em hãy tưởng nhớ Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế, để anh em khỏi sờn lòng nản chí.



·  TIN MỪNG: Lc 12,49-53

Thái độ của Đức Giêsu trước cuộc Thương Khó

 (49) «Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! (50) Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!

 «Thầy đến để gây chia rẽ»

 (51) «Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. (52) Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. (53) Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.   Bạn có thái độ nào khi thấy người khác suy nghĩ và hành động khác với bạn? Bạn có thường nghĩ rằng bạn đúng hơn những người nghĩ khác bạn?

2.   Bạn có ngạc nhiên khi Đức Giêsu nói rằng Ngài đến không phải để đem lại hòa bình, nhưng là đem đến gươm giáo và chia rẽ? Bạn hiểu lời ấy của Ngài thế nào?

3.   Tại sao Kitô giáo lại có nhiều giáo phái khác nhau như thế? Có giáo phái nào cho rằng mình không đúng bằng giáo phái khác không?

Suy tư gợi ý:

1.   Con người với đủ mọi khác biệt và trình độ

Thế giới hay vũ trụ này được Thiên Chúa tạo dựng nên hết sức phong phú và đa dạng: đủ mọi loài mọi giống. Mỗi loài mỗi giống lại có đủ mọi hình thái, mọi kích cỡ khác nhau: chẳng hạn loài cá có thứ chỉ nhỏ bằng cây kim, có thứ to như cái nhà… Loài người thì đủ mọi thứ tính tình, khuynh hướng, trình độ khác nhau. Từ đó phát sinh đủ mọi thứ triết lý, thần học, tôn giáo, lập trường, chủ nghĩa, lề lối suy nghĩ khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau… Tuy nhiên, mọi người đều có khuynh hướng chung và tự nhiên là hướng về chân, thiện, mỹ. Ai cũng đều cảm thấy có nhu cầu và bổn phận thực hiện chân, thiện, mỹ trong đời sống của mình. Nhưng quan niệm, sự hiểu biết và mức độ gắn bó hay dấn thân cho chân, thiện, mỹ lại rất khác nhau. Và bình thường ai cũng cho rằng quan niệm của mình là đúng nhất, và mức độ gắn bó của mình là thích đáng hoặc hợp lý nhất. Chính vì thế, ai cũng khư khư giữ lấy quan điểm và lập trường của mình.

Nhưng nguyên nhân gây rắc rối, xung đột và chia rẽ là ai cũng muốn mọi người phải thống nhất với quan điểm của mình mà mình tự cho là đúng nhất, hợp lý nhất. Nhiều người tìm đủ mọi cách để áp lực người khác phải theo lập trường của mình: bằng áp lực tình cảm, bằng uy thế (địa vị, bằng cấp, tuổi tác, uy tín về hiểu biết hay khôn ngoan), thậm chí bằng bạo lực (cảnh sát, đe dọa). Nếu con người không chấp nhận và tôn trọng sự đa dạng và khác biệt tự nhiên này, con người sẽ không thể hiệp nhất với nhau, sẽ phát sinh chia rẽ và xung đột nhau.

Mặc dù Thiên Chúa dựng nên con người với sự khác biệt nhau rất lớn, nhưng con người vẫn không thể chấp nhận sự khác biệt tự nhiên ấy. Người ta có khuynh hướng ghét bỏ và tẩy chay những người có tư tưởng hay lối sống khác với mình. Chính Đức Giêsu và những người theo Ngài từng là nạn nhân của khuynh hướng tẩy chay dị biệt ấy.

2.   Đức Giêsu đến để đem gươm giáo và chia rẽ

Khi Đức Giêsu đến để đem chân lý cho nhân loại, Ngài đưa ra những quan niệm mới, những lập trường tư tưởng mới đúng đắn hơn quan niệm hay lập trường đang được mọi người cho là đúng nhất. Điều này khiến cho những người theo Ngài trở nên khác biệt (về tư tưởng, đời sống, về sự dấn thân) với mọi người vốn đã khác biệt nhau. Chính vì thế, Ngài và các tông đồ Ngài đã bị những người khác, đặc biệt những người đồng đạo ghét bỏ, tẩy chay, hãm hại và thậm chí giết chết. Các Kitô hữu tiên khởi cũng bị các vua chúa và những người đồng hương bách hại. Quả đúng như lời Ngài nói: «Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất. Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo» (Mt 10,34). Các Kitô hữu bao thế hệ, kể cả hiện nay – nhất là tại những quốc gia kỳ thị tôn giáo – cũng bị bách hại, và phải chiến đấu rất anh dũng mới có thể tồn tại và phát triển. Nhưng thật là lạ kỳ, mặc dù bị bách hại trăm bề, Kitô giáo vẫn phát triển mạnh mẽ và hiện nay đã lôi kéo được một phần ba thế giới. Đúng như lời Ngài nói trong bài Tin Mừng: «Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!»

Trong một gia đình Kitô hữu gồm toàn những người mang danh theo Đức Giêsu, nếu có ai theo Chúa một cách thờ ơ, nguội lạnh, hoặc đi vào con đường tội lỗi, thì mọi người còn lại đều tìm cách nâng người ấy lên. Nếu không được thì sẽ tìm biện pháp mạnh để ép người ấy sống tốt hơn. Nhưng nếu có ai theo Đức Giêsu một cách tích cực và đúng nghĩa vượt hẳn mọi người, hoặc với một cách thức khác thường thì những người còn lại trong gia đình thường phản đối và cản trở, nghĩa là tìm cách kéo người ấy xuống mức chung của gia đình mà họ cho là mức hợp lý nhất. Alêxù, Phanxicô Khó Khăn, Gioan Thiên Chúa… là những bằng chứng điển hình.

Trong các cộng đoàn Kitô hữu cũng thường xảy ra tương tự như vậy. Người theo Chúa một cách tích cực, triệt để và đúng nghĩa nhất thường bị coi là lập dị, là người bất bình thường, nếu chưa bị nói là khùng, là «mát» … Chính Đức Giêsu cũng bị người đời cho là «mất trí» (Mc 3,21). Thế là có sự chia rẽ trong nội bộ khi có người theo Chúa một cách tích cực hoặc quyết liệt. Những người này thường bị tẩy chay và sống trong cô độc, tuy nhiên họ lại lôi kéo được một số ít người theo họ. Những người tích cực gắn bó với chân lý, chân lý và tình thương – vì thế có những tư tưởng tiến bộ hoặc thấy xa hơn người bình thường – cũng bị tẩy chay và cô lập như thế, thậm chí bởi ngay những người thân trong gia đình: cha mẹ, con cái, anh chị em mình… Đức Giêsu đã từng tiên báo số phận của họ: «Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét» (Mt 10,21-22).

Như vậy, việc triệt để theo Đức Giêsu hay theo sự đòi hỏi của chân, thiện, mỹ có thể là cớ gây chia rẽ, thù oán giữa những người cùng gia đình, cùng cộng đoàn, cùng là con dân một đất nước. Như thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, dân Việt bị phân chia thành lương và giáo, và đôi bên kỳ thị hoặc nghi ngờ nhau. Khi công lý bị xâm phạm, con người bị đàn áp, xã hội tự nhiên bị phân ra thành hai khối: một số rất ít hành động theo lương tâm, sẵn sàng tranh đấu sống chết cho công lý, và đa số hành động theo quyền lợi hay «nồi cơm» của mình. Hai loại người này nhiều khi chống đối nhau, tố cáo nhau.

3.   Sự chia rẽ trong Kitô giáo

Chính vì lý tưởng bênh vực cho chân lý, vì lý tưởng thống nhất Giáo Hội, mà Kitô giáo hiện nay bị phân hóa một cách thê thảm thành hàng trăm giáo phái khác nhau. Giáo phái nào cũng tự hào mình theo Đức Giêsu một cách đúng đắn nhất, và tìm đủ mọi cách để bênh vực và truyền bá lập trường của mình. Từ đó sinh ra chia rẽ, thù hận nhau: tuy cùng nhận Đức Giêsu là thầy, cùng lấy Ngài làm gương mẫu, lý tưởng, nhưng họ lại không chấp nhận nhau là đồng đạo, là anh em với nhau. Người được giáo phái này rửa tội mà chuyển sang giáo phái khác thì phải chịu phép rửa tội lại theo nghi thức của giáo phái mới, làm như phép rửa tội được các Kitô hữu giáo phái khác làm là không thành sự! Như thể các Kitô hữu thuộc giáo phái khác không phải là người theo Đức Kitô! Nhiều khi giáo phái này đả phá, kết án, nói xấu giáo phái kia một cách không nhân nhượng. Nhiều giáo phái còn quả quyết là những ai ở ngoài giáo phái của mình thì không thể được cứu rỗi. Nhiều giáo phái muốn hạn chế ơn cứu rỗi và dành độc quyền được cứu rỗi cho giáo phái của mình! Thật đúng như trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: «Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ». Đúng là càng muốn thống nhất, càng không chấp nhận khác biệt, càng tìm cách để mọi người nên một với mình, thì càng mất hiệp nhất! Đó là điều Đức Giêsu đã cảnh báo trong bài Tin Mừng trên để chúng ta có thể đề phòng và tránh cho cộng đoàn của mình, cho Giáo Hội và cho toàn nhân loại.

CẦU NGUYỆN


Lạy Cha, Đức Giêsu luôn mong muốn những người theo Ngài được «nên một» (x. Ga 17,11.21-23). Ngài không muốn họ chia rẽ và xung đột lẫn nhau. Nhưng Ngài đã thấy trước và báo trước tình trạng chia rẽ và xung đột ấy. Mặc dù được báo trước như thế, những người theo Ngài vẫn không tránh được tình trạng không tốt đẹp ấy. Chỉ vì không mấy ai chấp nhận sự đa dạng và khác biệt theo luật tự nhiên mà Cha đã tạo dựng trong vũ trụ. Xin Cha cho tất cả những ai thờ phượng Cha biết tôn trọng luật tự nhiên ấy để họ có thể hiệp nhất với nhau, yêu thương nhau và coi nhau như anh chị em. Một sự hiệp nhất trong đa dạng như Giáo Hội sau công đồng Vatican II chủ trương. Xin cho mọi người tin Cha biết đặt nặng tinh thần yêu thương, đoàn kết và hiệp nhất với nhau hơn là đòi hỏi phải thống nhất với nhau về lý thuyết. Xin cho mọi người ý thức rằng sự chia rẽ giữa những người thờ phượng Cha luôn luôn là một gương xấu vô cùng lớn cho thế giới. 
Share:

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016

Lectiodivina

Đọc Thánh Kinh,
suy niệm và cầu nguyện
theo phương pháp Lectio Divina

  I.       Sự cần thiết của Thánh Kinh
trong đời sống Kitô hữu
Gặp gỡ và cảm nghiệm được Thiên Chúa, biết và hiểu rõ được đường lối và thánh ý của Thiên Chúa trong đời sống mình, nhất là để phân biệt Thần Khí của Thiên Chúa với những thần khí sai lạc đang đầy giẫy trong thời cuối cùng hiện nay[1], là điều rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển đời sống tâm linh của người Kitô hữu. Để thực hiện được những yêu cầu cần thiết đó, việc đọc Thánh Kinh, nhất là Tân Ước, đồng thời suy niệm và cầu nguyện theo những gì Thiên Chúa soi sáng cho ta qua Thánh Kinh là phương tiện chắc chắn và bảo đảm nhất. Để phán quyết một lý thuyết thần học, tu đức, triết học hay một mặc khải tư, v.v… thì ngay cả những bậc có trách nhiệm cao nhất trong Giáo Hội cũng phải dựa vào Thánh Kinh, nhất là Tân Ước, như một tiêu chuẩn chắc chắn nhất, để có được sự soi sáng bảo đảm nhất từ Thiên Chúa.
Trong lịch sử Giáo Hội, đọc và suy niệm Thánh Kinh là một trong 3 nền tảng của đời sống tu trì trong các đan viện; 2 nền tảng kia là: cử hành phụng vụ và lao động.
Chính vì thế, Phong trào CFC (Couples For Christ) luôn khuyến khích các thành viên đọc Kinh thánh ít nhất 15 phút mỗi ngày, và chia sẻ Lời Chúa trong Thánh Kinh khi họp nhóm (tốt nhất là hàng tuần). Thậm chí việc đọc Thánh Kinh và suy niệm được coi là một bổn phận trong Giao Ước CFC mà các thành viên cần chu toàn mỗi ngày.

II.       Mục đích của việc đọc Kinh Thánh trong CFC
Giúp các thành viên CFC biết cách đọc, hoặc một mình hoặc với người khác, các bản văn Kinh thánh để hiểu được quan niệm, cách nhìn, cách suy nghĩ, tâm tình và hành động của Đức Giêsu cũng như của các ngôn sứ thật (tức phản ảnh cách nhìn của Thiên Chúa) hầu áp dụng vào đời sống Kitô hữu của mình.
Các thành viên CFC không chỉ được khuyến khích bắt chước lời nói và hành động của Đức Giêsu, mà qua việc đọc Kinh thánh, còn phải khám phá được quan niệm, cách nhìn, tâm tình và chiều hướng suy nghĩ của Ngài về mọi vấn đề trong lãnh vực tâm linh cũng như trong những thực tế của cuộc sống. Quan niệm hay cách nhìn có đúng thì suy nghĩ mới đúng được. Và suy nghĩ có đúng thì lời nói và hành động của mình mới đúng được. Chỉ bắt chước lời nói và hành động của Đức Giêsu mà không hiểu được Ngài quan niệm hay nhìn vấn đề thế nào, thì nhiều khi ta sẽ hành động một cách sai lạc. Chẳng hạn ta đọc thấy Ngài chỉ trích thậm tệ các kinh sư thời của Ngài (x. Mt 23,13-26), ta bèn bắt chước Ngài chỉ trích thậm tệ các kinh sư thời đại, thì coi chừng có thể ta hành động không đúng ý Ngài.
Để giúp các thành viên CFC rút ra được nhiều ích lợi cho đời sống tâm linh khi đọc Kinh thánh và chia sẻ Lời Chúa, chúng tôi xin đề nghị một phương pháp được nhiều hội đoàn trong Giáo Hội khuyến khích các thành viên theo, đó là phương pháp “Lectio Divina”.
Đây là một phương pháp cầu nguyện hay đối thoại hai chiều với Chúa, trong đó ta nghe Chúa nói với ta, hướng dẫn, chỉ lối cho ta, và ta đáp lại theo những gì Chúa nói với ta. Chúa nói với ta qua lời của Ngài trong Kinh thánh, và qua “tiếng nói vô thanh” của Ngài phát xuất từ nội tâm của ta. Phương pháp cầu nguyện này có một lịch sử lâu đời trong Giáo Hội, khởi đầu được các tu sĩ trong các đan viện áp dụng như một nền tảng của đời sống tu trì. Do ích lợi thực tế cho sự phát triển đời sống nội tâm, Giáo Hội hiện nay khuyến khích những Kitô hữu muốn nên thánh hãy áp phương pháp cầu nguyện này.

III.       Phương Pháp “Lectio Divina” (Holy Reading)
“Lectio Divina” được thực hiện theo 6 bước, thường kéo dài khoảng một tiếng:
1. Chuẩn bị (Preparing).
2. Đọc và tìm hiểu bản văn (Readingand understanding).
3. Suy niệm (Thinking about).
4. Cầu nguyện (Praying).
5. Chiêm niệm (Meditating).
6. Áp dụng vào đời sống (Applying in the life).

1)       Bước 1: Chuẩn bị (Preparing)
a.    Ý thức
·    Xác định đoạn Thánh Kinh mà ta sẽ đọc
   hoặc chọn đoạn nào phù hợp với nhu cầu tâm linh của mình vào thời điểm lúc ấy;
   hoặc lấy các bài đọc trong thánh lễ Chúa nhật vừa qua, hay Chúa nhật tới; hoặc các bài đọc trong thánh lễ hôm nay;
   hoặc đọc theo một bảng chương trình đọc Thánh Kinh, hay do người trưởng nhóm chọn;
   hoặc đọc theo ngẫu hứng (random), mở đại một trang nào đó trong sách Thánh Kinh.
·    Ý thức Thiên Chúa đang hiện diện trong đền thờ tâm hồn mình, ngay trong thân xác của mình ([2]).
b.    Im lặng và cầu nguyện
·    Giữ tâm hồn im lặng, thanh thản. Dẹp bỏ mọi suy nghĩ, tính toán khác… Dành trọn 100% khoảnh khắc và bầu trời ý thức của mình lúc này chỉ để lắng nghe tiếng Chúa nói từ trong nội tâm ta, và qua đoạn Kinh thánh sắp đọc.
·    Cầu nguyện với Thánh Thần Thiên Chúa đang ngự trong tâm hồn mình với tâm tình mong muốn nghe được tiếng Chúa nói để biết được cách Thiên Chúa nhìn vấn đề và để biết được thánh ý Ngài hầu quyết tâm áp dụng vào đời sống thực tế của mình (chứ không chỉ để hiểu biết xuông) ([3]).

2)       Bước 2. Đọc và tìm hiểu bản văn (Reading)
a.    Đọc đoạn văn Kinh Thánh đã chọn
·    Đọc thật chậm rãi từng chữ từng câu, vừa đọc vừa suy nghĩ, tìm hiểu ý nghĩa của từng câu. Cùng nhau đọc đi đọc lại 2, 3 lần.
·    Sau đó, ai thấy câu nào đánh động mình nhất, có thể đọc lên cho mọi người nghe. Sẽ có trường hợp nhiều người được đánh động bởi cùng một câu thì cứ lập lại câu ấy.
·    Điều quan trọng là:
   đọc với tâm tình yêu mến, với ý hướng lắng nghe, trong tinh thần cầu nguyện;
   với mục đích tìm hiểu xem: qua câu Kinh Thánh ấy Đức Giêsu quan niệm, suy nghĩ và hành động thế nào? Tâm tình Ngài thế nào?
   suy nghĩ xem: đối với Ngài, điều nào là cốt yếu, điều nào là phụ thuộc?
   đồng thời sẵn sàng thay đổi bản thân để quan niệm, suy nghĩ và hành động giống như Đức Giêsu theo sự hướng dẫn của Thánh Thần.
b.    Khảo sát bản văn
·    Tùy nghi sử dụng những câu hỏi nền tảng:
   6 câu hỏi nền: Who? (ai?), What? (gì?/nào?), When? (khi nào?), Where? (ở đâu?), Why? (tại sao?), How? (thế nào?/làm sao?)
   How long? (bao lâu?) How far? (bao xa?) How much/many? (bao nhiêu?) How to do? (làm thế nào?)
   Đức Giêsu quan niệm thế nào mà nói hay hành động như vậy? Ngài coi điều gì quan trọng hơn điều gì?
·    Chi tiết những câu hỏi trên:
ü     Ai? (Who?)
   Những ai được bản văn nói tới?
   Họ là ai?
   Ai làm gì cho ai?
   Ai đúng? Ai sai?
ü     Gì? Nào? (What?)
   Trong những người ấy, mỗi người nói gì? làm gì?
   Phản ứng mỗi người thế nào?
ü     Ở đâu? Khi nào? (Where? When?)
   Câu chuyện, từng lời nói/hành động xảy ra ở đâu? khi nào?
   Từ đâu? Tới đâu? Từ khi nào? Tới lúc nào?
ü     Tại sao? (Why?)
   Tại sao họ nói/hành động/phản ứng như vậy?
   Nguyên nhân nào? Động lực nào thúc đẩy họ?
(Hỏi “tại sao” với từng lời nói, hành động, phản ứng của mỗi người)
ü     Làm sao? Thế nào? (How?)
   Cách thức họ nói/làm/đặt vấn đề?
   Mất bao lâu? Đi bao xa?
   Tới mức nào? Nghiêm trọng tới đâu?
ü      Đức Giêsu quan niệm thế nào mà nói/hành động như vậy?
   Đối với Ngài, điều gì là mục đích, điều gì là phương tiện? Điều gì là cốt yếu, điều gì là phụ thuộc? ([4])
   Ngài hành xử thế nào đối với những điều cần phải phân biệt như vậy? ([5])
   Ngài có quan niệm giống như người đồng thời với Ngài, với những người lãnh đạo tôn giáo thời Ngài không?
   Ngài quan niệm giống/khác ta ở chỗ nào?
   Giáo Hội và truyền thống của Giáo Hội có cùng quan niệm với Ngài không? Có cùng phân biệt điều quan trọng và điều phụ thuộc giống Ngài không?
   Các lý thuyết thần học, triết học, các mặc khải tư… có phản ánh đúng quan niệm của Ngài không?
c.    Kết luận rút được từ đoạn Kinh thánh này
ü     Về Đức Giêsu:
  Có khám phá ra điều gì về con người Đức Giêsu không?
  Có điều gì mới lạ về quan niệm của Đức Giêsu không?
  Có gì khác lạ trong cách phản ứng của Đức Giêsu không?
ü     Về những người khác:
  Có khám phá điều gì về bản chất con người của họ không?
  Tự đặt mình trong địa vị của từng người trong bản văn, ta sẽ phản ứng thế nào?

3)       Bước 3: Suy niệm (Thinking about)
Sau khi đã khảo sát và hiểu được ý nghĩa của bản văn Thánh Kinh, tôi có những suy nghĩ gì về ý nghĩa bản văn này? Nó có thể ảnh hưởng gì đến bản thân và cách sống của tôi? Hãy coi bản văn này như là chính Chúa gửi cho tôi, nói với tôi, chứ không phải cho ai hay với ai khác.
ü     Qua bản văn Kinh thánh này, Chúa muốn nói gì với tôi?
   Chúa muốn cho tôi bài học gì?
   Chúa muốn tôi phải coi trọng điều gì hơn điều gì?
ü     Tôi phải thay đổi thế nào để giống Chúa từ quan niệm, tâm tình đến hành động?
ü     Tôi có quyết tâm điều gì không? Nếu có, cụ thể là gì? Được thể hiện thế nào?

4)       Bước 4: Cầu nguyện (Praying)
Cầu nguyện ở đây không phải chỉ là xin xỏ Chúa điều này điều nọ, mà là cuộc đối thoại đầy tâm tình với Chúa, giữa hai người yêu nhau: Chúa yêu ta và ta yêu Chúa. Đối thoại chứ không phải độc thoại, nghĩa là chủ yếu ta lắng nghe tiếng Chúa nói qua bản văn Thánh Kinh và qua tiếng Ngài phát ra từ trái tim của ta. Và ta đáp lại tiếng Ngài với tâm tình tin tưởng, yêu thương, cảm phục, biết ơn, phó thác, sẵn sàng vâng theo ý Ngài. Hãy hỏi Ngài những gì ta còn thắc mắc, và lắng nghe Ngài giải đáp…
Điều kiện để có thể nghe được tiếng Ngài là tâm trí ta phải im lặng, không để cho chuyện này việc kia làm xao động. Do đó, phải dẹp hết tất cả mọi lo toan, tính toán. Nếu không dẹp được thì hãy đem những lo toan, tính ấy trình bày với Ngài để xin Ngài chỉ cho cách giải quyết theo tinh thần bản văn Kinh thánh ta vừa đọc và suy niệm.

5)       Bước 5: Chiêm niệm (Contemplating )
Chiêm niệm là:
– Ý thức thật rõ ràng Thiên Chúa hay Đức Giêsu đang hiện diện trong chính bản thân ta, vì bản thân ta chính là đền thờ sống động của Ngài (xem 2Cr 6,16; 1Cr 3,16; 1Cr 6,19); đồng thời cảm thấy ấm lòng, hạnh phúc vì điều ấy;
– Nhìn ngắm hình ảnh hay bản chất của Đức Giêsu (gồm tình yêu, quan niệm, cách suy nghĩ, cách phản ứng và hành động của Ngài), đồng thời mong ước và để Ngài in hình ảnh hay bản chất của Ngài vào con người của ta, biến ta trở nên giống Ngài, trở nên hình ảnh trung thực của Ngài (cũng yêu thương, cũng quan niệm, cũng suy nghĩ, cũng phản ứng và cũng hành động giống như Ngài, giống như con người của Ngài trong bản văn Thánh Kinh trên);
–   Bình thường, “cái tôi” của ta chiếm trọn bầu trời ý thức của ta, cái gì ta cũng quy về “cái tôi” của ta, coi “cái tôi” của ta là trung tâm của vũ trụ. Bây giờ, hãy thay thế “cái tôi” ấy của ta bằng con người của Đức Giêsu, để Ngài chiếm trọn bầu trời ý thức của ta. Hãy để Ngài làm chủ hữu thể của ta, toàn bộ con người ta chỉ là dụng cụ của Ngài, để ta có thể nói như thánh Phaolô: «Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20), và tương tự: «Tôi làm, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô làm trong tôi», «Tôi nói, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô nói trong tôi», v.v...

6)       Bước 6: Áp dụng vào đời sống (Applying in the life)
ü     Quyết tâm trở thành một con người mới giống Đức Giêsu
   Điều quan trọng và căn bản là thay đổi quan niệm giống như quan niệm của Đức Giêsu được tỏ lộ trong bản văn Kinh thánh vừa đọc, vừa suy niệm.
   Có thay đổi quan niệm giống như Ngài, ta mới suy nghĩ và hành động giống Ngài được.
ü     Nêu lên một thay đổi cụ thể về quan niệm cũng như hành động
   Chỉ cần quyết tâm thay đổi một điểm mà mình cho là quan trọng nhất, và tập trung vào điểm cần thay đổi đó.
   Đừng quyết tâm thay đổi nhiều điểm quá, cuối cùng ta chẳng thay đổi được gì cả.
   Nên nhớ rằng một điểm thay đổi thôi cũng đòi hỏi ta phải cố gắng hết mình mới thành công.




[1] “Thần khí” được nhắc tới rất nhiều trong Thánh Kinh. Có rất nhiều chỗ “Thần Khí” được viết hoa, có nghĩa là Thần Khí của Thiên Chúa, và thường được hiểu là Thánh Thần. Nhưng cũng có một số chỗ “thần khí” được viết thường, có nghĩa là “cái tâm”, “nội tâm”, “tinh thần”, như trong Ga 3,6; 4,22-24; 1Cr 12,10; 1Cr 15,44-46; Gl 4,29; Ep 1,17;  1Ga 4,2; Kh 1,4-6; 13,15; v.v… Có khi “thần khí” (viết thường) được hiểu theo nghĩa xấu, như Rm 11,8; 1Tm 4,1b; 2Tm 1,7a; 1Ga 4,1.3; Kh 16,14; v.v… Câu 1Ga 4,6 cho ta thấy có 2 loại “thần khí” (viết thường): tốt và xấu. Về thần khí xấu, có thể từ ma quỷ, chúng ta cần để ý hai câu của Thánh Phaolô và Gioan: «Thần khí phán rõ ràng: vào những thời cuối cùng, một số người sẽ bỏ đức tin mà theo những thần khí lừa dối và những giáo huấn của ma quỷ» (1Tm 4,1) và «Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian» (1Ga 4,1).
Thánh Gioan cho người thời của ngài một tiêu chuẩn để phân biệt thần khí thật và thần khí giả: «Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa; còn thần khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu, thì không bởi Thiên Chúa; đó là thần khí của tên phản Kitô. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi» (1Ga 4,2-3). Ngày nay, tiêu chuẩn để phân biệt này có thể hiểu là: thần khí nào nói và làm đúng theo quan niệm, tư tưởng, nói và hành động của Thiên Chúa được diễn tả trong Thánh Kinh, thì đó là thần khí thật đến từ Thiên Chúa. Ngược lại, thân khí nào đi ngược lại tinh thần của Kinh thánh, nhất là của Đức Giêsu trong Tân Ước, thì đó là thần khí giả.
[2]    «Chính chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa hằng sống» (2Cr 6,16);
     «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?» (1Cr 3,16);
     «Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em» (1Cr 6,19);
     «Tôi phải rao giảng lời của Người cho trọn vẹn, rao giảng mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại và qua bao thế hệ, nhưng nay đã được tỏ ra cho dân thánh của Thiên Chúa. Người đã muốn cho họ được biết mầu nhiệm này phong phú và hiển hách biết bao giữa các dân ngoại: đó là chính Đức Kitô đang ở trong anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang» (Cl 1,25-27).
[3]    «Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá (…) Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát» (Mt 7,24.26)
[4] Về điều cốt yếu và phụ thuộc, Đức Giêsu trách những người Pharisêu: «Khốn cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng! Các người bảo: “Ai chỉ Ðền Thờ mà thề, thì có thề cũng như không; còn ai chỉ vàng trong Ðền Thờ mà thề, thì bị ràng buộc”. Ðồ ngu si mù quáng! Thế thì vàng hay Ðền Thờ là nơi làm cho vàng nên của thánh, cái nào trọng hơn? Các người còn nói: “Ai chỉ bàn thờ mà thề, thì có thề cũng như không; nhưng ai chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề thì bị ràng buộc”. Ðồ mù quáng! Thế thì lễ vật hay bàn thờ là nơi làm cho lễ vật nên của thánh, cái nào trọng hơn?» (Mt 23,16-19).
[5] Khi trách những người Pharisêu, Đức Giêsu cho biết lập trường của Ngài về điều chính yếu và phụ thuộc thế nào: «Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công bình, nhân ái và thành thật. Phải làm các điều này mà không được bỏ các điều kia. Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà»


http://chiasethanhuu.blogspot.com/2016/08/noidung.html

Share:

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2016

Một thế hệ khủng hoảng tình yêu thương

Một thế hệ khủng hoảng tình yêu thương

Phan Thị Lan Phương

Nếu tôi nói rằng thế hệ chúng tôi thiếu vắng tình yêu thương và không biết cách yêu thương, hẳn nhiều người sẽ phản đối. Thế hệ chúng tôi, mỗi ngày đều có thể lên facebook tỏ tình, nhắn tin tỏ tình, gọi điện tỏ tình. Facebook của chúng tôi có hàng trăm bức ảnh về những con chó, con mèo bị đối xử tệ bạc, những đứa trẻ lòi ruột, sưng não, và bạn chỉ cần nhấn like thay cho 1 lời cầu nguyện. Dễ dàng lắm, nếu bạn đánh game thì bạn nhấp chuột 1 phút khoảng 60 lần. Bỏ ra 1 phút đánh game, bạn like được 60 lần. Thế hệ chúng tôi, thanh niên áo xanh đi làm tình nguyện, hoa hậu đi làm từ thiện, nghệ sĩ đi làm từ thiện, già trẻ lớn bé cứ rằm tháng 7 là đi chùa, làm thơ tặng mẹ, nhắc về cha nhân ngày lễ của cha. Nhưng thế hệ chúng tôi có thật sự được yêu thương và biết cách yêu thương hay không?

Khi ba mẹ tôi bằng tuổi chúng tôi bây giờ, đó là những năm tám mươi sau chiến tranh, khoai sắn còn không đủ ăn, đừng nói đến cơm. Lúc đó, họ chỉ biết cắm cúi đi làm, dốc hết sức lực để kiếm thức ăn cho năm đứa con. Những phút giây ngồi ôm con vào lòng, thủ thỉ với con vài lời thật hiếm hoi làm sao. Chúng tôi lớn lên với tình yêu thương thiếu thốn đó, có chút xíu nào cũng cất giữ, nín nhịn như cây kẹo hiếm hoi có được của ngày Tết. Không trách cha mẹ mình, nhưng chúng tôi vẫn luôn thèm những cử chỉ yêu thương, những lời nói ngọt ngào. Ba mẹ chúng tôi, mua một cân thịt, gói muối cũng phải đứng chầu chực, làm ruộng thì thiếu nước, bán buôn thì khó khăn, về đến nhà còn phải quần quật nuôi heo, trồng cà, có còn sức để lắng nghe chúng tôi đâu.

Khi chúng tôi lên trường, tình yêu thương lại càng thiếu vắng. Cô giáo cũng nghèo, cô giáo chỉ muốn nói chuyện với người giàu, cô giáo thích những đứa trẻ sạch sẽ, mặc áo đầm thơm mùi xà bông và biết nghe lời. Cô giáo không ưa những đứa trẻ rách rưới, đầu có chí, tính tình nghịch như con trai. Thầy giáo vừa đi làm vừa đi buôn, dạy xong là đạp xe ra ngoài chợ chở khoai đi bán. Không có ai lắng nghe chúng tôi cả. Đó là chưa kể xung quanh chúng tôi, ông hàng xóm, thầy giáo trưởng khoa của trường đại học, lúc nào cũng nhìn chúng tôi chằm chằm, sẵn sàng lao vào sờ mó, lạm dụng tình dục. Chúng tôi làm sao biết được có một thứ gọi là tình yêu thương đang tồn tại.

Và như thế, chúng tôi lớn lên lầm lũi như cây cỏ. Thế hệ chúng tôi được cho là may mắn khi vì chúng tôi lớn lên không bị xếp hàng mua thức ăn, không bị đi trại cải tạo, được đi học và số lần nhịn đói ít hơn hẳn. Chúng tôi đi học, kiếm việc làm, lập gia đình, mua nhà, gửi con đi học, đi bệnh viện chữa ung thư, chữa vô sinh. Chúng tôi học cách nín nhịn trước bất công. Bị cô giáo chửi mắng vì làm lộ chuyện cô ăn hối lộ. Chúng tôi im lặng. Bị chủ công ty lừa gạt, không trả tiền phát tờ rơi. Chúng tôi im lặng. Bị sếp quát mắng. Chúng tôi im lặng. Bị mất việc sau khi sinh con. Chúng tôi im lặng. Con đi học, bị cô giáo chèn ép. Chúng tôi im lặng + phong bì. Bị bác sĩ bỏ mặc khi sắp ngất. Chúng tôi run rẩy + phong bì + năn nỉ.

Nhưng khốn nạn thay, tình yêu thương khi bị dồn nén, bị chà đạp, bị coi rẻ lại bị biến thành bạo lực. Và rồi, chúng tôi bắt đầu quát tháo. Chúng tôi quát tháo cấp dưới khi mình có được chút quyền hành. Chúng tôi quát tháo con cái khi chúng đòi đi chơi mà chúng tôi thì thích đi nhậu. Chồng quát tháo vợ, vợ quát tháo chồng. Chúng tôi ngoại tình và chúng tôi luôn kể lể với người khác rằng vợ/ chồng chúng tôi không hiểu mình. Vào quán ăn, chúng tôi quát phục vụ. Bước ra đường, gặp bà bán phế liệu đi xe kềnh càng, chúng tôi quát bà bán phế liệu… Chúng tôi có khả năng luồn cúi trước bạo quyền, trước bất công, trước kẻ giàu và kẻ mạnh nhưng thừa năng lượng để quát tất cả những ai thấp cổ bé họng hơn mình.

Yêu thương kẻ khác mà phương hại đến mình thì đúng là khó. Thế nhưng chúng tôi còn bế tắc hơn nữa trong việc yêu thương chính mình. Chúng tôi không dám ăn mặc khác mọi người khi ra đường. Chúng tôi mệt mỏi nhưng không thể không mua nhà để phải trả lãi vay hằng tháng. Chúng tôi phải ăn và phải nhận hối lộ dù chúng tôi cũng muốn được tôn trọng và tôn trọng pháp luật. Chúng tôi không có thời gian để chờ 50 giây đèn đỏ, chúng tôi cần phải đến quán nhậu với đồng nghiệp, với sếp, với bồ bịch. Chúng tôi cần mọi người thấy mình tồn tại. Hơn thế nữa, chúng tôi cần họ thấy mình tồn tại một cách sang giàu như bao nhiêu người khác. Sang giàu làm chúng tôi thấy an toàn, và chúng tôi thoát khỏi ám ảnh mình bị bỏ rơi và không được yêu thương. Tình yêu thương trong chúng tôi như một khoảng trống không đáy, không thể nhận lấy được và cũng không có gì để cho kẻ khác.

Vậy nên, nếu mọi người mong chờ chúng tôi những lời sẻ chia với sự bất hạnh của những kẻ nghèo hèn, lên tiếng cho sự bất công mà dân oan mất đất phải chịu, lên tiếng cho sự chà đạp nhân phẩm, nhân quyền của sinh viên Phương Uyên, của nhạc sĩ Việt Khang, Anh Bình, của các blogger đang bị tù ngục, thì hẳn quí vị sẽ nhận lại sự thất vọng.

Nếu muốn khác đi, chúng tôi phải học lại từ đầu. Học cách lên tiếng trước trò hối lộ của cô giáo vụ mà không sợ bị đuổi học. Học cách tố cáo thầy giáo, hàng xóm lạm dụng tình dục. Học cách dạy dỗ con mình không cần phải đứng nhất lớp, không cần giấy khen. Học cách kêu gọi trách nhiệm, lương tâm của người thầy thuốc thay vì xin xỏ.

Chúng tôi sẽ học cách chơi với con cái. Đàn ông sẽ học cách rửa chén cho vợ. Đàn bà sẽ học cách hỏi han chồng mỗi khi từ công sở về nhà. Học cách ôm bạn đời mình thật chặt khi họ mệt mỏi và bực bội. Học cách lắng nghe con cái kể về con sâu trên lá cây bàng trước sân trường.

Học cách cảm ơn người phục vụ ở quán ăn và nói nhẹ nhàng: “em giữ lại tiền thối nhé!” Học cách sống tự do và chọn lựa điều mình ưa thích. Học cách tôn trọng tự do của kẻ khác. Học cách sống chan hoà với động vật. Học cách cảm thông, thấu hiểu và yêu thương người nghèo hèn. Học cách trò chuyện với một cô gái điếm thay vì phán xét. Học cách cầu chúc bình an và rời xa cám dỗ cho những người nghiện ngoài công viên. Học cách nói lời yêu thương với mọi người một cách chân thành. Để lúc đó, khoảng trống yêu thương trong mỗi người chúng tôi đóng lại, cho mỗi hạt yêu thương gieo xuống được lớn lên.

Và như vậy, sẽ đến lúc việc lên tiếng bảo vệ em Phương Uyên nhỏ bé, kêu gọi trả tự do cho các blogger, trả lại công bằng cho những người dân oan… sẽ không còn là chuyện của một vài người. Và chỉ đến lúc đó, những người dân phòng, thanh tra xây dựng, cảnh sát cơ động, mật vụ thường phục… mới biết cúi đầu, xấu hổ và nhục nhã vì đã bẻ quặt tay những người biểu tình, đã hành hung những người lên tiếng cho công lí, đã trả lời nhân dân bằng dùi cui và súng đạn.


Phan Thị Lan Phương


Chính trị − Văn hóa − Xã hội
Share: