Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

TN25 - Đổi tài sản chóng qua lấy tài sản vĩnh cửu


CHIA SẺ TIN MỪNG



Chúa Nhật thứ 25 Thường Niên
 (18-9-2016)


Đổi tài sản chóng qua lấy tài sản vĩnh cửu


ĐỌC LỜI CHÚA

·        Am 8,4-7: (4) Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. (7b) Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng. 

·        1 Tm 2,1-8: (4) Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. (5)Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, (6) Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người. 


·    TIN MỪNG : Lc 16,1-13

Dụ ngôn người quản gia bất lương

 (1) Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: «Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. (2) Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: “Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!” (3) Người quản gia liền nghĩ bụng: “Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. (4) Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!”

 (5) «Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?” (6) Người ấy đáp: “Một trăm thùng dầu ô-liu”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi”. (7) Rồi anh ta hỏi người khác: “Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?” Người ấy đáp: “Một ngàn giạ lúa”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi”. 

 (8) «Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. 

 Trung tín trong việc sử dụng tiền của

 (9) «Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. (10) Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. (11) Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? (12) Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?

 (13) «Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được». 



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.       Bạn nghĩ gì về một người nghèo được người ta đồng ý cho «đổi giấy lấy tiền» (cứ một tờ giấy thường nhỏ lấy một tờ giấy bạc 10.000đ, hay 50.000đ VN, hoặc lấy tờ 10 hay 50 USD), mà lại không chịu đổi, cứ nhất định khư khư giữ lại những tờ giấy ít giá trị cho mình? Bạn có bao giờ nghĩ mình cũng đang làm tương tự như thế trên bình diện tâm linh không?

2.       Một người thường tỏ ra bất tín trong chuyện tiền bạc, hay lỗi hẹn, hay thất hứa, v.v… thì bạn có dám giao cho họ một công việc gì lớn không? Tại sao? Bạn có những kinh nghiệm nào cụ thể về việc này?


Suy tư gợi ý:

1.   Theo khôn ngoan thế gian, phải biết lo liệu trước tương lai

Ta thử đặt mình vào địa vị tên quản gia bất lương kia để xem mình nên làm gì hầu «sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ». Nếu không lo liệu trước, thì coi chừng chết đói, vì ngoài chức quản gia ra, anh ta chẳng biết làm gì khác để sinh sống, «cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi». Tốt nhất là nên lợi dụng ngay quyền hạn của chức quản gia mà mình còn giữ được trong thời gian ngắn ngủi một tuần hay một tháng này để lo liệu chuyện đó. Bây giờ cần phải đầu tư tình cảm nơi mọi người. Cách tốt nhất và hữu hiệu nhất để gây tình cảm là lợi dụng chức quản gia để làm ơn cho họ. Anh ta nghĩ: ông chủ có rất nhiều con nợ, mình giảm nợ cho họ tất nhiên họ phải mang ơn mình, có tình cảm với mình, nhờ đó, khi mình thất nghiệp, họ sẽ tôn trọng và giúp đỡ mình. Thế là «anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?” (6) Người ấy đáp: “Một trăm thùng dầu ô-liu”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi”. (7) Rồi anh ta hỏi người khác: “Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?” Người ấy đáp: “Một ngàn giạ lúa”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi”».

Như thế, anh ta đã dùng những tiền của không phải của mình để làm lợi cho mình: dùng tiền của của người khác do mình tạm thời quản lý để mua lấy tương lai cho mình về sau. Nhân câu chuyện này, Đức Giêsu khuyên chúng ta: «Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu». Điều ấy có ý nghĩa gì? Cần phải hiểu câu nói của Đức Giêsu thế nào?

2. Áp dụng sự khôn ngoan ấy vào việc lo hạnh phúc vĩnh cửu

Chúng ta ai nấy đều có một thời gian rất ngắn ngủi ở trần gian này trước khi bước vào đời sống vĩnh cửu đời sau. So với đời sống mai hậu, đời sống này rất là ngắn ngủi trong đó mọi sự đều chóng qua, giả tạm, không bền. Thật vậy, tất cả mọi sự ta đang có trong tay – trí tuệ, khôn ngoan, sức khỏe, cha mẹ, vợ con, anh em, nhà cửa, ruộng vườn, của cải, v.v… – có thể mất đi bất cứ lúc nào. Chỉ một cơn bệnh nặng hay một tai nạn ở đầu có thể làm ta mất hết trí tuệ, sức khỏe, làm ta điên loạn, không còn biết gì. Một cuộc đổi đời có thể làm ta mất hết địa vị, quyền lực và tiền bạc. Như thế tất cả những gì ta đang có trong tay, dù là tinh thần hay vật chất, đều không phải là của ta, mà chỉ để ta quản lý một thời gian thôi. Ta chỉ quản lý nó nhiều lắm là 100 năm ở đời này. 100 năm đó so với sự hiện hữu vĩnh cửu của ta thì cũng tương tự như một phút so với cả cuộc đời trần thế của ta. Tới khi chết, tất cả những của cải ta đang quản lý, dù nhiều tới đâu, cũng đều phải để lại cho người khác quản lý, và ra đi với hai bàn tay trắng. Chỉ những gì ta có được ở đời sau, mới là của ta đích thật, nó sẽ ở với ta mãi mãi.

Tuy nhiên, một điều rất lạ lùng và hết sức đáng mừng là ta có thể dùng những thứ giả tạm chóng qua mà ta đang quản lý ở đời này để tạo nên của cải đích thực và vĩnh cửu cho ta ở đời sau. Vì thế, xét về mặt này, hoàn cảnh của ta giống y hệt hoàn cảnh của viên quản lý trong dụ ngôn của Đức Giêsu. Vậy thì dại gì ta cứ giữ khư khư lấy những của giả tạm đó cho mình, mà không lợi dụng thời gian quản lý quí báu những của cải ấy để mua sắm lấy Nước Trời, tức hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của mình. Vì thế, những kẻ chỉ lo làm giàu ở đời này mà không màng đến việc lo liệu cho hạnh phúc đời sau, thì đúng là bỏ mất những cơ hội hết sức quí báu để «đổi giấy lấy tiền». Cơ hội này mất đi sẽ không bao giờ trở lại.

Người quản lý trong dụ ngôn đã dùng tiền mà mình đang quản lý để làm ơn làm phúc cho người này người nọ, nhờ đó khi không còn quản lý nữa, ông vẫn được người khác quí trọng, tiếp đón, hậu đãi. Đức Giêsu khuyên chúng ta cũng nên «dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu». Nghĩa là hãy dùng những của cải tạm bợ – tinh thần cũng như vật chất – mà Chúa trao cho ta quản lý, để sắm lấy những của cải vĩnh viễn trên trời. Bằng cách nào? bằng cách sử dụng những của cải ấy để thực hiện những hành động yêu thương: gây hạnh phúc hay làm lợi cho tha nhân, làng xóm, xứ đạo, quê hương đất nước, xã hội, Giáo Hội… Ta có thể dùng tiền của, tài năng, trí tuệ của mình – vốn giả tạm, chóng qua, nay còn mai mất  – để đầu tư cho sự hạnh phúc của tha nhân, sự phát triển của xã hội, sự thánh thiện của Giáo Hội, v.v… Nhờ vậy, tự nhiên ta có một kho tàng vĩnh cửu không thể hư mất ở trên trời. Như thế chẳng phải là ta đã «đổi giấy lấy tiền», «đổi đồ giả lấy đồ thật» sao? Vậy dại gì mà không đổi?

3. Hãy trung tín trong mọi việc hằng ngày

Đã là người, ai cũng muốn mình trở thành người có giá trị, được mọi người tín nhiệm. Sự tín nhiệm và giá trị của ta một phần nào được đo bằng việc người khác có dám giao cho ta đảm trách những việc lớn lao hay không. Nhưng làm sao người khác có thể dám giao cho ta việc lớn, khi họ thấy ngay cả việc nhỏ ta cũng không chu toàn được? Đức Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc: «Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn». Sự khôn ngoan đòi buộc người ta, khi giao việc cho ai mà muốn thành công, thì phải thử xem người ấy có đủ khả năng và đức độ để chu toàn việc ấy không. Đức độ và khả năng là hai yếu tố quan trọng để căn cứ vào đó mà tín nhiệm một người. Nói về việc thử người, trong dân gian có câu: «Lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử đàn bà, và lấy đàn bà thử đàn ông». Tôi nghĩ câu ấy cũng rất chí lý.

Riêng tôi, theo kinh nghiệm cá nhân rất hạn hẹp của tôi thì chỉ nên tín nhiệm những ai tỏ ra trung tín trong việc sử dụng tiền bạc hoặc của cải của người khác. Và đó cũng là điều Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay: «Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính [1], thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?» Kinh nghiệm hạn hẹp của tôi cho thấy người nào không trung tín trong chuyện tiền bạc, của cải vật chất, thì cũng thường– tôi chỉ dám nói «thường» mặc dù tôi chưa thấy có luật trừ – không trung tín hay không đáng tín nhiệm trong những chuyện khác. Còn ai trung tín trong chuyện tiền bạc, của cải vật chất, thì cũng thườngtrung tín hay đáng tín nhiệm trong những việc khác. Theo quan niệm của tôi, một người không giữ được sự công bằng – dù về tinh thần hay vật chất – thì cũng khó có thể là một người bác ái đích thật hay một người thánh thiện được.

Vậy, ta không nên sợ rằng mình không được tín nhiệm, mà hãy sợ rằng ta chưa có thái độ đúng đắn trong những việc nhỏ, trong sự công bằng, trong cách sử dụng tiền bạc hay của cải không phải là của mình.



[1]    «Tiền của bất chính» ở đây nên hiểu là tiền của giả tạm, chóng qua ở đời này, mà ta chỉ là người quản lý chứ không phải là chủ. Nó trở nên «bất chính» khi ta tự coi mình là chủ nhân và sử dụng nó hoàn toàn theo ý mình, chứ không phải theo ý của chủ nhân đích thực là Thiên Chúa.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng mọi sự con có trong tay, dù là tinh thần hay vật chất, không phải là của con mà là của Cha. Cha giao cho con quản lý chứ không phải làm chủ. Con phải sử dụng chúng theo ý Cha chứ không phải theo ý con. Xin cho con biết sử dụng những thứ Cha giao cho con quản lý để tạo nên kho tàng vĩnh viễn cho con ở trên trời. Xin cho con biết trung tín trong mọi việc nhỏ nhặt của đời sống thường ngày, để con đáng được Cha và mọi người tín nhiệm trong những việc lớn lao hơn.                                                                           

(Nguyễn Chính Kết)
Share:

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2016

TN24 - Tình yêu đòi hỏi ta cứu người tội lỗi chứ không phải xa lánh họ


CHIA SẺ TIN MỪNG



Chúa Nhật thứ 24 Thường Niên
 (11-9-2016)


Tình yêu đòi hỏi ta cứu người tội lỗi 
chứ không phải xa lánh họ



ĐỌC LỜI CHÚA

·  Xh 32,7-11.13-14: (11) Ông Môsê thưa với Chúa: «Lạy Chúa, sao Ngài lại nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã đưa ra khỏi đất Aicập». (14) Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe.

·  1Tm 1,12-17: (15) Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi.


·    TIN MỪNG : 15,1-32 (bài dài) hoặc 15,1-10 (bài ngắn)
Xin chia sẻ về bài ngắn:

Những dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa

 (1) Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. (2) Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: «Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng». (3) Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này:

 Dụ ngôn con chiên bị mất

 (4) «Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? (5) Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. (6) Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: «Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó». (7) Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn».

Dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất

 (8) «Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? (9) Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: «Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất». (10) Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối».


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.   Đối với Đức Giêsu, sự thánh thiện chủ yếu hệ tại điều gì? tại tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân? hay tại sự trong sạch, vô tội? hay tại vô số những nhân đức con người có được?

2.   Đối với người tội lỗi, ta nên làm theo đòi hỏi của tình yêu là phải gần gũi để cảm hóa họ, hay theo đòi hỏi của sự thánh thiện là phải xa lánh họ để khỏi bị ô uế và bị mất uy tín?

3.   Tại sao một người tội lỗi ăn năn sám hối thì làm cho các thiên thần trên thiên đàng vui mừng hơn là thấy 99 người công chính không cần sám hối ăn năn?


Suy tư gợi ý:

1.   Sự thánh thiện cốt ở tình yêu nhiều hơn ở sự trong sạch hay nhân đức

Đọc bài Tin Mừng, ta thấy thái độ của Đức Giêsu, một người hết sức thánh thiện, lại có một thái độ sống rất hòa đồng với những người tội lỗi. Còn những người Pharisêu, ta thấy họ luôn luôn quan tâm giữ những luật lệ về sự «thanh sạch» mà Cựu ước đề cập đến rải rác ở nhiều nơi, đặc biệt ở sách Lêvi các đoạn từ 11 đến 16. Họ xa lánh những vật mà Cựu ước cho là ô uế một cách nhiệm nhặt và chi tiết hơn cả chính luật lệ đòi hỏi nữa. Họ nghĩ rằng càng giữ nhiệm nhặt những luật đó, thì họ càng trở nên thánh thiện trước mặt Thiên Chúa. Và vì dân chúng được họ dạy như thế nên cũng nghĩ như thế. Do đó, khi họ càng giữ luật đó nhiệm nhặt bao nhiêu, thì họ càng được mọi người ca tụng là thánh thiện bấy nhiêu. Và càng được tiếng là thánh thiện thì họ càng phải tránh giao tiếp với những người tội lỗi hầu giữ được tiếng tốt ấy.

Nhưng Đức Giêsu không suy nghĩ và hành động như họ. Trong khi họ lấy việc giữ luật và việc cử hành những nghi thức tôn giáo bề ngoài làm chuẩn mực quan trọng của sự thánh thiện, thì Đức Giêsu lại rất coi thường chuẩn mực ấy. Ngài coi tình yêu đối với mọi người và lòng khoan dung đối với người tội lỗi mới là chuẩn mực và là cốt yếu của sự thánh thiện. Vì cốt tủy của thánh thiện là nên giống như Thiên Chúa, nguồn mạch thánh thiện. Mà để giống Thiên Chúa thì điều cốt yếu nhất là phải giống bản chất của Ngài là tình yêu. Vì theo định nghĩa của Thánh Kinh thì «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16) chứ không phải là bất kỳ điều gì khác. Ngài thì vô cùng quyền năng, Ngài thì vô cùng thanh sạch, v.v… nhưng dù vậy, Ngài không là quyền năng, không là thanh sạch, v.v… mà tình yêu.

Vì thế, cho dù giống Ngài ở trong đủ mọi phẩm chất khác, mà không hề giống Ngài ở tình yêu, thì không phải là thánh thiện. Người nào trong sạch như thiên thần, hay có đủ mọi nhân đức nhưng lại không có tình yêu, người ấy không phải là người thánh thiện, vì cốt tủy của người ấy không giống Thiên Chúa. Còn những người tuy ít nhân đức, tuy còn ít nhiều tội lỗi, nhưng lại có nhiều tình yêu, thì người ấy giống Thiên Chúa hơn. Thật vậy, trước mặt Thiên Chúa, một người thu thuế bị mang tiếng là tội lỗi nhưng có tình yêu và lòng khiêm nhượng vẫn có thể thánh thiện hơn một người Pharisêu hằng được mọi người nể phục vì sống trong sạch và giữ luật hết sức nhiệm nhặt nhưng lại thiếu tình yêu và lòng khiêm nhượng. Điều này được Đức Giêsu nói rõ ràng trong “Dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện” (Lc 18,9-14). Do đó, là người theo Chúa, ta nên biết điều chủ yếu phải bắt chước Thiên Chúa là điều gì. Nếu không, việc theo Chúa của ta chỉ là «công dã tràng» (xin xem thêm: 1Cr 13,2-3; Mt 7,21-23; 25,31-46).

2.   Tình yêu đòi hỏi chúng ta cứu người tội lỗi chứ không phải xa lánh họ

Quan niệm của Đức Giêsu như thế, nên Ngài không ngần ngại đến với những người tội lỗi, hòa mình với họ để có thể cảm hóa họ. Đối với Ngài, dù họ tội lỗi đến đâu, họ cũng là «con cháu tổ phụ Ápraham» cả (Lc 19,9; x.13,16), nên họ cần được cứu khỏi tình trạng tội lỗi ấy. Mà muốn cứu họ thì không thể cứ xa lánh họ như chủ trương của những người Pharisêu, mà phải đến gần họ, tiếp xúc với họ, sống chan hòa với họ, để họ cảm nghiệm được mình thương yêu họ. Họ có cảm được mình yêu thương họ thì họ mới chịu nghe và thực hành những điều hay lẽ phải mình giãi bày. Còn tỏ ra khinh bỉ và xa lánh họ thì chỉ khiến họ xa mình và đẩy họ vào con đường tội lỗi hơn. Đối với Ngài, điều quan trọng là cứu họ chứ không phải là giữ luật về sự «thanh sạch» của Môsê. Tình yêu chân thật đòi buộc phải nghĩ như thế! Giao du với những người tội lỗi này, Ngài đành phải chấp nhận Ngài bị mất uy tín – thứ uy tín giả tạo và phi lý – trước mặt những người Pharisêu và giới lãnh đạo tôn giáo, khiến họ trách móc Ngài.

Ngài đã dạy các môn đệ: «Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em» (Lc 6,27-38). Kẻ thù hay kẻ đang làm hại mình mà mình cũng phải yêu thương, huống gì những anh chị em mình đang lầm lỡ, yếu đuối, lạc đường và đang tiến về vực thẳm…! Chính Thiên Chúa và Đức Giêsu đã làm gương này cho chúng ta. Thánh Phaolô viết: «Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ hoằn lắm có người dám chết vì một người lương thiện. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta» (Rm 5,7-8). Nếu Thiên Chúa nại vào sự thánh thiện của Ngài mà xa tránh và khinh bỉ những người tội lỗi, thì số phận của loài người chúng ta hiện nay ra sao? Ta thánh thiện được bao nhiêu mà lại tự hào về sự thánh thiện ấy để xa tránh anh chị em tội lỗi của mình? Tình yêu đã khiến Đức Giêsu bất chấp sự thánh thiện của mình để đến hòa mình với nhân loại tội lỗi. Thiên Chúa đã coi tình yêu quan trọng hơn danh tiếng thánh thiện của Ngài, và chính vì thế mà Ngài mới đúng là thánh thiện. Vì sự thánh thiện hệ tại tình yêu hơn là hệ tại sự trong sạch hay hệ tại có được vô vàn nhân đức! Dường như Đức Giêsu không hề dị ứng với những người tội lỗi, mà chỉ dị ứng – thậm chí rất dị ứng – với những người mang danh đạo đức mà lại kiêu ngạo, tự mãn, ích kỷ, thiếu tình thương, thích bắt bẻ, khinh bỉ và kết án người khác (x. Mt 12,1-14; Ga 9,40-41; Mt 23,1-36; v.v…).

3.   Giá trị của một người tội lỗi ăn năn trở lại

Đức Giêsu hỏi những người Pharisêu: «Người nào trong các ôngcó một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?» Câu hỏi ấy của Đức Giêsu với những từ «Người nào trong các ông… lại không…» cho thấy việc bỏ lại 99 con chiên không bị lạc để đi kiếm con chiên lạc, là một cách hành xử thường tình của con người. Ngữ cảnh của đoạn văn này khiến ta phải hiểu là người chăn chiên đã phải lo cho 99 con còn lại ở một nơi an toàn có người khác canh giữ trước khi ra đi tìm con chiên lạc. Chứ Đức Giêsu không phải là người không biết tính toán: chỉ tìm có một con chiên lạc mà liều để mặc cho 99 con kia ra sao thì ra! Hiểu theo cách ấy xem ra không đạt lý! Tuy nhiên, điều đáng cho ta suy nghĩ và thắc mắc tìm hiểu là câu kết luận của Đức Giêsu: «Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn». Tại sao lại có vẻ nghịch lý như vậy?

Thường thì người tội lỗi nào thật sự ăn năn trở lại – nghĩa là quyết định dứt khoát không quay về con đường cũ tội lỗi nữa – thì cũng đều có một giá trị rất lớn trước mặt Thiên Chúa mà những người thánh thiện khác ít có được:

– Họ đã có một quá khứ tội lỗi, nên họ không bao giờ dám tự hào về bản thân mình. Nhờ đó họ dễ khiêm nhường sâu xa hơn, mà khiêm nhường lại chính là nền tảng vững chắc của sự thánh thiện.

– Họ đã kinh nghiệm được sự yếu đuối và mỏng dòn của con người, nên họ dễ thông cảm sâu xa với những người yếu đuối, tội lỗi khác. Sự thông cảm này khiến họ bao dung và yêu thương người tội lỗi hơn. Nên sự cảm thông này là một giá trị lớn trước mặt Thiên Chúa. Và một khi họ đã trở nên thánh thiện, họ cũng dễ dàng cảm hóa được người tội lỗi hơn nhờ kinh nghiệm trở lại của họ.

– Trong quá khứ, họ càng phạm tội nhiều thì khi được Thiên Chúa tha tội, họ càng cảm nghiệm được tình thương của Thiên Chúa nhiều hơn, và do đó họ yêu mến Thiên Chúa nhiều hơn: «Ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít» (x. Lc 7,36-50).

– Đối với trần gian, những người tội lỗi quay trở về thường có nhiều kinh nghiệm về cuộc đời, nhất là về mặt trái của nó. Do đó, họ thường có một sự khôn ngoan nào đó mà người chưa từng phạm tội không có được.

Nếu họ thật sự quay trở về và yêu mến Thiên Chúa, Ngài có thể biến chính quá khứ tội lỗi của họ trở thành một giá trị đem lại lợi ích lớn lao cho chính họ và cho người khác (x. Rm 8,28). Đó là nhờ tình yêu họ có được đối với Thiên Chúa và sự cảm thông và yêu thương đối với đồng loại.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu đã yêu mến và quyết tâm cứu những người tội lỗi biết bao! Xin cho con biết yêu mến và cảm thông với những anh chị em con đang sống tội lỗi vì chính con cũng đã từng phạm tội như họ, đồng thời tìm đủ mọi cách đem họ về đường ngay nẻo chính. Thánh Giacôbê nói: «Kẻ nào làm cho một tội nhân bỏ đường lầm lạc mà trở về, thì cứu được linh hồn ấy khỏi chết và che lấp được muôn vàn tội lỗi của mình» (Gc 5,20). Xin Cha hãy vì tình yêu con dành cho những người tội lỗi mà tha thứ tội lỗi cho con.                                                                           

(Nguyễn Chính Kết)
Share:

TN24 - Tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 24 Thường Niên
(11-9-2016)

Tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi


ĐỌC LỜI CHÚA

·    Xh 32,7-11.13-14 : (7) Đức Chúa phán với ông Mô-sê : «Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai-cập. (8) (Mô-sê thưa:) (12b) Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài. (14) Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe.

·    1 Tm 1,12-17 : (13) Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin.

·    TIN MỪNG : 15,1-32 (bài dài) hoặc 15,1-10 (bài ngắn)
Xin chia sẻ về đoạn sau (Lc 15,11-32) của bài dài:


Dụ ngôn người cha nhân hậu

(11) Khi ấy, Đức Giêsu nói: «Một người kia có hai con trai. (12)Người con thứ nói với cha rằng : “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.” Và người cha đã chia của cải cho hai con. (13) Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.

 (14) «Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, (15) nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. (16) Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. (17) Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ : “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói ! (18) Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người : “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, (19) chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.”

 (20) «Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha. Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. (21) Bấy giờ người con nói rằng : “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa ...” (22) Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng : “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, (23) rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! (24) Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.” Và họ bắt đầu ăn mừng.

 (25) «Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, (26) liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. (27) Người ấy trả lời : “Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.” (28) Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. (29) Cậu trả lời cha : “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. (30)Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng !”

 (31) «Nhưng người cha nói với anh ta : “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. (32)Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy».


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý :

1.   Bình thường, cha mẹ có còn yêu thương con cái khi chúng bất hiếu hay tệ bạc với mình không? Tại sao? Thái độ của Thiên Chúa thế nào?

2.   Giữa hai thái độ: tha thứ và kết án, thái độ nào là thái độ của bậc cha mẹ? thái độ nào có tác dụng làm người tội lỗi trở lại với đường ngay nẻo chính hơn? Những người lãnh đạo trong Giáo Hội, trong các hội đoàn nên có thái độ nào?

Suy tư gợi ý :

1.  Thiên Chúa là người Cha đầy tình thương, sẵn sàng thông cảm và tha thứ cho con cái tất cả mọi lỗi lầm

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu dùng một hình ảnh, một câu chuyện cụ thể để mô tả chân dung của Thiên Chúa, vừa là Cha chung của toàn thể nhân loại, vừa là Cha của mỗi người chúng ta. Trong chân dung ấy, có hai đặc tính nổi bật: tình thương vô hạn và sự tha thứ vô điều kiện.

a.   Tình thương vô hạn của Thiên Chúa: Thiên Chúa được Đức Giêsu mạc khải là một người Cha (chắc hẳn nếu phải nói về Thiên Chúa trong một nền văn hóa mẫu hệ thì Ngài sẽ mạc khải Thiên Chúa là một người Mẹ). Cha mẹ nào mà chẳng thương yêu con cái bằng một tình thương tự nhiên, vô điều kiện, nghĩa là bất chấp con cái tốt xấu, hay dở, có lợi hay gây hại cho mình, bất chấp cả việc chúng đối xử tệ bạc với mình tới đâu. Tình thương đích thực luôn luôn tự động biểu lộ thành hành động. Bản chất của tình thương là như thế, nếu không như thế thì không phải là tình thương đích thực. Tình thương không biểu lộ thành hành động chỉ là tình thương ngoài môi miệng (x. Gc 2,16.26). Và hai cách biểu lộ rõ rệt nhất của tình thương là: ­(1) sự tha thứ vô điều kiện, và (2) sẵn sàng chấp nhận đau khổ hoặc chết cho người mình yêu thương. Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người đã được biểu lộ qua cả hai cách ấy nơi con người Đức Ki-tô: «Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là người tội lỗi. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta» (Rm 5,7).

b.   Sự tha thứ vô điều kiện của Thiên Chúa: Trong dụ ngôn bài Tin Mừng hôm nay, người con hoang đàng đã đối xử thật tệ bạc với cha, đã rời bỏ cha mẹ mình để đi hoang, không còn biết nghĩ đến nỗi cô đơn, thương nhớ và đau khổ của cha mẹ khi mình bỏ đi, lại còn tiêu tán hết gia sản cha mẹ dành cho mình. Thế mà khi đứa con bội bạc ấy trở về, thái độ của người cha là: khi «anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để» và ngay tức khắc ra lệnh cho «các đầy tớ: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!». Ông làm như đứa con ấy chưa hề phạm một lỗi nhỏ nào đối với mình. Tội lỗi của đứa con hết sức to lớn nhưng ông làm như không nhìn thấy, chỉ nhìn thấy nó đã trở lại với mình, như thể nó «đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy». Tình thương, lòng tha thứ và quảng đại chỉ có thể biểu lộ đến thế là cùng.

Chúng ta đã từng nghe nói có biết bao cha mẹ đã đến thăm nuôi đứa con tệ bạc và bất hiếu với mình hiện đang bị tù đày, bất chấp xa xôi, hiểm nguy hay trước đó nó đã làm phiền lòng mình tới đâu. Cho dù cha mẹ đó có là phường xấu xa trộm cướp, cũng vẫn có thể đối xử tốt với đứa con tệ bạc của mình như vậy. Có thế mới là bậc cha mẹ! Có nghĩ như thế, ta mới thấy được ý nghĩa vô cùng sâu xa khi Đức Giêsu mạc khải cho ta biết Thiên Chúa là Cha Mẹ của chúng ta. Tình thương đầy khiếm khuyết của cha mẹ trần gian còn như thế, huống gì tình thương hoàn hảo của Thiên Chúa! Ngài đã được thánh Gioan định nghĩa là Tình Thương (x. 1 Ga 4,7-8), một tình thương vô hạn của bản tính Thiên Chúa, nên sự tha thứ của Ngài cũng vô hạn. Đây quả là một thông tin hết sức vui mừng và vô cùng quí báu cho tất cả mọi con người, vốn yếu đuối và đầy lầm lỗi!

2.  Hãy tin tưởng vào tình thương và sự tha thứ vô bờ bến của Thiên Chúa

Động lực nào đã làm cho đứa con quay trở về nhà mình? Chắc chắn không phải vì thương cha mình, mà vì sự khốn khổ nó đang phải chịu do sự ngu xuẩn và bất hiếu của nó. Tóm lại, nó về là vì nó thương bản thân nó hơn là thương cha. Chắc chắn khi thấy nó trở về với «thân tàn ma dại», cha nó cũng biết nó về vì động lực gì. Nhưng đối với ông, điều ấy không quan trọng. Điều quan trọng là nó đã trở về, vì nó tưởng như «đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy». Động lực khiến người cha tha thứ và vui mừng đón nhận nó trở về hoàn toàn vì yêu thương con, vì muốn cho nó hạnh phúc, bất chấp quá khứ lầm lỗi của nó.

Đó cũng chính là tâm tình của Thiên Chúa đối với những người con tội lỗi. Chỉ cần người tội lỗi quay trở về với Thiên Chúa và nói lên lời hối hận: «Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa...», thì lập tức trước mặt Thiên Chúa, họ trở thành người vô tội, trở thành con cái trong nhà, được yêu thương, bảo vệ, được hưởng mọi quyền lợi của một người con y như trước. Vì thế, dù ta có phạm một tội tầy đình, nếu ta biết trở về với Chúa, Ngài sẽ tha thứ tất cả, và coi ta như con cái hiếu thảo trong nhà.

Mẹ Giáo Hội của chúng ta đã từng có những hành vi như thế. Chẳng hạn, Âu-Tinh, một thanh niên đã từng sống trụy lạc, ăn chơi, và có những đứa con rơi rớt không kém gì đứa con hoang đàng trong Tin Mừng. Thế mà khi trở về với Giáo Hội, Giáo Hội đã mở rộng vòng tay đón nhận. Sự đón nhận trở nên hoàn toàn khi Giáo Hội chấp nhận chàng vào tu viện, và khi thấy chàng xứng đáng, đã phong chức giám mục cho chàng. Nhờ sự tha thứ quảng đại ấy của Giáo Hội, Âu-Tinh đã trở nên một vị thánh. Giáo Hội xưa là như thế, Giáo Hội ngày nay thì sao? Thiết tưởng Giáo Hội không nên quá chú trọng đến vấn đề lý lịch hay quá khứ của những người muốn trở về với Thiên Chúa và với Giáo Hội. Chúng ta không nên lấy cớ khôn ngoan để hành xử giống như những thế lực trần gian. Đức Giêsu đã trao cho Giáo Hội quyền tha và buộc (x. Mt 16,19; 18,18), thiết tưởng Giáo Hội nên tha nhiều hơn là buộc, nên có thái độ của bậc cha mẹ yêu thương con cái hơn là thái độ của các quan tòa. Các bậc làm cha mẹ cũng cần có thái độ quảng đại như thế đối với những đứa con hư hỏng. Đọc Tin Mừng, tôi chỉ thấy Đức Giêsu kết án có một loại người duy nhất là bọn kinh sư và biệt phái giả hình hoặc các tiên tri giả mà thôi!

Người con hoang đàng sẽ không dám quay trở về khi đoán rằng cha mẹ mình sẽ không tha thứ, sẽ ruồng rẫy nó khi nó trở về. Nếu biết như thế thì trở về làm gì? Vì thế, nếu cha mẹ vẫn luôn luôn tỏ thái độ yêu thương chăm sóc khi chúng bất hiếu và tệ bạc với mình, thì sẽ khiến chúng trở về với đường ngay nẻo chính hơn là thái độ bỏ rơi, ruồng rẫy chúng. Thái độ kết án, ruồng rẫy chỉ làm cho con cái xa lìa và chống lại cha mẹ mà thôi. Lịch sử Giáo Hội cũng như chuyện đời thường chứng minh điều ấy.

Dụ ngôn người cha và đứa con hoang đàng của Đức Giêsu là một bài học cho nhiều loại người: không chỉ cho những người tội lỗi cần quay trở về, mà còn đề nghị với các bậc làm cha mẹ và với cả những người tốt lành ở trong Giáo Hội cách đối xử với những người con hay anh em đang sống trong lầm lạc tội lỗi. Không nên có thái độ như người anh kém quảng đại trong bài Tin Mừng chỉ biết ganh tị với em, mà không hề tỏ một tâm tình yêu thương gì với cha và với em cả.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu đã cho con thấy khuôn mặt đầy tình thương và giàu lòng tha thứ của Cha qua dụ ngôn người cha nhân hậu và đứa con hoang đàng. Xin cho con luôn ý thức tình yêu thương ấy của Cha để sẵn sàng quay trở về với Cha ngay khi lầm lỗi, đồng thời cũng luôn luôn bắt chước Cha trong việc quảng đại tha thứ vô điều kiện cho con cái, cũng như cho tất cả mọi người có lỗi đối với con. Amen.    
(Nguyễn Chính Kết)



Share:

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2016

TN23 - Tinh thần “từ bỏ” của người theo Chúa

CHIA SẺ TIN MỪNG
Chúa Nhật thứ 23 Thường Niên
(4-9-2016)

Tinh thần “từ bỏ” của người theo Chúa

Đọc Lời Chúa

·    Kn 9,13-18b : (16) Những gì thuộc hạ giới, chúng con đã khó mà hình dung nổi, những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được, thì những gì thuộc thượng giới, có ai dò thấu nổi hay chăng ? (17) Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gửi thần khí thánh ?

·   Plm 9b-10.12-17 : (9b) Tôi, Phao-lô, một người đã già và hơn nữa, một người đang bị tù vì Đức Ki-tô Giê-su, (10) tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích, đó là Ô-nê-xi-mô, (12) tôi xin gửi nó về cho anh ; xin anh hãy đón nhận nó như người ruột thịt của tôi.


·   TIN MỪNG : Lc 14,25-33

Vác thập giá mình mà đi theo Đức Giê-su

 (25) Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ: (26) «Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. (27) Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.

Từ bỏ hết những gì mình có

(28) «Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không ? (29) Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo : (30)“Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc. (31)Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng ? (32) Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. (33)Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được».

Chia sẻ

Câu hỏi gợi ý :

1.   Muốn làm môn đệ Chúa, phải từ bỏ tất cả (kể cả cha mẹ, và những người thân yêu nhất). Từ bỏ như thế thì làm sao sống được trên đời? Làm sao tránh được tiếng bất hiếu, vô tình vô nghĩa? Cần phải hiểu hai chữ «từ bỏ» theo nghĩa nào?

2.   Tại sao Đức Giêsu lại yêu cầu những người theo Ngài phải lượng sức mình: có từ bỏ tất cả mọi sự được thì hãy theo, không thì thôi?

3.   Không lượng sức mình mà cứ theo Chúa, thì đã sao? Có tai hại gì đâu? Khối người theo Chúa có phải từ bỏ gì đâu, họ còn được thêm là đằng khác?

Suy tư gợi ý :

1. Muốn làm môn đệ Chúa, phải từ bỏ tất cả

Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nói lên một cách quả quyết, rõ ràng và dứt khoát là: muốn theo Ngài, muốn làm môn đệ Ngài, phải sẵn sàng từ bỏ tất cả: người, vật, ý riêng, thậm chí những người thân yêu nhất như cha mẹ, vợ con, và ngay cả bản thân hay mạng sống mình nữa. Sự rõ ràng và dứt khoát ấy trở nên rất rõ nét nhờ hai dụ ngôn về một người muốn xây nhà và một ông vua muốn chiến đấu. Muốn xây nhà thì phải dự tính xem có đủ tiền không, kẻo đang xây dở dang mà hết tiền, thì sẽ không có nhà ở! Hai dụ ngôn này nhấn mạnh rằng nếu có ý định theo Chúa, thì cần phải lượng sức mình trước, xem mình có thể từ bỏ được như Chúa đòi hỏi không. Nếu không được, thì hãy từ bỏ ý định theo Chúa, kẻo sau đó bị dở dang «thầy không ra thầy, thợ không ra thợ», lỡ việc, lỡ cả cuộc đời, và có thể lỡ cả đời sau.

2. Cần phải hiểu «từ bỏ» theo hai nghĩa

Khi Đức Giêsu đòi hỏi những người theo Ngài phải từ bỏ, điều ấy không có nghĩa là những kẻ theo Ngài luôn luôn phải rời xa cha mẹ, vợ con, và sống như người không có gì. Hiểu theo nghĩa đen như thế không hẳn là sai, nhưng chỉ đúng với ơn gọi của một số ít người. Từ bỏ ở đây nên hiểu theo nghĩa tinh thần nhiều hơn. Nghĩa là người theo Chúa cần phải có tinh thần từ bỏ. Có tinh thần từ bỏ là luôn luôn coi Chúa và những việc của Chúa là quan trọng hơn tất cả mọi sự khác, nên sẵn sàng hy sinh những cái không quan trọng cho cái quan trọng khi thực tế đòi buộc như vậy. Từ bỏ không phải là không quí những điều mình từ bỏ, mà là không quí bằng một cái khác quí hơn, nên sẵn sàng hy sinh cái quí nhỏ cho cái quí to. Mạng sống, cha mẹ, vợ con, anh em, nhà cửa, ruộng vườn… đều là những thứ mà người theo Chúa phải quí trọng, thậm chí rất quí, nhưng đối với người theo Chúa, thì phải coi tất cả những thứ đáng quí ấy không quí bằng việc thực hiện Nước Thiên Chúa.

Và khi đã có tinh thần từ bỏ, thì tinh thần ấy sẽ được thể hiện thành những hành động từ bỏ. Nếu những hành động từ bỏ không phát xuất từ tinh thần từ bỏ thì không có giá trị lắm. Tuy nhiên, nếu tinh thần từ bỏ mà không được thể hiện thành những hành động từ bỏ cụ thể, thì chắc chắn đó không phải là tinh thần từ bỏ đích thực.

3. Phải lượng sức mình khi theo Chúa

Có thể Chúa không đòi hỏi tất cả mọi người phải có tinh thần từ bỏ như thế. Nhưng Ngài đòi hỏi những ai theo Ngài phải có tinh thần ấy. Vì thế, trong hai dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay, Chúa yêu cầu những ai theo Ngài phải lượng sức mình xem mình có thể có được tinh thần từ bỏ như vậy không. Nếu không có, thì đừng theo Ngài, Ngài không trách phạt những người bình thường nếu họ không có tinh thần ấy. Nhưng Ngài sẽ trách phạt những ai theo Ngài mà lại không có tinh thần từ bỏ ấy. Chính vì thế, mà cần phải lượng sức mình kẻo có hại cho sự phát triển hay vinh quang của Nước Chúa, đồng thời cho chính bản thân mình.

Rất tiếc là tinh thần từ bỏ này chưa được đặt nặng đúng mức nơi những người mang danh là theo Chúa. Trong nhiều Giáo Hội địa phương, những người mang danh theo Chúa lại được nhiều đặc quyền đặc lợi hơn những người bình thường (được hết sức kính trọng vì danh nghĩa là người theo Chúa chứ không vì tài đức bản thân, dễ dàng có quyền hành, địa vị, chức tước, tiền bạc hơn người bình thường…) Vì thế, có biết bao người theo Chúa vì những động lực trần tục ấy. Theo Chúa, thay vì từ bỏ hay mất đi nhiều thứ mình đang có, thì lại có thêm hay chiếm hữu được nhiều thứ mình chưa có. Do đó, với tinh thần chiếm hữu thay vì từ bỏ, những người mang danh theo Chúa ấy không thể thực hiện được những bổn phận hay trách nhiệm mà những người theo Chúa phải gánh vác trong những hoàn cảnh cụ thể mà Nước Chúa đòi buộc (chẳng hạn phải tranh đấu cho người nghèo, cho người bị áp bức, chống lại sự ác, bất công…) Họ không dám từ bỏ, không dám dấn thân, không dám hy sinh trong những việc đòi hỏi họ phải chấp nhận nguy hiểm đến mạng sống, đến sự an toàn bản thân, đến danh dự, đến quyền lợi… Đương nhiên họ vẫn có thể hy sinh trong những việc nhỏ, miễn sự hy sinh ấy đừng lớn hơn cái lợi trần gian họ đạt được. Cũng như một người đi buôn sẵn sàng hy sinh tiền bạc, công sức để thu vào một cái lợi lớn hơn.

Những người theo Chúa kiểu ấy sẽ rất bỡ ngỡ vào ngày sau hết, khi Chúa bảo họ: «Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!» (Lc 13,27). Và lúc ấy họ sẽ lên tiếng thắc mắc: «Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi» (Lc 13,26). Hoặc «Nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?» (Mt 7,22). Chính vì thấy trước viễn tượng ấy, mà Đức Giêsu đã yêu cầu những ai muốn theo Chúa phải lượng sức mình. Nếu không thể từ bỏ mọi sự được như thế (nên hiểu theo nghĩa tinh thần), thì nên rút lui sớm kẻo vừa hại cho Nước Chúa vừa hại cho phần rỗi của mình.

4. Một đề nghị

Trong các Giáo Hội Á châu, việc Giáo Hội khuyến khích giáo dân tôn kính và dành nhiều đặc quyền đặc lợi cho những người theo Chúa có rất nhiều điều hay, nên làm, nhưng thiết tưởng cũng nên ý thức và quan tâm tới mặt trái của nó để hành xử cho khôn ngoan. Sự tôn trọng của giáo dân và những đặc quyền đặc lợi mà Giáo Hội dành cho những người theo Chúa có thể khiến cho những Kitô hữu không có tinh thần siêu nhiên, sẽ theo Chúa không phải vì Chúa, vì Giáo Hội hay các linh hồn, mà vì một động lực trần tục.

Thật vậy, nếu những ai mang danh theo Chúa mà lại được tôn kính, trọng vọng một cách mặc nhiên bất chấp họ có xứng đáng hay không; nếu những điều kiện sinh sống của họ cũng mặc nhiên trở nên dễ dàng gấp bội so với những giáo dân bình thường chỉ vì họ mang danh hiệu đó mà thôi, thì việc mang danh theo Chúa sẽ trở nên rất hấp dẫn đối với những ai thiếu tài đức nhưng lại ham muốn trèo cao và muốn có điều kiện sống dễ dàng hơn mọi người mà đỡ vất vả. Nếu những điều kiện để được mang danh là theo Chúa lại dễ dàng hơn những điều kiện để mang những danh hiệu khác ngoài đời, thì số người «muốn theo Chúa» với động lực trần tục sẽ đông lên gấp bội. Điều ấy sẽ ảnh hưởng rất xấu đến chất lượng của những người mang danh theo Chúa. Nếu những người theo Chúa vì động lực trần tục chiếm đa số, thì thật là tai hại cho Giáo Hội. Họ sẽ không thể dấn thân thật sự cho Giáo Hội khi Giáo Hội cần đến sự dấn thân ấy. Giáo Hội sẽ đầy gương xấu đến từ giới được coi là ưu tú nhất, và bị đình trệ không phát triển được. Và những người muốn theo Chúa thật sự (chiếm thiểu số) sẽ nản lòng và sẽ chẳng hoạt động hữu hiệu được, thậm chí sẽ không muốn vào, mà lại muốn ra khỏi hàng ngũ ấy để … khỏi bị thiên hạ đánh giá kiểu «cá mè một lứa»!

Vì thế, những người hữu trách trong Giáo Hội nên tìm cách tránh cho Giáo Hội tình trạng đồ giả lan tràn như ngoài đời. Làm đồ giả vừa thực hiện dễ dàng lại vừa kiếm được nhiều lợi nhuận hơn làm đồ thật, nên thị trường tràn lan đồ giả. Đồ giả càng tinh vi thì bên ngoài càng giống đồ thật, thậm chí nhiều loại đồ giả còn «có vẻ thật» hơn cả đồ thật. Đương nhiên chất lượng của đồ giả thì luôn luôn kém cỏi. Nếu không có biện pháp xử lý khôn ngoan, thì trong Giáo Hội cũng có thể lan tràn những người có vẻ theo Chúa, nghĩa là theo Chúa một cách «hữu danh vô thực», không có tinh thần «từ bỏ» làm bảo chứng.

Cầu nguyện

Lạy Cha, xin ban cho Giáo Hội ngày càng tăng số người muốn theo Cha thật sự, nghĩa là những người sẵn sàng chấp nhận tinh thần từ bỏ mà Cha đòi hỏi và mong muốn. Xin cho chúng con dù là giáo dân hay giáo sỹ, cũng có tinh thần từ bỏ đích thực để xây dựng Nước Thiên Chúa tại trần gian, đặc biệt trên quê hương con. Amen.                       
(Nguyễn Chính Kết)


Share:

TN23 - Những điều kiện cần thiết nhất để theo Chúa



CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 23 Thường Niên

(04-9-2016)

Những điều kiện cần thiết nhất để theo Chúa

ĐỌC LỜI CHÚA
·  Kn 9,13-18: (15) Quả vậy, thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề.

·  Plm 9b-10.12-17:(9b)Tôi, Phaolô, một người đã già và hơn nữa, một người đang bị tù vì Đức Kitô Giêsu.

·  TIN MỪNG: Lc 14,25-33


Vác thập giá mình mà đi theo Đức Giêsu

 (25) Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ: (26)«Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. (27) Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được».


Từ bỏ hết những gì mình có
 
(28)«Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? (29) Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: (30)«Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc».(31) Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? (32) Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. (33) Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Theo Đức Giêsu, nhưng chỉ theo được nửa chừng rồi bỏ, có thể gây nên những thiệt hại nào cho bản thân, cho Giáo Hội và tha nhân?

2. Đức Giêsu đòi hỏi những người theo Ngài những điều kiện căn bản nào? Phải hiểu những điều kiện ấy thế nào?

Suy tư gợi ý:

1.   Cần tự lượng sức mình trước khi quyết định theo Chúa

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu yêu cầu những ai theo Ngài, trước khi quyết định theo, hãy tự lượng sức mình xem có thể trung thành theo Ngài tới cùng không. Nếu thấy mình theo nổi thì hãy quyết định theo, để một khi đã theo thì theo một cách triệt để, không luyến tiếc, không theo cách lưng chừng. Nếu thấy mình theo không nổi, thì nên rút lui sớm. Quả thật, có nhiều người quyết định theo Ngài cả cuộc đời, nhưng chỉ theo Ngài được một thời gian, sau đó bỏ Ngài luôn, hoặc công khai hoặc âm thầm. Những người theo không nổi mà lại không muốn mang tiếng bỏ Ngài, nên vẫn tiếp tục mang danh theo Ngài, nhưng trong thực tế thì đã bỏ Ngài từ lâu.

Sống trong một tình trạng giả dối như thế, tâm hồn thường bị dằn vặt, mất bình an, nên khó mà được hạnh phúc. Về mặt tâm linh, tình trạng giả dối ấy cản trở sự thăng tiến tâm linh, làm cho mình ngày càng thoái hóa. Tình trạng này chỉ được cải thiện khi dám chấp nhận sống chính danh, nghĩa là sống thành thật với chính mình và người khác. Nghĩa là: hoặc sống cho đúng với danh nghĩa theo Chúa, hoặc chấp nhận từ bỏ danh nghĩa ấy với tất cả những quyền lợi đi kèm. Điều này lại đòi hỏi một sự từ bỏ khác.

Vì thế, trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đưa ra hình ảnh người xây tháp hay ông vua đi giao chiến phải tự liệu xem mình có thành công hay không rồi hãy khởi sự công việc. Vì nếu không thành công thì thật là nguy hại, thà đừng manh động gì thì hơn. Ý của Ngài là khuyên những người có ý định theo Ngài hãy suy nghĩ cho kỹ, lượng sức mình xem có khả năng theo Ngài tới cùng không. Tự sức mình, chẳng ai có khả năng ấy, nhưng với ơn Chúa cộng với sức riêng mình, ta có thể làm được tất cả: «Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi làm được tất cả» (Pl 4,13). Vậy, vấn đề còn lại là có trông cậy vào ơn Chúa và có trung thành cố gắng mỗi ngày không.

2.   Điều kiện để theo Chúa

Để giúp những ai muốn theo Ngài tự lượng sức mình, Ngài thẳng thắn đưa ra những điều kiện cần phải có để theo Ngài: «Ai đến với tôi mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được». Trong câu Ngài nói, có 3 điều kiện:

a. «Bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em» :

Câu này không có nghĩa là bỏ bê những người thân yêu nhất của mình và tỏ ra vô trách nhiệm đối với họ. Vì làm như vậy là bất hiếu và bất nghĩa, trái với điều răn thứ tư của Thiên Chúa. Nhiều người theo Chúa hiểu câu này theo nghĩa đen nên đã làm cho cha mẹ và người thân mình rất đau khổ. Ý của Đức Giêsu là ai theo Ngài thì phải coi việc theo Ngài quan trọng nhất, quan trọng hơn nghĩa vụ đối với tất cả những người thân yêu mình, kể cả cha mẹ, vợ con, anh chị em mình. Nghĩa là khi có sự xung đột giữa việc theo Ngài và bổn phận thảo hiếu hay tình nghĩa anh em, khiến ta chỉ có thể chọn một trong hai, thì phải ưu tiên cho việc của Ngài hơn. Còn nếu không có sự xung đột ấy, thì người theo Chúa phải sống có tình có nghĩa hơn ai hết, nhất là đối với cha mẹ, vợ con, anh chị em mình. Không phải cứ theo Chúa thì có quyền vô trách nhiệm đối với cha mẹ như những người Pharisêu xưa từng chủ trương (x. Mt 15,5-6).

b. «Và cả mạng sống mình nữa» :

Câu này cũng không có nghĩa là bỏ bê bản thân mình, không chăm sóc nó. Trái lại, người theo Chúa cần phải biết chăm lo bản thân: sức khỏe tinh thần và thể chất, sự hiểu biết về Chúa, về con người và về thế giới, khả năng lý luận, và các tài năng khác, để có thể phục vụ cách hữu hiệu. Câu này nên hiểu là khi có sự xung đột giữa ý của mình và ý của Chúa, việc của mình và việc của Chúa, thì luôn luôn phải ưu tiên thực hiện ý của Ngài, việc của Ngài. Người theo Chúa phải nói được như Đức Giêsu: «Tôi không làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 5,30).

Trong việc theo Chúa, «từ bỏ chính mình» (Mt 16,24; Mc 8,34; Lc 9,23) vẫn là điều quan trọng nhất. Nghĩa là sống tinh thần tự xóa mình (kenosis) như Đức Giêsu (x. Pl 2,6-8), cụ thể nhất là coi nhẹ «cái tôi» của mình (bao hàm ý muốn riêng, ý kiến riêng, việc riêng của mình). Một khi đã từ bỏ «cái tôi» của mình rồi, thì tất cả mọi thứ khác ta đều từ bỏ được cách dễ dàng. Trái lại, dù đã từ bỏ được tất cả mọi thứ, nhưng chưa từ bỏ được «cái tôi», thì rồi «cái tôi» ấy sẽ lại vun vén về cho nó tất cả những gì nó đã từ bỏ. Và cuối cùng hóa ra chẳng từ bỏ điều gì cả.

Muốn biết ta đã từ bỏ được «cái tôi» của mình hay chưa, thì cứ việc xét xem khi có ai nói động chạm đến «cái tôi» của ta, ý kiến riêng hay quyền lợi của ta, ta phản ứng thế nào. Nếu ta nổi điên lên và phản ứng thật mạnh, tìm cách trả thù hay hạ kẻ xúc phạm ta xuống, thì điều đó chứng tỏ ta chưa hề từ bỏ «cái tôi» của mình. Trái lại, kẻ đã từ bỏ «cái tôi» của mình, sẽ không phản ứng gì, hoặc sẽ phản ứng cách nhẹ nhàng, từ tốn, nhất là biết thật sự khách quan xét xem người động chạm đến mình và quyền lợi mình có thiện chí xây dựng và có hợp lý không. Nếu thấy người ấy đúng, thì chính mình sửa sai và chân thành cám ơn người ấy. Nếu thấy người ấy sai, thì có thể bỏ qua, không chấp nhất, hoặc dùng lời lẽ khiêm tốn sửa sai người ấy.

Có thể nói tư cách của một người theo Chúa được thể hiện rõ nét nhất trong việc từ bỏ «cái tôi» của mình. Chưa từ bỏ được «cái tôi» ấy thì chưa thể tự hào mình là người thật sự theo Chúa. Đây là nền tảng của tình yêu đích thực, của lòng đạo đức chân thật và sự thánh thiện. Ai chưa từ bỏ được «cái tôi» của mình, thì dù có bao nhiêu nhân đức, dù được mọi người khen là thánh thiện, thì nhân đức hay sự thánh thiện ấy chỉ là tạm bợ, không có nền tảng. Chẳng khác gì chúng được xây trên cát, khi gặp mưa to gió lớn, tức gặp thử thách – chẳng hạn khi bị xúc phạm, bị mất quyền lợi, v. v… – là bị cuốn trôi hay sụp đổ hoàn toàn, và «cái tôi» ấy sẽ hiện ra nguyên hình vì cái mặt nạ đẹp đẽ của mình đã bị lột mất (x. Mt 7,24-27).

c. «Vác thập giá mình» :

Thập giá vào thời Đức Giêsu là hình phạt của đế quốc Rôma dành cho những kẻ xấu, ác, có tội và bị luật pháp kết án. Thập giá còn dành cho những người Do Thái yêu nước có những hành vi nhằm lật đổ ách thống trị tàn bạo của đế quốc. Những người yêu nước này được dân chúng coi là anh hùng, là người tốt, nên ngấm ngầm mến phục và ủng hộ. Vác thập giá là một cực hình, và bị đóng đinh trên ấy là một thứ đau đớn và nhục nhã cực độ. Do đó, thập giá tượng trưng cho những đau khổ, nhục nhã mà con người phải chịu không chỉ vì tội lỗi mình, mà còn vì theo Chúa, vì những lý tưởng cao đẹp, vì tình yêu đối với tha nhân nữa. Vì thế, một trong những điều kiện căn bản để theo Chúa là phải chấp nhận đau khổ, mất mát, thiệt thòi, vừa để đền tội cho chính mình và người khác, vừa để chu toàn bổn phận trong đấng bậc mình, vừa để hy sinh cho việc xây dựng Nước Trời, tạo hạnh phúc hay giảm bớt đau khổ cho tha nhân. Đức Giêsu đã vác thập giá và chịu đóng đinh trên thập giá là để hy sinh, chịu đau khổ hầu cho nhân loại được sống và sống hạnh phúc. Đó cũng chính là mục đích của Ngài khi đến trần gian.

Khi theo Chúa, chúng ta nhằm mục đích gì? Có phải để được chia sẻ vinh quang của Ngài, để được «ngồi bên hữu, bên tả» Chúa như ước muốn của hai tông đồ Giacôbê và Gioan (x. Mc 10,35-37) chăng? nghĩa là để được ăn sung mặc sướng, được ngồi trên đầu trên cổ thiên hạ? Thực ra ai theo Chúa thì cuối cùng cũng sẽ được hưởng vinh quang và hạnh phúc với Chúa, nhưng đó chỉ là hậu quả hay phần thưởng của việc theo Chúa, của việc cùng đau khổ và cùng chết với Ngài hầu cứu nhân độ thế, chứ đó không thể là mục đích của việc theo Chúa được. Ai theo Chúa vì mục đích ấy thì không thể theo Ngài đến cùng được. Chúa sẽ nói với họ như đã nói với Giacôbê và Gioan: «Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?» (Mc 10,38).

Theo Chúa chủ yếu là để bắt chước Ngài, sống theo tinh thần của Ngài, tất nhiên phải vác thánh giá, chịu đau khổ vì hạnh phúc của tha nhân như Ngài. Vì thế Ngài mới nói: «Ai không vác thập giá mình mà theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi». Theo Chúa mà không tự xóa mình, không sẵn sàng chấp nhận đau khổ, thiệt thòi để người khác được hạnh phúc, chỉ tìm sung sướng cho bản thân một cách ích kỷ, thì chỉ là theo Chúa cách «hữu danh vô thực», hoặc chỉ theo Chúa vài chục phần trăm trong những gì có lợi cho mình mà thôi!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, tâm trạng của con khi đi theo Đức Kitô nhiều khi cũng giống như tâm trạng của Giacôbê và Gioan: muốn được vinh quang, được đề cao, được nắm quyền bính, được mọi người kính trọng. Chứ không biết rằng theo Ngài thì việc đầu tiên là phải bắt chước Ngài. Điều cần thiết nhất nơi Ngài mà con phải bắt chước là tinh thần xóa mình và sẵn sàng vác thánh giá, đúng như Ngài đã tuyên bố rõ ràng, không hiểu cách khác được. Xin giúp con quên mình và vị tha hơn để có thể làm được điều ấy.

(Nguyễn Chính Kết)

Share: