Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

Chay2b - Hành trình và sự thành tựu của đức tin

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Chay

(12-3-2017)

(Bài đào sâu)

Hành trình và sự thành tựu của đức tin

ĐỌC LỜI CHÚA

  TIN MỪNG: Mt 17,1-9

Ðức Giêsu hiển dung

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Việc biến hình của Đức Giêsu xảy ra sau những sự kiện liên tiếp nhau: Phêrô tuyên xưng đức tin, Đức Giêsu báo trước cuộc tử nạn và nói ra những điều kiện để theo Ngài. Điều đó có ý nghĩa gì? 
2.   Sự biến hình của Đức Giêsu có phải là một hứa hẹn cho sự biến hình của ta không?
3.   Ta có thể được biến đổi từ một con người yếu đuối, khiếm khuyết hiện tại thành một con người mới mạnh mẽ, thánh thiện trong tương lai, như một con sâu xấu xí biến thành một con bướm đẹp rực rỡ không? Muốn thế, ta phải làm gì?
Suy tư gợi ý:

Trong bài Tin Mừng Mátthêu hôm nay và đoạn trước đó (Mt 16), ta thấy có 4 sự kiện xảy ra liên tiếp nhau. Trước hết, Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (x. Mt 16,13-20). Kế đến Ngài báo cho ông và các môn đệ cuộc tử nạn thảm thương của Ngài (x. Mt 16,21-23). Rồi Ngài cho các ông biết những điều kiện phải có để có thể theo Ngài (x. Mt 16,24-28). Và cuối cùng Ngài tỏ thiên tính và vinh quang của Ngài ra cho ông và 2 môn đệ thân tín khác của Ngài (Mt 17,1-9). 

Không phải vô tình mà 4 sự kiện ấy xảy ra liên tiếp như vậy. Đó là một trình tự đầy ý nghĩa cho chúng ta thấy một hành trình phải trải qua để người Kitô hữu trưởng thành trong đời sống tâm linh.

1.   Thành hình đức tin

Những người sống đồng thời với Đức Giêsu, được nghe biết bao lời giảng dạy đầy quyền uy và khôn ngoan của Ngài, được chứng kiến bao điều lạ lùng Ngài làm, nhưng nhiều người không tin Ngài, tuy nhiên cũng có một số người tin Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế. Phêrô là một trong những người tin vào Ngài vững chắc nhất.

Trong số những người tin, có những người tin do tính dễ tin của họ: ai nói gì cũng tin, vì họ ít suy nghĩ, ít khả năng suy xét, phán đoán. Niềm tin của họ vì thế không có nền tảng vững chắc, do đó họ cũng dễ dàng mất đức tin khi nghe những người có uy tín nói hay lý luận ngược lại. Có những người tin rất vững chắc mặc dù họ không phải là người dễ tin, thậm chí còn rất khó tin nữa: họ tin vì họ biết suy nghĩ, nhận định, phán đoán, biết thực nghiệm đức tin.

Ngoài những lý do siêu nhiên là ơn Chúa ban, đức tin còn tùy thuộc vào lương tri và sự yêu mến chân lý hơn là vào trình độ học thức hay văn hóa. Trong đời sống tâm linh, người có lương tri và lòng chân thành thường phán đoán chính xác và đúng đắn hơn người chỉ có trình độ học thức hay văn hóa, cho dù là học thức về tôn giáo. Thật vậy, giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái có trình độ học thức và giáo lý cao hơn Phêrô các các tông đồ rất nhiều, nhưng họ không tin Đức Giêsu. Vì càng cậy vào trình độ văn hóa hay giáo lý hơn là vào lương tri, thì chính trình độ ấy nhiều khi lại càng cản trở họ tin hơn. Đương nhiên đức tin luôn luôn là kết quả của ơn Chúa luôn sẵn sàng ban trên mọi người, nhưng có lãnh nhận được ơn Chúa hay không lại tùy thuộc rất nhiều vào lòng khiêm tốn và chân thành, là hai yếu tố quan trọng của lương tri con người.

Tuy nhiên, đức tin ban đầu thường pha trộn nhiều ảo tưởng và tham vọng. Chẳng hạn như Phêrô, khi tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa (x. Mt 16,13-20), là Đấng Cứu Thế, thì Đấng Cứu Thế ấy là một Đấng Cứu Thế theo quan niệm đầy ảo tưởng của ông: Ngài sẽ giải phóng dân tộc, rồi làm vua, và ông sẽ là một cận thần của Ngài, một vị quan lớn trong triều đình. Một đức tin như vậy cần phải được tinh luyện, như vàng quặng phải được tinh luyện thành vàng ròng mới có giá trị.

2.   Tinh luyện đức tin

Phêrô tưởng tin vào Đức Giêsu thì sau này mình sẽ trở thành một nhận vật tên tuổi, «cái tôi» của ông sẽ được phình to lên trước mặt mọi người. Vì ông tin rằng Đức Giêsu, Thầy mình, sẽ làm vua ở trần gian. Nhưng Đức Giêsu phá đổ ảo tưởng đó để đức tin của ông trở nên thực tế và tinh ròng hơn. Ngài tiên báo rằng Ngài sẽ bị bắt, bị tra tấn, và sẽ chết cách nhục nhã. Điều này khiến Phêrô ban đầu không hiểu và không chấp nhận được, vì như thế, mọi ảo tưởng của ông đều mất chỗ dựa và sụp đổ. Nhưng đó là quá trình phải trải qua của đức tin để trở thành một đức tin trưởng thành. Qua sự dạy dỗ, Đức Giêsu đã biến đức tin của ông thành tinh ròng, đúng đắn, vị tha, một đức tin trưởng thành, đầy sức mạnh. Chỉ với đức tin đó ông mới có thể thành nền tảng cho Giáo Hội mà Đức Giêsu thiết lập.

Cũng vậy, nơi mọi người, đức tin ban đầu rất thường pha trộn với ít nhiều ảo tưởng, sai lầm, mê tín, và vị kỷ. Ban đầu người ta thường tưởng đức tin sẽ đem lại cho họ những thuận lợi cho cuộc đời họ, giúp họ thực hiện những mơ ước hay tham vọng trần tục vị kỷ của họ. Dẫu vậy, Thiên Chúa vẫn chấp nhận thứ đức tin ấy, và Ngài biến đổi nó, miễn là người ta trung thành với Ngài. Sẽ có những lúc vì đức tin mà họ bị mất mát, thiệt thòi, bị bách hại, đau khổ. Sẽ có lúc đức tin bị thử thách vì những tai họa, bệnh hoạn, nghịch cảnh… Và đức tin dường như chẳng đem lại cho người ta những thuận lợi của trần gian. Những mối phúc mà Đức Giêsu hứa cho những người thực hành niềm tin nơi Ngài toàn là những gì mà thế gian cho là bất lợi: nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khao khát công chính, biết thương xót người, trong sạch, hòa bình, bị bách hại… (x. Mt 5,1-12). Đây là giai đoạn thanh luyện đức tin, gột bỏ những gì là tham vọng, ảo tưởng, sai lầm trong đức tin.

3.   Thực thi đức tin

Sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin rất mạnh mẽ, Ngài liền phá đổ các ảo tưởng trong đức tin của ông bằng việc báo trước cuộc tử nạn của Ngài. Tiếp đến, Ngài lột bổ tính cách vị kỷ trong đức tin của ông, bằng cách đòi hỏi ông và những ai tin theo Ngài phải từ bỏ con người vị kỷ của mình: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy» (Mt 16,24-25). Từ bỏ con người vị kỷ là coi nhẹ «cái tôi» của mình, sẵn sàng chấp nhận đau khổ, thậm chí mất tất cả, kể cả mạng sống mình vì tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Đức tin vị kỷ ban đầu phải trở thành đức tin vị tha: nghĩa là phải vì vinh quang của Thiên Chúa và hạnh phúc của đồng loại.

Đây chính là giai đoạn thực thi đức tin trong đời sống cụ thể của con người. Nó hoàn thành việc tinh luyện đức tin. Đức tin phải thể hiện thành đời sống, thành cách suy nghĩ, cách nói năng, cách phản ứng, cách đối xử, cách hành động… Nếu không, đó chỉ là đức tin giả hiệu, mà thánh Giacôbê còn gọi là «đức tin chết» (Gc 2,17.26). Thỉnh thoảng chúng ta nên nghiêm túc xét lại xem đức tin của mình là loại đức tin nào? sống hay chết, đích thực hay giả hiệu?

4.   Thành tựu của đức tin

Một đức tin đích thực, trưởng thành và vị tha như thế sẽ dẫn ta tới đâu? Sau khi đòi hỏi Phêrô và các môn đệ khác phải «từ bỏ chính mình», «vác thập giá mình» vì đức tin, Đức Giêsu cho ông và hai môn đệ thân tín khác – là ba người tin vào Ngài vững mạnh nhất – thấy thiên tính và sự vinh quang của Ngài khi Ngài biến hình trên núi. Qua việc biến hình này, trước hết Ngài cho các ông thấy niềm tin của họ vào Ngài là chính xác, và họ không hề tin lầm: Ngài chính là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa đúng như Phêrô đã tin và tuyên xưng. Kế đến Ngài cho các ông thấy, một cách biểu tượng, phần thưởng vĩ đại cho đức tin trưởng thành của các ông, một đức tin đã được thử thách và tinh luyện. Phần thưởng vĩ đại ấy không phải thứ vinh quang trần tục chóng qua mà các ông từng mong đợi được hưởng ở đời này, mà là thứ vinh quang thần linh và vĩnh cửu của Ngài mà các ông sẽ được dự phần vào như Môsê và Êlia.
So với vinh quang vĩ đại ấy, những gì ông hy sinh từ bỏ ở đời này chẳng đáng vào đâu: «Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (Rm 8,18). Vinh quang đó không chỉ được mặc khải cho chúng ta – những kẻ tin vào Ngài – mà là nơi chúng ta; nghĩa là vinh quang đó là của chúng ta, được thể hiện ngay trong bản thân chúng ta.

Đó là quá trình phải trải qua của đức tin mỗi người, từ khi thành hình đến khi thành tựu viên mãn. Mỗi Kitô hữu hãy tự hỏi: đức tin của mình đang ở giai đoạn nào? đã được tinh luyện bằng gian nan thử thách để trở nên trưởng thành chưa? khi đức tin bị thử thách, thái độ của ta thế nào?



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, vàng ban đầu ở dạng quặng bao giờ cũng phải được tinh luyện mới thành vàng ròng. Tương tự, đức tin của con – cũng như của Phêrô và các tông đồ xưa – cần phải được tinh luyện mới trở nên tinh tuyền, mới có giá trị. Xin cho con biết kiên trì khi đức tin được tinh luyện, thử thách, nhất là cho con biết tích cực góp phần chủ động của mình trong việc tinh luyện này, bằng cách sống đức tin trong đời thường qua việc «từ bỏ mình», coi nhẹ «cái tôi» của mình và những gì của mình, để thật sự «vác thập giá mình» mà theo Đức Giêsu. Để rồi chính con sẽ được biến hình – như một con sâu biến thành con bướm – từ con người cũ thành con người mới, từ con người tự nhiên thành con người siêu nhiên.


Share:

Chay2a - Chính Chúa Cha giới thiệu Đức Giêsu cho chúng ta

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Chay
(12-3-2017)

Chính Chúa Cha giới thiệu Đức Giêsu cho chúng ta, và khuyên chúng ta hãy vâng lời Ngài


ĐỌC LỜI CHÚA

  St 12,1-4a: (1) Ðức Chúa phán với ông Áp-ram: Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. (2) Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. (3) Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.

  2Tm 1,8b-10: (9) Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Ðức Giêsu.

  TIN MỪNG: Mt 17,1-9

Ðức Giêsu hiển dung


(1) Sáu ngày sau, Ðức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. (2) Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. (3) Và bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người. (4) Bấy giờ ông Phêrô thưa với Ðức Giêsu rằng: Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia. (5) Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người! (6) Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. (7) Bấy giờ Ðức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo: Chỗi dậy đi, đừng sợ! (8) Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Ðức Giêsu mà thôi.

(9) Ðang khi thầy trò từ trên núi xuống, Ðức Giêsu truyền cho các ông rằng: Ðừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy. 


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Ý nghĩa của những chi tiết trong cuộc hiển dung là gì? Mục đích của cuộc hiển dung là gì? 
2.   Lời Chúa Cha giới thiệu về Ðức Giêsu: «Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người». Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!. Nội dung của lời giới thiệu này có mấy điểm? Là những điểm nào? 
3.   Vâng nghe lời Ðức Giêsu như Chúa Cha khuyên ta thì được lợi ích gì?
Suy tư gợi ý:

1.   Ý nghĩa thị kiến hiển dung của Ðức Giêsu

Ðây là một thị kiến mà ba môn đệ thân tín nhất của Ðức Giêsu nhìn thấy. Thị kiến này mạc khải cho ba môn đệ thấy thần tính của Ðức Giêsu. Những gì thấy trong thị kiến đều có một ý nghĩa thần bí:

ngọn núi cao: biểu tượng sự siêu việt, thánh thiện, cao cả, thanh thoát, xa rời thế tục

chỉ có bốn thầy trò với nhau: sự mạc khải chỉ biểu lộ cho những người thân thiết nhất, mang tính riêng tư.

sự biến hình đổi dạng: cho thấy một bản chất sâu xa bên trong, một cái gì sẽ được tỏ hiện trong tương lai. Người thường không thấy được điều ấy, họ chỉ thấy được cái gì hiện ra bên ngoài trong hiện tại.

dung nhan chói lọi như mặt trời: biểu tượng của thần tính, hay thiên tính, đầy vinh quang, quyền lực.

y phục trắng tinh như ánh sáng: biểu tượng sự trong sáng, sự quang minh chính đại cực độ, hoàn toàn không lầm lỗi, không khiếm khuyết.

Môsê và Êlia hiện ra đàm đạo: đây là hai nhân vật lớn nhất tiêu biểu cho Cựu Ước, hay Giao Ước cũ. Môsê, nhà làm luật, tượng trưng cho luật pháp, Êlia, ngôn sứ lớn nhất trong Cựu Ước, đại diện các ngôn sứ. Luật pháp và các ngôn sứ là cốt tủy, là những thứ biểu trưng và thiêng liêng nhất trong Cựu Ước. Hai ông còn là hai người có thế giá nhất đã báo trước sự ra đời của Ðức Giêsu. Môsê là tác giả của bộ Ngũ Kinh (5 cuốn đầu của Cựu Ước) đã tiên báo một đại ngôn sứ sẽ đến (x. Ðnl 18,15-19). Còn Êlia là nhân vật mà Thiên Chúa sai đến như một dấu chứng báo trước ngày mà chính Thiên Chúa đến trần gian (x. Ml 3,23). Trong thị kiến này, hai ông biểu tượng cho hai chứng từ sống động nhất làm chứng cho thiên tính của Ðức Giêsu.

Ðám mây sáng ngời bao phủ cả ba người: tượng trưng cả ba người đều đến từ Thiên Chúa, và đang sống trong vinh quang của Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh (cũng như trong các kinh điển của các tôn giáo), đám mây tượng trưng cho mầu nhiệm Thiên Chúa đang hiện diện: chẳng hạn cột mây dẫn đường dân Do Thái qua biển đỏ (Xh 13,21-24), cột mây trước Lều Tạm (Xh 33,9-10; 40,34-38), hay GiaVê thường hiện ra với Môsê trong đám mây (Xh 16,10; 19,9; 20,21; 24,15-16).

Tiếng phán ra từ đám mây: «Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!» (Mt 17,5). Ðây là dấu chứng mạnh nhất, vĩ đại nhất mang tính dứt khoát cho biết Ðức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, mà mọi người có thể tin tưởng và vâng phục. Chính Chúa Cha trực tiếp giới thiệu Con Yêu Dấu của mình. Còn lời chứng nào giá trị hơn nữa?

2. Hãy vững tin vào thiên tính của Ðức Giêsu

Qua thị kiến hiển dung này, Thiên Chúa đã trực tiếp củng cố niềm tin cho ba môn đệ thân tín nhất của Ðức Giêsu vào Ngài, và cũng gián tiếp củng cố niềm tin của các môn đệ khác, và cả chúng ta nữa. Thị kiến này, các ông đã mang theo trong tâm trí suốt cuộc đời như một hành trang quý báu giúp các ông tin vững chắc vào Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Ðấng Thiên Sai, Ðấng Cứu Thế mà mọi người đều trông mong. Nhờ niềm tin vững chắc này, các ông rao giảng về Ðức Giêsu một cách xác tín, và vượt qua được mọi gian lao thử thách do việc rao giảng ấy. 

Thánh Phêrô đã nhắc lại biến cố này như một dấu chứng chắc chắn để mọi người tin vào lời chứng của mình: «Thật vậy, khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người. Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Ðấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người: "Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến". Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người» (2Pr 1,16-18).

Nếu mục đích của sự hiển dung này là để củng cố niềm tin các tông đồ vào thiên tính của Ðức Giêsu, thì nó cũng có mục đích củng cố niềm tin mỗi người chúng ta. Ðức tin càng được xác tín mạnh mẽ từ trong thâm tâm, chứ không chỉ tuyên xưng ngoài miệng, sẽ làm cho đời sống Kitô hữu càng thêm sâu sắc và phong phú, càng làm tình yêu và nội lực ta thêm dồi dào.

3. Hãy vâng nghe lời Người!

Qua biến cố hiển dung, Ðức Giêsu chẳng những được giới thiệu cho các tông đồ mà còn cho cả chúng ta nữa. Sự giới thiệu có giá trị hay không, và giá trị đến mức nào tùy thuộc vào thế giá của người giới thiệu. Còn ai có thế giá trong tôn giáo cho bằng Môsê và Êlia, và nhất là còn ai thế giá trong toàn vũ trụ bằng Chúa Cha, Ðấng tạo dựng nên cả vũ trụ bao la này. Chúa Cha đã giới thiệu Ngài: «Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!» (Mt 17,5)

Lời giới thiệu ấy tuy ngắn ngủi nhưng nội dung rất quan trọng, gồm 3 điểm sau đây:

a) Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa: Ðó là một chức vị duy nhất và cao nhất sau Chúa Cha trong toàn vũ trụ. Ngài là Con duy nhất của một Thiên Chúa độc nhất. Và Ngài cũng là Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha. Ngài đầy uy tín và rất đáng tin tưởng do bản chất Thiên Chúa của Ngài.

b) Ðức Giêsu rất đẹp lòng Chúa Cha: Một người đẹp lòng Chúa Cha tất nhiên hết sức hoàn hảo, không một khiếm khuyết nào. Vì thế, Ngài đầy uy tín và rất đáng tin tưởng do phẩm chất hết sức cao quí của Ngài.

c) Vì thế, Chúa Cha khuyên chúng ta «hãy vâng nghe lời Người!»: Lời khuyên của Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta vô cùng lại đầy khôn ngoan và quyền năng, ắt phải có một giá trị vô cùng lớn. Không một lời khuyên nào đối với ta có thể khôn ngoan và đem lại lợi ích cho ta như vậy. Vậy chúng ta hãy vâng nghe lời Ðức Giêsu.

Thánh Phêrô, người đã chứng kiến việc hiển dung của Ðức Giêsu và đã nghe được lời giới thiệu về Ngài của Chúa Cha, đã phải thốt lên tâm tình của mình: «Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời» (Ga 6,68). Chính Ðức Giêsu cũng đã xác nhận: «Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết» (Ga 8,51). Không bao giờ phải chết ở đây nghĩa là có được sự sống đời đời.

4. Sự sống đời đời do vâng nghe lời Ðức Giêsu

Lợi ích lớn lao do việc vâng nghe lời Ðức Giêsu chính là có được sự sống đời đời. Sự sống đời đời ấy không phải là một cái gì xa lạ mà phải qua thế giới bên kia mới cảm nghiệm được, mà là một cái gì thực tế và cụ thể, có thể cảm nghiệm được ngay ở đời này, thậm chí tại đây và lúc này (hic et nunc) một cách hết sức hiện sinh. Sự sống ấy đã được Ðức Giêsu nói đến trong câu: «Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào» (Ga 10,10). Ở đời này, sự sống đời đời được thể hiện bằng sự sống dồi dào nội lực và sinh khí để có thể sống tràn đầy bình an và hạnh phúc, trong tinh thần vị tha, quên mình, biết yêu thương và hy sinh cho tha nhân không mệt mỏi. Ðó là thứ hạnh phúc đích thực của thiên đàng là nơi chỉ có yêu thương, không còn ích kỷ hay thù hận. Ðó là sự bình an và hạnh phúc vô biên trong nội tâm, thứ hạnh phúc không bị lệ thuộc vào hoàn cảnh hay những yếu tố bên ngoài, thứ hạnh phúc không ai lấy mất được.

Sự sống đời đời ấy ta có được là do vâng nghe lời Ðức Giêsu, để chúng ta có thể nhìn cuộc đời, quan niệm mọi sự như Ðức Giêsu đã nhìn và quan niệm, để ta có thể tư tưởng, nói năng và hành xử như Ngài đã từng tư tưởng, nói năng và hành xử. Ở đời này, sự sống ấy có thể ví như ở dạng hạt, và nó sẽ phát triển thành cây cổ thụ và sinh hoa kết trái ở đời sau. Chỉ khi ta có được hạt giống sự sống đời đời ở đời này do việc vâng nghe lời Ðức Giêsu, ta mới có được cây sự sống đời đời ấy ở đời sau (x. Kh 22,2.14.19).


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha đã giới thiệu Ðức Giêsu cho con, đã khuyên con hãy vâng nghe lời Ngài. Con biết: sự sống đời đời - là điều con ao ước nhất và có khả năng làm thỏa mãn con nhất - con có thể tìm được nhờ vâng nghe lời Ngài một cách triệt để và sâu xa. Xin Cha giúp con thực hiện được điều ấy. Amen.


Share:

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Chay1: Bị cám dỗ là dịp để chúng ta chứng tỏ tình yêu


CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ I Mùa Chay

(05-03-2017)


Bị cám dỗ là dịp để chúng ta chứng tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa và với những giá trị cao quý


ĐỌC LỜI CHÚA

  St 2,7-9.3,1-7: (4) Rắn nói với người đàn bà: Chẳng chết chóc gì đâu! (5) Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác. (6) Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn.

  Rm 5,12.17-19: (19) Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính.


  TIN MỪNG: Mt 4,1-11

Ðức Giê-su chịu cám dỗ


(1) Bấy giờ Ðức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. (2) Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói. (3) Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi! (4) Nhưng Người đáp: Ðã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.

(5) Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, (6) rồi nói với Người: Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.

(7) Ðức Giêsu đáp: Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.

(8) Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, (9) và bảo rằng: Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi. (10) Ðức Giêsu liền nói: Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.

(11) Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Người. 


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Ðức Giêsu cũng bị cám dỗ. Ðiều ấy mạc khải cho ta biết những gì? Bị cám dỗ có phải là điều gì xấu xa không? 
2.   Cơn cám dỗ đưa ta đến một tình thế phải lựa chọn giữa điều tốt và điều xấu, hoặc giữa hai điều tốt, tốt nhiều và tốt ít. Như thế những dịp bị cám dỗ giúp chúng ta chứng tỏ điều gì? Cám dỗ là điều tốt hay điều xấu?

Suy tư gợi ý:

1.   Ðã là con người, ai cũng bị cám dỗ

Nếu không có bài Tin Mừng hôm nay, người ta dễ dàng nghĩ rằng sở dĩ Ðức Giêsu hoàn toàn vô tội là vì Ngài không bị hề cám dỗ. Nhưng đoạn Tin Mừng này cho thấy chính Ðức Giêsu - dù là Con Thiên Chúa, có bản tính thần linh hoàn toàn trong sạch - cũng bị ma quỉ cám dỗ. Thật là một mạc khải bất ngờ, đáng ngạc nhiên và rất lý thú, đồng thời cũng là điều an ủi chúng ta, tạo động lực cho chúng ta thắng những cơn cám dỗ xảy đến.

Ðức Giêsu là Thiên Chúa mà cũng bị cám dỗ, nên chúng ta vốn là người phàm, nếu có bị cám dỗ, dù nặng nề tới đâu, cũng là chuyện dễ hiểu. Ðiều đó có nghĩa: đã là con người thì đều bị cám dỗ. Và sự kiện Ðức Giêsu bị cám dỗ chứng tỏ Ngài đích thực là con người y như chúng ta. Kinh Thánh cho biết Ngài cũng yếu đuối như chúng ta, nhờ vậy Ngài rất thông cảm với sự yếu đuối cũng như tội lỗi của chúng ta: «Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Ðấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội» (Dt 4,15). Qua câu Kinh Thánh trên, ta lại được biết rằng tuy bị cám dỗ như ta, nhưng Ngài khác với ta ở chỗ không hề phạm tội, nghĩa là Ngài đã luôn luôn thắng mọi cơn cám dỗ, không bao giờ sa ngã.

2.   Tội lỗi có thể là sự chọn lựa SAI giữa hai điều tốt

Thiên Chúa đã chấp nhận để cho chúng ta - kể cả Ðức Giêsu - bị cám dỗ. Ðiều đó cho thấy cám dỗ không phải là một điều xấu. Trái lại, có thể đó là một điều cần thiết. Thật vậy, bị cám dỗ là một dịp để ta chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa và tha nhân, và sự vâng phục của ta đối với Ngài. Vì một người không thể chứng tỏ rằng mình yêu mến, vâng phục, nếu không hề bị thử thách, nghĩa là chưa có cơ hội để không vâng lời, không yêu mến. «Lửa thử vàng, gian nan thử người công chính» (Cn 17,3), «Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?» (Nguyễn công Trứ).

Khi bị cám dỗ, có khi ta phải chọn lựa giữa điều tốt và điều xấu. Ðiều này thường xảy ra cho người có tâm linh còn non yếu, để họ có dịp chứng tỏ họ đứng hẳn về phía tốt. Còn những người đã lên tới những bậc thang tâm linh cao, thì khi bị cám dỗ, họ thường phải lựa chọn giữa hai điều đều là tốt cả, nhưng lương tâm buộc họ phải chọn điều tốt hơn, để chứng tỏ sự quyết tâm tiến tới trọn hảo. Chẳng hạn trong cơn cám dỗ đầu tiên của Ðức Giêsu, việc biến đá thành bánh để ăn khi đói chẳng có gì là xấu. Trái lại, ăn khi đói còn là một điều cần thiết để sống còn. Sớm muộn gì thì Ngài cũng phải ăn để sống, nhưng có thể lúc đó chưa tới thời hạn ăn như Ngài đã quyết định từ đầu. Như vậy Ngài phải chọn lựa giữa hai điều đều là tốt cả: một là thỏa mãn nhu cầu ăn để sống, hai là tự chủ để thực hiện đúng điều mình đã quyết định từ trước về thời hạn nhịn ăn khi mà nhịn thêm ít lâu nữa cũng chẳng hại gì. Quyết định nào cũng đều chứng tỏ lập trường của mình là đã coi trọng cái nào hơn cái nào.

Nhờ có hai đối tượng phải lựa chọn mà ta chứng tỏ được ta quí đến mức độ nào cái giá trị mà ta chọn lựa. Nếu phải lựa chọn một viên kim cương khá to với một lượng vàng, chắc chắn ai cũng chọn viên kim cương, và sự lựa chọn ấy không chứng tỏ được giá trị đích thực của viên kim cương. Nhưng nếu phải lựa chọn giữa 100 lượng vàng với viên kim cương, mà ta chọn viên kim cương, thì chứng tỏ ta đã coi viên kim cương có giá trị hơn số vàng ấy (đương nhiên có người chọn khác ta). Thiên Chúa cũng muốn ta chứng tỏ rằng ta coi tình yêu của Ngài giá trị hơn nhà cửa, ruộng vườn, của cải, thậm chí hơn cả anh em, cha mẹ, vợ con của ta, bằng cách tạo dịp để ta lựa chọn giữa Ngài và những giá trị ấy. Chẳng hạn, Ngài nói: «Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy, thì không xứng với Thầy» (Mt 10,37-38). Dịp phải lựa chọn như vậy chính là một thứ cám dỗ. Thiên Chúa đã thử lòng Abraham khi yêu cầu ông sát tế Isaac, con trai duy nhất của mình, để thờ phụng Thiên Chúa. Đương nhiên ông bị cám dỗ từ chối yêu cầu này, nhưng ông đã thắng cơn cám dỗ ấy. Tuy nhiên, Thiên Chúa không để ông giết con của ông, Ngài chỉ thử lòng ông thôi. Qua cơn cám dỗ ấy, ông chứng tỏ được ông đặt nặng tình yêu đối với Thiên Chúa hơn tình yêu đối với đứa con mà ông yêu quý nhất trên đời, và Thiên Chúa rất hài lòng về cái tâm của ông (x. St 22,1-18). 

3.   Những nhu cầu chính đáng trong những cơn cám dỗ

Trong ba cơn cám dỗ của Ðức Giêsu, ta thấy những cơn cám dỗ luôn luôn dựa trên những nhu cầu và giá trị hết sức thực tế và chính đáng của đời sống con người. Những cơn cám dỗ luôn luôn đặt ta giữa hai loại giá trị: một là những giá trị hết sức thực tế của đời sống, hai là những giá trị tâm linh (tình yêu đối với Thiên Chúa, với tha nhân, chân lý, công lý, lý tưởng, v.v.). Nhờ đó ta có dịp chứng tỏ ta coi trọng giá trị nào hơn. Sau đây là những nhu cầu thực tế của đời sống được dùng trong những cơn cám dỗ: 

a. Ứng với cám dỗ thứ nhất của Ðức Giêsu là nhu cầu sự sống (sự an toàn bản thân, ăn uống, tình dục, sự thoải mái, giàu sang): Sự sống là một giá trị rất lớn Thiên Chúa ban cho ta, ta có nhiệm vụ quí trọng và bảo vệ nó, nhưng không phải là với bất cứ giá nào. Có những giá trị còn cao hơn sự sống. Chẳng hạn giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và chính sự sống mình, các thánh tử đạo xưa đã chọn tình yêu Thiên Chúa và sẵn sàng chấp nhận cái chết. 

Trong cuộc đấu tranh cho công lý, chống áp bức bất công, những người đấu tranh như Martin Luther King (người Mỹ da đen), ÐGM Oscar Romero (ở Salvador), LM Jerzy Popieluszko (ở Ba Lan), đã coi công lý, tình yêu đối với người nghèo, người bị áp bức hơn sự an toàn bản thân, thậm chí hơn cả mạng sống mình. Chắc chắn họ cũng rất quí sự sống và sự an toàn bản thân, nghĩa là cũng sợ chết, sợ bị tra tấn, sợ phiền nhiễu. Nhiều khi họ bị cám dỗ chọn lựa sự sống, sự an toàn bản thân hơn những giá trị kia. Nhưng lựa chọn cuối cùng và dứt khoát của họ là chọn công lý xã hội và tình thương đối với với những kẻ bị áp bức hơn chính sự an toàn bản thân. 

Ngược lại, ta cũng thấy có biết bao người vì muốn được an toàn bản thân, muốn bảo vệ nồi cơm hay sự thoải mái đang có được của mình, của gia đình mình, mà sẵn sàng câm lặng trước bất công, sẵn sàng đồng lõa hoặc làm tay sai cho những thế lực gây bất công. Họ đã quí sự sống và nồi cơm, địa vị của họ hơn công lý.

b. Ứng với cám dỗ thứ hai của của Ðức Giêsu là nhu cầu phình to bản ngã (muốn được nổi danh, được nể phục, được coi là quan trọng, được khen tặng, được thỏa mãn tự ái và tính kiêu ngạo): Ai cũng cho «cái tôi» của mình là quan trọng, muốn mình là cái rốn của vũ trụ, và không muốn bị ai xúc phạm. Trong một chừng mực nào đó, thì điều đó là tốt, nhờ đó mới phát sinh lòng tự trọng, giữ uy tín, muốn thăng tiến, v.v. Nhưng vượt quá chừng mực đó thì trở thành điều xấu. Nói chung, danh thơm tiếng tốt, uy tín, sĩ diện. đều là những giá trị hết sức cao quí, đến nỗi Nguyễn công Trứ để phải thốt lên: «Ðã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông», hoặc «Không công danh thà nát với cỏ cây», hay «Trót sinh ra thì phải có chi chi, chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu»

So với những loại giá trị bình thường, ta nên coi danh dự, công danh của mình cao hơn. Vì không coi trọng danh dự, uy tín, ta sẽ bị coi là tiểu nhân. Nhưng vẫn có những giá trị cao hơn công danh, uy tín, đó là những giá trị tâm linh như đã nói trên. Nếu để thăng tiến, phát triển bản thân mà ta phải đối xử thiếu tình người, phải hạ kẻ khác xuống, coi người khác là công cụ, là bàn đạp, là vật hy sinh cho mình, sẵn sàng đội trên đạp dưới, thì có nghĩa là ta đã coi những giá trị ấy cao hơn công lý và tình thương. Tội lỗi phát sinh từ sự lựa chọn sai trái ấy.

c. Ứng với cám dỗ thứ ba của của Ðức Giêsu là nhu cầu thống trị (thích quyền lực, thích làm chủ để điều khiển, muốn mọi sự phải xẩy ra theo ý mình): đây cũng là một nhu cầu rất lớn trong tâm lý con người. Ai cũng thích người khác chiều ý mình, thích áp đặt ý mình lên người khác. Quyền lực cũng là một giá trị. Trong xã hội, cần phải có những người có quyền lực, có quyền ép buộc người khác làm theo lệnh mình. Nhưng quyền lực ấy là để phục vụ xã hội, để tạo an ninh, trật tự và công lý trong xã hội, làm xã hội trở nên tốt đẹp hơn. Quyền lực này có thể đạt được một cách chính đáng bằng tài năng và đức độ của mình nhằm phục vụ xã hội. Nhưng cũng có thể đạt được bằng những phương tiện không chính đáng nhằm được hưởng những đặc quyền đặc lợi trong xã hội chứ không phải để phục vụ. Người sử dụng quyền lực luôn luôn phải lựa chọn giữa hai giá trị: lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Nếu hành động vì lợi ích tập thể thì là thánh thiện, nếu chỉ vì lợi ích cá nhân thì là tội lỗi.

Thiên Chúa luôn luôn muốn chúng ta đặt nặng tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân trên hết mọi sự, mọi giá trị: «Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ» (Mc 12,33). Nhờ có những cơn cám dỗ và thắng được những cơn cám dỗ ấy mà chúng ta mới chứng tỏ được lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, hay những giá trị tâm linh tới mức độ nào.


CẦU NGUYỆN

Chúa nói với tôi: «Những cám dỗ xảy đến với con là do thánh ý của Cha. Cha muốn con có dịp chứng tỏ tình yêu của con đối với Cha, và đối với những giá trị tâm linh mà Cha hằng yêu quí, như Công Lý, Tình Thương và Lòng Thành Thật (Mt 23,23). Nếu con yêu mến Cha thật sự, con phải chứng tỏ được tình yêu ấy trong những thử thách ấy. Sự thành công hay thất bại trong những cơn cám dỗ ấy giúp con xác định được tình yêu của con đối với Cha như thế nào, nó giúp con hiểu biết chính con hơn».

Nguyễn Chính Kết





Share:

Chay1 (đào sâu): Hai loại cám dỗ


CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ I Mùa Chay
(bài đào sâu)

(05-03-2017)


Hai loại cám dỗ 


  TIN MỪNG: Mt 4,1-11

Ðức Giêsu chịu cám dỗ


Câu hỏi gợi ý:
1.   Có cám dỗ nào mà ta có chấp nhận cho xảy ra thì nó mới xảy ra không? Có cám dỗ nào ta không muốn mà nó vẫn đến không? Hai loại cám dỗ ấy, có loại nào có lợi hay có hại cho ta không? 
2.   Ý chí tự do của ta đóng vai trò nào khi bị cám dỗ? Ta có chịu trách nhiệm khi chiều theo cơn cám dỗ không? 
3.   Ma quỷ có lợi dụng những gì có trong ta để cám dỗ ta không? Nếu ta không có những thứ ấy thì ma quỷ có còn cám dỗ được ta nữa không?

Suy tư gợi ý:

Trong đời sống tâm linh và đạo đức, chúng ta thường gặp hai loại cám dỗ mà chúng ta cần phân biệt: những cám dỗ mà ta tự cho phép xảy ra, và những cám dỗ hoàn toàn ngoài ý muốn của ta.

1.   Tự cho phép bị cám dỗ là sự liều mình nguy hiểm

Nhiều khi ta bị cám dỗ là do ta tự nguyện hay liều mình chấp nhận để mình bị cám dỗ. Cám dỗ loại này có ý chí tự do của ta tham dự vào. Vì thế, nếu ta thua cơn cám dỗ thì ta phải chịu trách nhiệm nhiều hơn, nghĩa là tội ta nặng hơn. Do đó, nếu tự lượng sức thấy không nắm chắc phần thắng, thì người khôn ngoan không bao giờ liều chấp nhận để mình bị cám dỗ. Chẳng hạn muốn giữ đức khiết tịnh trong đời sống tu trì cũng như đời sống hôn nhân thì không nên tự cho phép mình giao du quá thân mật và tùy tiện với những người khác phái. Tương tự như muốn kiêng ăn thì đừng để những thức ăn thật ngon trước mặt.

Câu chuyện sau đây minh họa vấn đề này: «Hai vị tăng kia khi trở về chùa phải băng qua một dòng suối rộng đầy nước. Lúc đó, trời sắp tối, có một cô gái cũng muốn băng qua suối nhưng không biết làm cách nào vì không có phương tiện. Thấy thế, vị sư già bèn bồng cô gái qua suối. Khi về tới cổng chùa, vị sư trẻ hỏi vị sư già: “Tại sao thầy lại liều mình đụng chạm tới thân thể phụ nữ như vậy?” Vị sư già trả lời: “Tôi đã bỏ cô gái đó ở ngay bờ suối, tại sao thầy lại đem cô gái về tới tận đây?”».

Vị sư trẻ không dám giúp đỡ cô gái là rất khôn ngoan, vì thầy thấy đó là một sự liều mình nguy hiểm. Nếu thầy đụng chạm tới thân thể cô gái, có thể thầy sẽ phát sinh những tư tưởng không lành mạnh, chẳng những ngay lúc ấy mà còn lâu dài về sau, ảnh hưởng tai hại cho việc tu tập của thầy. Sự sa ngã trong tư tưởng và kết quả tai hại của nó đối với thầy có thể lớn hơn nhiều so với sự thiệt hại của cô gái nếu cô không được giúp đỡ.

Tuy nhiên, vị sư già giúp đỡ cô gái như thế cũng rất đúng, vì ông đã già không còn ham muốn nhiều nữa; thêm vào đó, bản lãnh tu tập cũng đã cao, việc thắng lướt cơn cám dỗ là chuyện dễ dàng đối với ông. Vả lại, lòng từ bi đòi hỏi ông phải ra tay giúp đỡ. Vì thế, sự đụng chạm đến thân thể cô gái chẳng làm ông bị thiệt hại gì. Thật vậy, dù ông đã bồng cô gái qua suối, nhưng tư tưởng của ông «đã bỏ cô gái đó ở ngay bờ suối». Còn vị sư trẻ, tuy không đụng chạm đến cô gái, nhưng bằng tư tưởng, thầy đã đem cô gái về tới tận cổng chùa! May mà thầy từ chối giúp đỡ cô gái! Nếu không thì tư tưởng thầy còn đem cô gái về tới tận đâu nữa!?

Không biết xa tránh những cám dỗ, tự tìm cám dỗ cho mình, hoặc liều mình dấn thân vào những hoàn cảnh khiến mình bị cám dỗ… là những hành động thiếu khôn ngoan và rất nguy hiểm. Và những người tự nguyện để chịu cám dỗ như vậy thường là chẳng chóng thì chầy, cũng bị sa chước cám dỗ. Vì hành động như thế chứng tỏ mình đã có một chiều hướng là sẵn sàng chấp nhận phạm tội rồi! Đối với những cám dỗ này, ta nên áp dụng nguyên tắc «dĩ đào vi thượng sách».

2.   Bị cám dỗ ngoài ý muốn là hồng ân của Thiên Chúa

Tuy nhiên, những cơn cám dỗ hoàn toàn ngoài ý muốn của ta, không do ta mong muốn, lại là những gì cần thiết và ích lợi để ta trưởng thành hơn về tâm linh. Thật vậy, ta phải cám ơn Thiên Chúa đã để ta bị cám dỗ, vì nhờ đó ta mới biết được mình đã yêu Thiên Chúa và thương tha nhân đến mức độ nào, sự thánh thiện của ta được tới đâu. Những cơn cám dỗ giống như những bài trắc nghiệm để chính ta hoặc người khác biết bản lãnh tâm linh ta tới đâu. Thật vậy, mặc dù tổ chức những kỳ thi rất tốn kém, nhưng mọi trường học (từ tiểu học đến đại học), mọi quốc gia, đều phải tổ chức các kỳ thi để xác định được trình độ học vấn và tài năng của các học sinh, sinh viên. Điều đó cho thấy việc trắc nghiệm tài năng – tức các kỳ thi – là một nhu cầu cần thiết và tự nhiên trong đời sống con người.

Trong đời sống tâm linh cũng vậy, ai cũng muốn tiến tới trong đời sống tâm linh, nên Thiên Chúa thường gửi những cơn cám dỗ đến với ta, đó là những dịp trắc nghiệm để ta biết bản lãnh và sự tiến triển tâm linh của ta tới đâu, lòng yêu mến Thiên Chúa và thương yêu tha nhân của ta thế nào để tiếp tục tiến tới. Thiên Chúa trắc nghiệm ta không phải để Ngài biết – vì Ngài không cần trắc nghiệm thì cũng đã biết – mà để chính ta và mọi người biết. Con người thực của ta được bày tỏ rõ rệt hơn khi bị cám dỗ. Cuộc đời ông Gióp là một trường hợp điển hình. Thiên Chúa đã biết rõ lòng trung thành của ông, nhưng Ngài muốn ông Gióp chứng tỏ cho chính ông và mọi người thấy sự trung thành ấy (xem G 1,11-12; 2,5-6).

Nếu ta thật sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, thì mọi cám dỗ đều trở thành những dịp để ta chứng tỏ tình yêu thương ấy và bản lãnh tâm linh của ta. Chỉ những người không có bản lãnh, không có trình độ mới sợ bị trắc nghiệm, vì qua trắc nghiệm họ mới lòi cái dốt, cái kém của họ ra. Vì thế, cần nhìn một cách tích cực về những cơn cám dỗ, đừng nhìn nó như một cái gì tiêu cực. Nếu cám dỗ là một điều xấu, bất lợi cho tâm linh của ta, chắc hẳn Thiên Chúa đã không để nó xảy ra cho ta. Có nhìn tích cực về nó, hiểu được sự cần thiết và ích lợi của nó, ta mới lợi dụng được nó, nó mới trở nên ích lợi cho ta. Vả lại, còn có ơn Chúa luôn giúp ta thắng cám dỗ nữa.

3.   Cơ cấu tâm lý của cám dỗ

Tất cả mọi người, ai cũng đều thấy trong bản thân mình có hai khuynh hướng nội tại ngược chiều nhau:

– Khuynh hướng tốt lôi ta lên để ta trở thành người vị tha, yêu Thiên Chúa và thương tha nhân, sẵn sàng hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân. Người tốt là người để cho lực này thắng thế và càng ngày càng đi lên. Lực này chính là ân sủng của Thiên Chúa nâng đỡ ta.

– Khuynh hướng xấu kéo ta xuống để ta trở thành người ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình và làm lợi cho mình, sẵn sàng hy sinh vinh quang Thiên Chúa và quyền lợi tha nhân cho lợi ích của mình. Người xấu là người để cho lực này thắng thế và càng ngày càng đi xuống. 

Khi khuynh hướng xấu này đang cố kéo ta xuống, đó chính là lúc ta bị cám dỗ. Trong hầu hết mọi trường hợp, hai lực đó ngang bằng với nhau. Và chính ý chí tự do của ta là yếu tố quyết định lực nào thắng: vào chính lúc bị giằng co giữa hai lực ấy, ta thật sự muốn ngả theo lực nào thì lực đó sẽ thắng. Chính vì thế ta chịu trách nhiệm về việc ta thắng hay thua cơn cám dỗ.

Khi bị cám dỗ, nếu không sáng suốt, ta sẽ bị đánh lừa vì sự khéo léo ngụy trang của Satan; hắn là tiêu biểu cho khuynh hướng xấu ở trong ta. Đối với những người có tham vọng, hắn dùng chính những tham vọng hết sức hấp dẫn ấy để cám dỗ ta: hắn dụ hễ làm theo ý hắn thì ta sẽ đạt được tất cả những gì ta ham muốn. Chẳng hạn đối với bà Eva, hắn khơi lên trong bà tham vọng muốn được bằng Thiên Chúa, và đề nghị thực hiện tham vọng ấy bằng cách ăn trái cấm. Đối với những người tương đối đạo đức, Satan thường dùng những chiêu bài thánh thiện để dụ dỗ: chẳng những có lợi cho mình mà còn đúng ý Chúa nữa. Chẳng hạn, khi cám dỗ Đức Giêsu, Satan luôn dùng những câu có thật trong Kinh Thánh để thuyết phục Đức Giêsu, để Ngài lầm tưởng làm theo ý hắn thì không chỉ lợi cho mình mà còn hợp với ý Thiên Chúa nữa. Được cái này lại được luôn cả cái kia thì còn gì khôn ngoan bằng!? Hắn còn có thể sử dụng ngay những nhu cầu hết sức chính đáng của con người – như cái ăn, cái mặc, tiền bạc, nhà cửa – để cám dỗ con người làm theo ý hắn. Chẳng hạn khi Đức Giêsu đói, hắn dụ Ngài sử dụng quyền năng Thiên Chúa để hóa đá thành bánh mà ăn. Hắn khéo léo lắm! Nên phải cẩn thận!

Do đó, nếu ta từ bỏ mọi tham vọng, diệt trừ tham sân si, đừng ham sướng sợ khổ, sẵn sàng chấp nhận nhu cầu của mình không được thỏa mãn, nhất là quyết tâm «từ bỏ chính mình» – tức coi nhẹ «cái tôi» của mình, đừng coi nó quan trọng quá – để có thể «vác thập giá mình mà theo Chúa» (Mt 16,24) thì Satan sẽ khó tìm ra cách để cám dỗ ta.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, khi Cha để con bị cám dỗ hầu con trưởng thành hơn trong tình yêu và bản lãnh tâm linh, thì Cha luôn ban cho con không chỉ đủ mà còn dư tràn sức mạnh để con chiến thắng cám dỗ. Thánh Phaolô đã từng kinh nghiệm: «Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội» (Rm 5,20). Điều quan trọng để con nhận được sức mạnh và ân sủng đó là con phải tin tưởng vào quyền năng và sự dư tràn của ân sủng và sức mạnh Cha ban. Xin cho con tin tưởng vững chãi vào ân sủng Cha.

Nguyễn Chính Kết




Share:

Lễ Tro (bài đào sâu): Yêu đúng nghĩa là yêu thế nào?


CHIA SẺ TIN MỪNG


Thứ Tư LỄ TRO
(Bài đào sâu)

(01-03-2017)


Yêu đúng nghĩa là yêu thế nào?

  TIN MỪNG: Mt 6,1-6,16-18


Bố thí cách kín đáo / Cầu nguyện nơi kín đáo / Ăn chay cách kín đáo



Câu hỏi gợi ý:
1.   Khi làm điều gì tốt đẹp mà ta muốn mọi người đều biết, thì mục đích của ta là gì? Như vậy, ta làm điều đó vì ta, hay vì Thiên Chúa? 
2.   Nếu ta làm điều gì tốt đẹp mà ta chỉ muốn một mình Thiên Chúa biết thôi – vì nếu để mọi người biết thì ta không còn công nghiệp gì trước mặt Thiên Chúa – hầu Thiên Chúa trả công cho ta, ân thưởng ta, thì ta làm điều đó là vì ta, hay vì yêu mến Thiên Chúa? 
3.   Người con hiếu thảo với cha mẹ, khi làm điều gì cho cha mẹ, có mong cha mẹ trả công cho mình không? Nếu mong cha mẹ trả công thì ta hành xử có khác gì một người thợ làm thuê không? Cũng vậy, người yêu mến Thiên Chúa thật sự có mong Ngài trả công cho những gì mình làm vì Ngài không?

Suy tư gợi ý:

1.   Hai khuynh hướng tâm lý

Trong đời sống gia đình và xã hội, ai cũng đều đối diện với hai thực tại căn bản này, là «mình» và «người khác». Dựa trên hai thực tại căn bản này, người ta có hai khuynh hướng tâm lý khác nhau:

– Khuynh hướng vị kỷ: coi «cái tôi» của mình là quan trọng, là trên hết, là mục đích cho mọi hoạt động của mình, vì thế, cũng coi hạnh phúc hay đau khổ của mình, ý kiến hay ước muốn của mình là quan trọng nhất. Tính vị kỷ có thể là thô thiển mà cũng có thể rất vi tế. Người vị kỷ cách thô thiển thì ai nhìn vào cũng thấy họ vị kỷ, vì họ chỉ làm những gì trực tiếp có lợi cho họ mà thôi. Còn người vị kỷ cách tinh vi là người dấu kỹ bản tính vị kỷ của mình dưới vẻ bên ngoài vị tha. Người ta thấy họ hy sinh cho người khác khá nhiều, nhưng thật ra, nếu có hy sinh cho người khác thì họ cũng đều nhắm sự hy sinh ấy cuối cùng phải có lợi cho mình thì mình mới hy sinh.

– Khuynh hướng vị tha: coi người khác và sự đau khổ hay hạnh phúc của người khác là quan trọng; ngược lại, coi bản thân mình và đau khổ hay hạnh phúc của mình không quan trọng bằng. Vì thế, người có khuynh hướng vị tha sẵn sàng hy sinh cho tha nhân một cách vô vị lợi.

2.   Hai thứ tình yêu

Từ hai khuynh hướng căn bản trên phát sinh hai thứ tình yêu: tình yêu vị kỷ và tình yêu vị tha.

– Tình yêu vị kỷ là một tình cảm hướng đến người khác, nhưng cuối cùng lại quy về chính mình. Người đời, ai cũng bị hấp dẫn bởi những cái hay, cái đẹp, cái có lợi cho mình nơi sự vật hoặc nơi người khác, khiến cho mình thích thưởng thức cái hay, đẹp, cái có lợi ấy để được vui thú, hạnh phúc hơn. Tình yêu vị kỷ là sự gắn bó với một vật hay một người để có thể thưởng thức cái hay, đẹp, có lợi cho mình nơi vật hay người đó. Chẳng hạn, ta thích tiếng hót của một con chim vì nó làm ta thích thú, quên đi sầu não. Vì thế, ta nuôi nó, trìu mến nó, vì nó có lợi cho ta. Chung quy ta gắn bó với nó cũng vì nhu cầu của hay hạnh phúc của ta. Khi ta yêu một người chỉ vì người ấy đẹp, người ấy dễ thương, vì ở bên người ấy thì ta dễ chịu, thoải mái, và vì người ấy thỏa mãn được một số nhu cầu (tình cảm, kinh tế, v.v…) của ta. Tình yêu đó là một tình yêu vị kỷ.

– Tình yêu vị tha là một sự dấn thân của ý chí tự do hơn là một tình cảm tự nhiên. Nó là sự thúc đẩy của lương tri, của lương tâm khiến ta gắn bó và hy sinh cho một đối tượng nào đó. Đối tượng này có thể không có được những cái hay, cái đẹp, cái có lợi cho ta. Và ta yêu họ không phải chỉ vì những cái hay, cái đẹp, cái có lợi ấy. Thậm chí họ có thể là cái gì bất lợi cho ta, làm hại ta. Ta yêu họ chỉ vì ta nhận thức được họ là hình ảnh hay hiện thân của Thiên Chúa, cũng là «cái tôi nối dài» của ta trong Nhiệm Thể của Thiên Chúa. Sự hy sinh của ta cho họ là vô vị lợi, vì hạnh phúc của họ chứ không phải của ta. Đó mới chính là tình yêu mà Thiên Chúa muốn ta có. Và với tình yêu này thì yêu tha nhân cũng chính là yêu Thiên Chúa.

3.   Hai khuynh hướng đạo đức

Từ hai thực tại căn bản nói trên – là «mình» và «người khác» –, và từ hai thứ tình yêu nói trên, phát xuất ra hai khuynh hướng đạo đức khác nhau: đạo đức vị kỷ và đạo đức vị tha.

– Đạo đức vị kỷ là thứ đạo đức của người có khuynh hướng vị kỷ, và có tình yêu vị kỷ. Mọi việc làm đạo đức của họ đều lấy chính họ làm mục đích. Họ chỉ làm những việc tốt đẹp khi nào việc ấy có lợi cho họ, cho hạnh phúc của họ, hoặc ở đời này hoặc ở đời sau. Họ phải «yêu Chúa», «yêu tha nhân» – tạm gọi như vậy – vì luật Chúa đòi hỏi như vậy: nếu không yêu Chúa, không yêu tha nhân thì không được lên thiên đàng. Làm việc gì thì họ cũng đều phải nghĩ đến chuyện Chúa sẽ trả công bội hậu cho công việc ấy, ở đời này hoặc đời sau. Nếu Chúa mà không trả công thì làm làm gì cho mệt? Đó là những người đạo đức vị kỷ kiểu vi tế.

Còn những người đạo đức vị kỷ kiểu thô thiển thì họ thực tế hơn nhiều, họ không nhắm Chúa trả công cho bằng được người khác hay được mọi người “trả công”. Chẳng hạn khi làm một việc tốt lành nào thì họ muốn mọi người đều biết để khen ngợi, nể phục họ, để họ được tiếng là thánh thiện, đạo đức, tốt lành, nhân hậu, biết thương người, v.v… Nhờ vậy, họ có uy tín trước mặt người đời, được mọi người trọng vọng, và có thể vì thế mà họ được nhiều cái lợi khác về mặt xã hội: làm ăn dễ dàng hơn, dễ thăng quan tiến chức, dễ có những địa vị cao ngoài xã hội, trong Giáo Hội. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu mô tả thứ đạo đức này và khuyên ta nên vượt lên trên.

Tóm lại, người đạo đức vị kỷ kiểu thô thiển hay vi tế, trong các hoạt động của họ, đều không thể có một động lực nào khác hơn lợi ích của chính bản thân họ.

– Đạo đức vị tha là thứ đạo đức của người có khuynh hướng vị tha và có tình yêu vị tha. Họ yêu Chúa là vì Chúa, yêu tha nhân là vì tha nhân, không cần một sự trả công hay phần thưởng nào cho những hy sinh hay hoạt động của họ, cho dù ở đời này hay đời sau. Tình yêu tự nó là động lực duy nhất thúc đẩy họ làm tất cả cho người mình yêu. Họ đúng là người thật sự quên mình, từ bỏ mình như Đức Giêsu đòi buộc đối với những ai theo Ngài. Tuy dù họ không làm vì ích lợi cho họ, nhưng họ chính là người có khả năng hy sinh nhiều nhất cho Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, tuy dù họ chẳng cần một phần thưởng hay sự trả công nào cả, nhưng họ mới chính là những người đáng thưởng nhất, và phần thưởng dành cho họ sẽ là bội hậu nhất. Vì họ mới chính là người yêu thật sự.

Hôm nay chúng ta bước vào mùa Chay, thiết tưởng đây là thời điểm thuận tiện nhất để ta sám hối, để ta suy nghĩ về tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Hãy nghiêm túc phản tỉnh, hồi tâm, xét lại xem tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân có đích thực là tình yêu hay không? Hay đó chỉ là một tình yêu giả hiệu, tình yêu vị kỷ: có vẻ như ta yêu Thiên Chúa và tha nhân, nhưng thực ra là ta chỉ yêu chính bản thân ta thôi. Và đạo đức của ta là thứ đạo đức gì? Đạo đức vị kỷ hay đạo đức vị tha? Muốn biết được tình yêu và đạo đức của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân có đích thực hay không, khi làm điều gì tốt đẹp, hãy tự hỏi: Nếu tôi làm việc tốt lành này mà không ai biết tới, mà Thiên Chúa không trả công cho tôi, thì tôi có còn muốn làm hay không?


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, yêu Cha và yêu tha nhân bằng một tình yêu đúng nghĩa thật là khó. Hồi tâm phản tỉnh lại, con nhận ra rằng tình yêu con dành cho Cha và tha nhân chỉ là thứ tình yêu vị kỷ. Nghĩa là xét cho cùng, con chỉ yêu bản thân con thôi, chứ chưa thật sự yêu Cha và yêu tha nhân chung quanh con. Và thứ đạo đức con đang có chỉ là thứ đạo đức vị kỷ. Nhưng con thường nghe được tiếng Cha mời gọi con yêu thương bằng một tình yêu đích thực, vị tha, như tình yêu mà Cha yêu thương con, yêu thương nhân loại. Con biết rằng chỉ khi con yêu được như vậy, con mới trở nên hình ảnh trung thực của Cha.

Nguyễn Chính Kết







Share: