Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

PS6a - Có thể yêu Thiên Chúa mà không yêu đồng loại chăng?



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 6 Phục Sinh
(21-5-2017)

Có thể yêu Thiên Chúa mà không yêu đồng loại chăng?



ĐỌC LỜI CHÚA

  Cv 8,5-8.14-17: (15) Hai ông (Phêrô và Gioan) cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần. (16) Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. (17) Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần

  1Pr 3,15-18: (15) Ðức Kitô là Ðấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. (16) Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng.

  TIN MỪNG: Ga 14,15-21

Báo trước Ðấng Bảo Trợ


Khi ấy, Ðức Giê-su nói với các môn đệ: (15) Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. (16) Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. (17) Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. (18) Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. (19) Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. 

Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. (20) Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. (21) Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Ðức Giêsu nói: «Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy» (Ga 14,15). Các điều răn của Thầy ở đây là những điều răn cụ thể nào? Hãy lấy Kinh Thánh chứng tỏ điều ấy. 
2.   Ðức Giêsu có đưa ra một tiêu chuẩn nào để dựa vào đó ta có thể biết ai là người yêu mến Thiên Chúa đích thực, là môn đệ đích thực của Ngài không? 
3.   Ðức Giêsu hứa ban Thánh Thần cho những ai? Bạn quan niệm thế nào về Thánh Thần? Và muốn lãnh nhận Thánh Thần ta phải làm gì?

Suy tư gợi ý:

1. Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy

Người Kitô hữu, theo định nghĩa, là người «có Ðức Kitô» nhờ theo Ngài và yêu mến Ngài. Người không yêu mến Ngài, không theo Ngài, thì không có Ngài, nên không phải là Kitô hữu đích thực. Khi yêu mến Ngài, thì ta sống trong tình trạng: «Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em» (Ga 14,20). Thật vậy, người ta chỉ sống trong nhau, vì nhau, cho nhau, khi người ta yêu thương nhau thật sự. Vì thế, chúng ta chỉ sống trong Ðức Kitô, và được Ðức Kitô sống trong ta, khi ta yêu mến Ngài.

Nhưng làm sao yêu mến Ngài được, khi mà một cách hữu hình ta không hề thấy Ngài, nghe Ngài nói, động chạm đến Ngài? Ngài cho chúng ta một tiêu chuẩn để dựa vào đó mà biết mình có yêu Ngài hay không: «Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy» (Ga 14,15). Nhưng điều răn của Ngài là gì? Có phải là đi lễ, đọc kinh hay cầu nguyện hằng ngày? Ðiều ấy chắc chắn là đúng, nhưng có thể chưa phải là điều cốt yếu. 

Ðiều cốt yếu trong giới răn của Ngài đã được chính Ngài xác định rõ ràng như sau: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau» (Ga 12,34). Ngài cũng xác định luôn cả mức độ yêu: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (nt). Như vậy, câu nói của Ngài «nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy» (Ga 14,15) có nghĩa là nếu anh em yêu mến Thầy, thì anh em phải yêu thương nhau. Nói khác đi, ai yêu thương những người lân cận hay những người chung quanh mình mới là người thật sự yêu mến Thiên Chúa hay Ðức Giêsu. 

Nói cách khác nữa, ai không yêu những người gần gũi mình, những người mình gặp gỡ hằng ngày, người ấy không thật sự yêu mến Thiên Chúa. Thánh Gioan đã diễn giải điều này rõ hơn nữa: «Nếu ai nói : "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (Ga 4,20).


2. Làm sao phân biệt Kitô hữu đích thực và không đích thực?

Ðức Giêsu còn đưa ra một tiêu chuẩn để nhận ra ai là môn đệ đích thật của Ngài: «Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 12,35). Ðọc lời Kinh Thánh trên, tôi nghĩ ngay đến những tiêu chuẩn mà tôi thường dùng để phân biệt hàng hóa nào là thật, hàng nào là giả mạo. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều hàng giả mạo, thậm chí tiền cũng bị giả mạo nữa. Nhưng những người có kinh nghiệm nghề nghiệp vẫn luôn luôn có những tiêu chuẩn để phân biệt, nhờ vậy họ ít khi bị lầm. Chẳng hạn tôi đã có dịp so sánh hai loại tiền 50.000đ thật và giả. Loại giả thì giấy mỏng hơn, không cứng và dai bằng loại thật, màu sắc cũng không tươi nhuận bằng. Nhờ tiêu chuẩn ấy, cứ nhìn và cầm tiền giả trong tay là tôi biết ngay.

Cũng vậy, Ðức Giêsu đã đưa ra một tiêu chuẩn để mọi người có thể nhận ra ai là môn đệ đích thực của Ngài và ai là người chỉ mang danh hiệu môn đệ Ngài mà thôi. Ðó là dựa trên tình yêu của người ấy đối với đồng loại, cụ thể là những người gần gũi sống chung quanh họ. Tình yêu cụ thể đối với đồng loại là tính chất đặc trưng nhất của những người theo Ðức Giêsu. Hễ thấy ai có đặc trưng ấy, ta biết người ấy là môn đệ Ðức Giêsu. Ai không có đặc trưng ấy, thì dù có mang danh là môn đệ Ngài, họ cũng chỉ là thứ môn đệ hữu danh vô thực, giả hiệu mà thôi.

Thánh Phaolô nói: «Người Do-thái chính hiệu không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài, phép cắt bì chính hiệu không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài, nơi thân xác. Nhưng người Do-thái chính hiệu là người Do-thái tận đáy lòng, phép cắt bì chính hiệu là phép cắt bì trong tâm hồn, theo tinh thần của Lề Luật chứ không phải theo chữ viết của Lề Luật» (Rm 2,28-29). Nếu đúng như vậy, thì một cách tương tự, không thể căn cứ vào danh hiệu Kitô hữu, vào việc có rửa tội hay không để xác định người ấy có phải là Kitô hữu đích thực hay không, mà phải căn cứ vào việc người ấy có tình yêu đối với tha nhân hay không.

3. «Thầy sẽ xin cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác» 

Ðức Giêsu hứa ban Thánh Thần cho những ai giữ các điều răn của Ngài là yêu thương tha nhân: «Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em» (Ga 14,15-17). Như vậy, phần thưởng lớn nhất mà Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến Ðức Giêsu, được thể hiện cụ thể bằng việc yêu thương tha nhân, chính là được Ngài ban Thánh Thần cho. Nhưng Thánh Thần là ai? Ðược ban Thánh Thần thì có gì đặc biệt?

Trước hết, theo Ðức Giêsu, Thánh Thần là một «Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi» (Ga 14,16b). Theo tinh thần của câu này, thì Ðức Giêsu là một Ðấng Bảo Trợ đến trước, còn Thánh Thần là một «Ðấng Bảo Trợ khác» đến sau Ngài. Thánh Thần là «Thần Khí sự thật» (Ga 14,17a). Ai yêu sự thật, muốn biết rõ sự thật, ắt hẳn sẽ thấy Thần Khí sự thật này rất cần thiết cho mình và xã hội, hay thế giới. Nhưng vì thế gian không yêu sự chân thật, nên Ðức Giêsu mới nói Thánh Thần là «Ðấng mà thế gian không thể đón nhận» (Ga 14,17a).

Thánh Thần hay «Thần Khí Thiên Chúa» (Mt 3,16; Rm 8,14; 1Cr 2,14; v.v...) là một thực tại được nói đến rất nhiều trong Thánh Kinh, nhất là Tân Ước. Có thể nói Thánh Thần là sức sống, là tình yêu, sức mạnh, là sự khôn ngoan, thánh thiện của Thiên Chúa. Và Thiên Chúa đã ban Thánh Thần của Ngài cho Giáo Hội, cho chúng ta, nhất là cho những ai yêu mến Thiên Chúa hay Ðức Giêsu, được thể hiện qua việc yêu thương tha nhân.

Ðọc sách Tông đồ Công vụ, ta nhận thấy mọi hoạt động trong Giáo Hội thời ấy đều do Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn, thúc đẩy. Ngài tác động trực tiếp trên tâm trí người này người kia. Và những người được tràn đầy Thánh Thần qua việc đặt tay của các tông đồ (x. Cv 8,17-18; 19,6; ) để được biến đổi một cách kỳ diệu: họ trở nên yêu mến Thiên Chúa, Giáo Hội và sẵn sàng hy sinh cho tha nhân một cách hăng say, trở nên mạnh mẽ, can đảm, không sợ khó khăn, nguy hiểm, hay cả cái chết, trở nên khôn ngoan, sáng suốt phi thường, có thể làm nên những phép lạ. Ðặc biệt họ trở nên bình an, hạnh phúc bất chấp những hoàn cảnh khó khăn bên ngoài như bị bách hại, ghen ghét. Tư cách của những người được tràn đầy Thánh Thần hết sức phi thường. Thánh Phao-lô đã diễn tả những đức tính mà những người đã lãnh nhận Thánh Thần có được như sau: «Hoa quả của Thần Khí là : bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ» (Gl 5,22-23).

Theo lời Ðức Giêsu hứa, nếu ta tuân giữ các giới răn của Ngài, cụ thể là yêu thương tha nhân như chính Ngài đã yêu thương ta và yêu thương họ, thì ta sẽ nhận được Thánh Thần (x. Ga 14,15-16). Nhờ đó, đời sống của ta sẽ được biến đổi một cách kỳ diệu và phi thường. Và chắc chắn ta sẽ đạt được sự sống vĩnh cửu, vì kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời (Gl 6:8). Vậy muốn được tràn đầy Thánh Thần, ta phải yêu thương tha nhân.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, qua bài Tin Mừng trên, con nhận ra một cách rất hữu hiệu để được Cha và Ðức Giêsu yêu mến, tỏ mình ra cho, đồng thời được ban tràn đầy Thánh Thần, đó là tuân giữ giới răn yêu thương của Ðức Giêsu. Xin cho con xác tín rằng tình yêu của con đối với Cha hay Ðức Giêsu phải được thể hiện ra bằng việc yêu thương tha nhân, cụ thể là yêu những người trong gia đình con, những người cùng làm việc với con trong xưởng thợ, những người hàng xóm, những bạn bè con gặp hằng ngày. Xin giúp con yêu họ cụ thể bằng sự quan tâm đến những niềm vui hay nỗi đau khổ của họ, đồng thời sẵn sàng hy sinh để giúp họ hạnh phúc hơn.  

Share:

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

PS5b - Có đúng không khi nói: «Ai thấy tha nhân là thấy Chúa Cha»?

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 5 Phục Sinh 
(14-5-2017)

(Bài đào sâu)

Có đúng không khi nói: «Ai thấy tha nhân là thấy Chúa Cha»?



  TIN MỪNG: Ga 14,1-12

Những lời cáo biệt


Câu hỏi gợi ý:

1.   Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa Ba Ngôi, Ba Ngôi đa dạng và khác biệt nhau, Ngài tạo dựng nên vũ trụ cũng vô cùng đa dạng và đầy khác biệt. Điều đó có ý nghĩa gì? Trong bối cảnh ấy, câu nói của Đức Giêsu: «Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở» có ý nghĩa gì?  
2.   Đức Giêsu nói: «Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha». Chúa Cha vô hình, Đức Giêsu hữu hình, sao lại nói như thế được? Câu này phải hiểu thế nào?  
3.   Bây giờ đâu ai thấy Đức Giêsu nữa. Vậy thì có cách gì khác để thấy Thiên Chúa? Có thể nói: «Ai thấy tha nhân là thấy Chúa Cha» không? Tại sao?


Suy tư gợi ý:

Trong bài Tin Mừng này, Đức Giêsu nói về hai thực tại siêu hình mà không ai ở trần gian này có thể hiểu thấu hay kinh nghiệm trực tiếp được. Trước hết Ngài nói về Nhà Cha Ngài, nơi Ngài và những kẻ theo Ngài sẽ đến. Ngài đã đến đó trước để chuẩn bị cho chúng ta, những người sẽ đến sau này. Kế đó, Ngài nói đến chính Thiên Chúa, Cha của Ngài.


1. Đức Giêsu nói về Nhà Cha Ngài, hay thiên đàng

Ngài nói: «Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở» (Ga 14,2). Nếu Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa với Ba Ngôi khác nhau nhưng lại bằng nhau, đã tạo dựng nên một vũ trụ hết sức đa dạng với đủ mọi giống loài khác nhau, ắt Thiên Chúa của chúng ta phải là một Thiên Chúa rất thích sự đa dạng và bình đẳng

Tất cả mọi sự Ngài dựng nên đều đa dạng, đều gồm nhiều loại khác nhau. Riêng con người, là «hình ảnh của Ngài» (St 1,27), thì có nam có nữ, có nhiều chủng loại (da trắng, da đen, da màu), nhiều dân tộc, nhiều quốc gia, nhiều tôn giáo, nhiều nền văn hóa, nhiều tính tình, nhiều khuynh hướng khác nhau. Ngay trong cơ thể một con người thì cũng gồm nhiều cơ quan rất khác nhau. Như thế, ắt ở trên thiên đàng, Ngài cũng phải tạo lập nhiều «chỗ ở» rất khác nhau phù hợp với sự đa dạng của con người.

Thiên Chúa của chúng ta vốn đa dạng ngay từ bản tính (vì là Ba Ngôi khác nhau), và sự đa dạng ắt phải là bản chất mọi đường lối của Ngài. Thế nhưng con người – vốn được tạo dựng nên rất đa dạng – do lòng ích kỷ, tự kiêu và óc bè phái của mình, lại có khuynh hướng thích độc dạng. Họ không muốn những ai khác mình, có niềm tin, chủ trương hay đường lối khác mình… được tồn tại và phát triển. Họ chỉ muốn bè phái mình, văn hóa của mình, ý thức hệ của mình, tôn giáo của mình tồn tại và phát triển mà thôi. Vì thế, họ tìm cách thuyết phục hoặc ép buộc người khác phải giống mình, theo mình. Họ muốn thống nhất mọi sự trong sự đồng dạng hay độc dạng, và dạng mà họ muốn mọi người đều có chính là dạng của họ.
(Hiện nay, một số nước Âu Châu như Đức, Pháp, Thụy Điển, v.v... đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc đối phó với sự hỗn loạn do não trạng "độc tôn tôn giáo" của các tín đồ Hồi giáo mà các nước ấy chấp nhận cho họ vào tị nạn gây nên. Họ quyết tâm biến những nước chấp nhận cho họ vào tị nạn [thậm chí cả thế giới] thành những quốc gia Hồi giáo. Dường như họ chỉ biết yêu Thiên Chúa mà họ gọi là Allah, chứ không chấp nhận yêu đồng loại) 
(Mời xem: "Vấn Đề Di Dân Hồi Giáo": http://www.chinhphuong.net/van-de-di-dan-hoi-giao/)

Đó chính là một ước muốn đi ngược lại tự nhiên, ngược lại đường lối của Thiên Chúa. Vì thế, càng muốn thống nhất, càng không chấp nhận sự khác biệt của nhau, thì con người càng bị chia rẽ. Câu chuyện về tháp Baben (x. St 11,1-9) là một bài học điển hình mà con người suốt bao thế hệ học mãi vẫn không thuộc. Con người muốn thống nhất mọi sự: «Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất» (St 11,4). Nhưng điều đó ngược lại thánh ý Thiên Chúa, nên Ngài đã quyết định «làm xáo trộn tiếng nói của mọi người, và phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất» (St 11,9).

Trong quá khứ, Giáo Hội Công giáo cũng đã từng bị cám dỗ muốn thống nhất trong đồng dạng hơn là hiệp nhất trong đa dạng. Lịch sử cho thấy mỗi lần Giáo Hội thống nhất thêm một chi tiết về đức tin thì lại có thêm một bè rối hoặc một giáo phái ly khai. Vì thế, hiện nay sự hiệp nhất trong Giáo Hội đã bị sứt mẻ rất nhiều. Do đó, trong Tông Thư «Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba» (Tertio Millennio Adveniente), Đức Gioan-Phaolô II đã kêu gọi Giáo Hội sám hối vì trong các thiên niên kỷ trước, Giáo Hội một phần nào đã «phá hỏng sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn có nơi Dân Ngài» (số 34). Và hiện nay Giáo Hội đang muốn sửa chữa lại những sứt mẻ ấy. Nhưng thiết tưởng Giáo Hội chỉ có thể thành công nếu chủ trương hiệp nhất chứ không thống nhất. 

Hiệp nhất là tập hợp những con người hay tập thể khác nhau, có chủ trương khác nhau thành một tập thể lớn có một đường hướng chung, nhưng vẫn tôn trọng sự khác biệt của nhau. Còn thống nhất là dẹp bỏ tất cả những khác biệt để trở nên một khối đồng nhất, đồng dạng. Hiện nay, sau Công đồng Vatican II, trên lý thuyết, Giáo Hội đang chủ trương hiệp nhất trong đa dạng. Ước mong chủ trương ấy đang được thực hiện.

Đang khi Đức Giêsu muốn dọn chỗ cho mọi người trên thiên đàng, thì lại có nhiều người muốn hạn chế số người được vào thiên đàng vì họ mong rằng chỉ những ai cùng tôn giáo, cùng niềm tin, cùng chủ trương với mình mới được vào đấy mà thôi. Tôi e rằng chính những người này sẽ không thích hợp với một thiên đàng «có nhiều chỗ ở», rất phong phú và đa dạng theo ý của Thiên Chúa.


2. Đức Giêsu nói về Thiên Chúa hay Cha của Ngài

Chẳng ai thấy được Thiên Chúa vì Ngài vô hình đối với mọi giác quan con người. Nhưng kinh nghiệm về Thiên Chúa thì ai cũng có thể có được. Tương tự như dòng điện chẳng ai có thể thấy được, nhưng thời nay, ai cũng có đầy ắp kinh nghiệm về điện, cho dù là trẻ con. Thật vậy, khi cả phố đang bị cúp điện mà bắt đầu có điện lại, là ta thấy đám trẻ con trong xóm la ầm lên ngay: «Có điện rồi!» 

Dòng điện không thể thấy được, vậy tại sao khi có điện chúng lại nhận ra ngay? Chính vì chúng thấy dòng điện biểu hiện thành đèn sáng, quạt quay, tivi có hình, v.v… Cũng vậy đối với Thiên Chúa. Tất cả những gì hiện hữu và hoạt động ở trong bản thân ta và chung quanh ta đều là những biểu hiện của Thiên Chúa. Vì không có Thiên Chúa thì không thể có tất cả những thứ ấy. Vì thế, thật là ngớ ngẩn khi Philípphê yêu cầu Đức Giêsu: «Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha». Yêu cầu ấy cũng ngớ ngẩn y như yêu cầu của một em bé đang coi tivi dưới ánh đèn sáng choang: «Bố ơi, xin cho con thấy điện là gì? ở đâu?» Bố em sẽ chỉ vào tivi đang có hình và bóng đèn đang sáng ngay trước mặt, nói: «Điện đấy con!».

Thiên Chúa không thể thấy được, nhưng biểu hiện rõ nét nhất của Ngài là Đức Giêsu, Con yêu quý của Ngài. Thánh Phaolô viết: «Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa» (Dt 1,3; x. Cl 1,15). Vì thế, Đức Giêsu mới nói với Philípphê: «Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha» (Ga 14,9), phần nào tương tự như: ai thấy đèn sáng là thấy dòng điện. 

Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, Ngài giống Thiên Chúa Cha chắc chắn không phải ở thân xác, mà chủ yếu là ở tình yêu vô biên của Ngài đối với nhân loại và vũ trụ. Không gì biểu hiện Thiên Chúa cách trung thực cho bằng tình yêu chân thật, nhất là thứ «tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13). Ai càng có nhiều tình yêu chân thật thì càng giống Thiên Chúa; vì từ bản chất, «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16), mà Đức Giêsu là người có tình yêu cao cả nhất. Vì thế, tình yêu mới chính là bản chất cốt yếu của sự thánh thiện, hơn là việc có nhiều nhân đức hay sự trong sạch. Trong sạch như thiên thần, đầy nhân đức như Đức Mẹ mà thiếu tình yêu thì cũng chỉ như một dãy số không thiếu số 1 đứng đầu.

Tuy nhiên, biểu hiện của Thiên Chúa không chỉ có Đức Giêsu, mà còn là tất cả những gì hiện hữu và hoạt động trong vũ trụ, vì không gì có thể hiện hữu hay hoạt động mà không do Thiên Chúa, hoặc không có nền tảng là Thiên Chúa. Nhưng một trong những biểu hiện rất rõ nét và cụ thể của Thiên Chúa chính là những người sống chung quanh ta, những người mà ta gặp trong cuộc đời. Họ cũng chính là hiện thân và là hình ảnh của Thiên Chúa đối với ta (x. St 1,27). Kinh Thánh đã xác nhận điều đó trong rất nhiều câu như: «Mỗi lần các ngươi làm (/không làm) điều gì cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm (/không làm) cho chính Ta» (Mt 25,40.45). 

Vì thế, ta không cần phải tìm gặp Thiên Chúa ở đâu xa. Lời Đức Giêsu nói với Philípphê (Ga 14,9) có thể đổi lại thành: «Ai thấy tha nhân là thấy Chúa Cha».  Vì thế, tình yêu và cách đối xử của ta đối với tha nhân sẽ được Thiên Chúa chính thức coi là tình yêu và cách đối xử thực tế nhất với chính Ngài, hơn là những biểu lộ tình yêu đối với Ngài trong những nghi thức tôn giáo bề ngoài (x. Mt 25,40.45). Rất nhiều Kitô hữu không nắm được điều cốt yếu và cần thiết này, nên có thể họ sẽ rất ngạc nhiên khi thấy Chúa nói với họ trong ngày phán xét: «Ta không hề biết các ngươi; hỡi bọn làm điều gian ác» (Mt 7,23).

«Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!"» (Mt 7,21-23)

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con cảm nghiệm về Cha cách sâu xa và dễ dàng nhất khi con cảm nghiệm về chính bản thân con. Bản thân con chính là tác phẩm của Cha với biết bao kỳ diệu hàm ẩn trong đó. Vì thế, biểu hiện cụ thể nhất, dễ cảm nghiệm nhất về sự hiện hữu của Cha đối với con chính là sự hiện hữu đầy kỳ diệu của chính bản thân con và của bao người khác mà con gặp hằng ngày. Con và họ cũng chính là biểu hiện của Cha. Xin Cha hãy biến con thành một biểu hiện trung thực của Cha trước mặt mọi người bằng cách đổ tràn tình yêu chân thật của Cha vào trong con, để con yêu thương mọi người như chính Cha và Đức Giêsu yêu thương con. Để qua tình yêu chân thật của con, mọi người đều nhận ra Cha ở nơi con.


Share:

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Ps5a - Mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 5 Phục Sinh 
(14-5-2017)

«Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người» 



ĐỌC LỜI CHÚA

  Cv 6,1-7: (2) Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. (3) Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. (4) Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa

  1Pr 2,4-9:  (9) Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người.


  TIN MỪNG: Ga 14,1-12

Những lời cáo biệt


Khi ấy, Ðức Giêsu nói với các môn đệ: (1) Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. (2) Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; Thầy đã nói với anh em rồi, Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em. (3) Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. (4) Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.

(5) Ông Tôma nói với Ðức Giêsu: Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? (6) Ðức Giêsu đáp: Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. (7) Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.

(8) Ông Philípphê nói: Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện. (9) Ðức Giêsu trả lời: Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? (10) Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Ðấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (11) Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. (12) Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   «Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em», Câu này có ý nghĩa gì? Ðức Giêsu đi đâu? Dọn chỗ là gì và dọn ở đâu? 
2.   «Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở», Câu này có ý nghĩa gì? Trên thiên đàng nơi sống đời đời hạnh phúc có dung nạp đủ mọi hạng người đầy tính đa dạng và khác biệt như ở trần gian không? 
3.   «Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha», Có thể thấy Chúa Cha hay Ðức Giêsu gần gũi và cụ thể nhất ở đâu?


Suy tư gợi ý:

1. Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em ở trong nhà Cha Thầy

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu cho biết Ngài đi là để dọn chỗ cho anh em ở trong nhà Cha Thầy. Ðây là một trong những lời cáo biệt của Ngài với các môn đệ trước khi Ngài bước vào cuộc khổ nạn và chết trên thật giá. Vì thế, chữ «đi» ở đây có nghĩa là đi vào đau khổ và cái chết. «Dọn chỗ cho anh em trong nhà Cha Thầy» có nghĩa là chuẩn bị sự sống đời đời cho con người. Như vậy, Ðức Giêsu đã dùng sự đau khổ và sự chết để chuẩn bị sự sống đời đời cho con người. Nói cách khác, nhờ đau khổ và cái chết, Ngài trở thành con đường dẫn tới sự sống đời đời.

Ngài đã phải đau khổ và chết mới có thể đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Phần chúng ta, để hưởng được sự sống đời đời ấy, chúng ta cũng phải góp một phần nào hy sinh và đau khổ của mình vào khi quyết tâm sống phù hợp với sự đòi hỏi của tình yêu. Tình yêu ở đây là tình yêu đối với Thiên Chúa được cụ thể hóa thành tình yêu đối với tha nhân. Tình yêu luôn đòi hỏi phải được chứng tỏ cụ thể bằng đau khổ và hy sinh. Không chấp nhận đau khổ và hy sinh cho ai hết có nghĩa là không yêu ai cả. Nhưng yêu cũng là chấp nhận sự khác biệt giữa mình và người mình yêu.


2. «Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở»

Ðức Giêsu phải chịu đau khổ và chết không phải chỉ để cứu rỡi hay đem lại sự sống đời đời cho một mình ta, hay nhóm của ta, cộng đoàn của ta, Giáo Hội của ta, hoặc những người có cùng khuynh hướng với ta. Ngài muốn cứu tất cả mọi người, mọi khuynh hướng, mọi cộng đoàn, mọi tập thể khác nhau. Thánh Phao-lô viết: «Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng ta, muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý» (1Tm 2,4). Ðiều đó đã được Ðức Giêsu tỏ cho biết trong câu: «Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở». «Nhiều chỗ ở» ở đây không chỉ có nghĩa về không gian, mà có nghĩa là dung nạp được nhiều: nhiều người, nhiều chủng tộc, màu da, khuynh hướng (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm linh, tôn giáo, v.v...).

Nhìn trong thế giới tự nhiên này, ta thấy sự vật hết sức đa dạng, nghĩa là đủ loài đủ kiểu, rất khác biệt nhau. Thế giới sẽ trở nên đơn điệu và buồn tẻ biết bao nếu thiếu sự đa dạng và khác biệt ấy. Hãy thử tưởng tượng xem: nếu trên đời chỉ có một loài hoa duy nhất cho dù hết sức đẹp, hoa nào cũng giống y hệt hoa nào, thì chúng đâu thỏa mãn nhu cầu thích cái đẹp của con người như khi có hàng trăm ngàn loài hoa khác nhau như trong thế giới ta đang sống đây! Thế giới này sẽ ra sao nếu chỉ có một loài chim, một loại cá, hay tệ hơn, chỉ có một loài thú duy nhất?

Thế giới tuy đa dạng và đầy khác biệt, các loài các vật trong đó vẫn luôn luôn hài hòa, bổ túc cho nhau, ăn khớp với nhau. Nếu thế giới tự nhiên đầy bất toàn này mà còn phong phú đa dạng như thế, còn có sự hài hòa giữa những khác biệt như thế, thì sự sống đời đời hay thiên đàng, là một thực tại hoàn hảo, ắt nhiên phải phong phú, đa dạng và nhất là hài hòa hơn biết bao!

Vì thế, ngay ở đời này, chúng ta cũng cần trang bị cho mình một tinh thần sẵn sàng chấp nhận mọi khác biệt nơi những người chung quanh chúng ta. Chính Thiên Chúa đã dựng nên con người và vạn vật đầy khác biệt như thế. Vì thế, mọi thành viên của Thiên Ðàng đều phải có khả năng chấp nhận khác biệt rất cao độ để sự hài hòa giữa những khác biệt ấy trở nên hoàn hảo. Ðiều ấy đòi hỏi họ phải có tình yêu và lòng bao dung cao độ. Nếu không có tình yêu và lòng bao dung, thiên đàng không còn là thiên đàng nữa, sự sống đời đời không còn là hạnh phúc nữa.

Nếu ta đang giận hờn ai, không muốn nhìn mặt ai, ghét cay ghét đắng ai, và chủ trương không thể sống chung với họ, không thể cùng đội chung một bầu trời với họ, v.v., hãy tự hỏi: nếu cả hai gặp nhau trên thiên đàng, ta sẽ đối xử với người ấy thế nào? Người ấy cũng được Thiên Chúa và Ðức Giêsu yêu thương, cứu chuộc, tha thứ như ta. Nếu lúc ấy ta không thể nhìn người ấy với tình yêu thương anh em, thì chính ta là người không xứng đáng ở thiên đàng. Với sự thù hận và ác cảm ấy, ta chỉ làm cho thiên đàng bị ô nhiễm và không còn là nơi hạnh phúc nữa. Ta đáng ở một nơi khác không phải là thiên đàng. Vì thiên đàng chỉ thích hợp với những con người tràn đầy yêu thương. Vậy, muốn là công dân của thiên đàng, thì ngay ở trần gian này, hãy tập yêu thương và sống hài hòa với những người khác biệt chúng ta. Muốn thế, ta phải nhìn thấy Thiên Chúa nơi tha nhân.

3. «Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha»

Câu nói ấy của Ðức Giêsu chắc hẳn đã làm cho các tông đồ hết sức ngạc nhiên. Thấy Ðức Giêsu cũng chính là thấy Chúa Cha, vì Ðức Giêsu chính là hiện thân, là hình ảnh trung thực của Chúa Cha. Người ta có thể thấy được tình yêu của Chúa Cha qua tình yêu của Ðức Giêsu, thấy được vẻ đáng yêu của Chúa Cha qua sự đáng yêu của Ðức Giêsu, v.v. Và một cách nào đó, Ðức Giêsu cũng chính là Chúa Cha, vì cả hai cùng là một Thiên Chúa duy nhất. Các tông đồ có diễm phúc nhìn thấy Ðức Giêsu, sống với Ngài, cảm nghiệm Ngài, nên cũng là nhìn thấy, sống với và cảm nghiệm chính Thiên Chúa Cha.

Còn chúng ta, chúng ta không có diễm phúc ấy. Tuy nhiên, nếu chúng ta có tình yêu và đức tin, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa hay Ðức Giêsu nơi bất cứ người nào ta gặp trong cuộc đời. Cho dù người ấy là ai, thương ta hay ghét ta, làm lợi cho ta hay hại ta, thánh thiện hay tội lỗi, dễ thương hay dễ ghét, miễn họ là con người, thì họ đều là hình ảnh của Thiên Chúa với nhiều mức độ trung thực khác nhau. Ðức Giêsu muốn ta yêu thương họ, bất kể họ thế nào, bất kể họ khác biệt ta đến mức độ nào, vì chính Ngài cũng yêu thương họ, muốn cứu chuộc họ, phục vụ họ. Ngài đã tự đồng hóa Ngài với họ đến nỗi ai làm gì cho họ thì cũng là làm cho chính Ngài, không làm cho họ thì cũng là không làm cho chính Ngài (x. Mt 10.40; 18,5; 25,40.45; Lc 10,16). Ngài cũng rất ước muốn được yêu thương họ bằng trái tim ta, nói với họ, an ủi họ bằng miệng lưỡi ta, và làm việc cho họ, phục vụ họ bằng đôi tay của ta. Ngài chỉ thực hiện được ước muốn đó nếu ta cho phép và hợp tác với Ngài. Vậy bạn có muốn Ngài dùng bạn như một khí cụ để yêu thương của Ngài không?

Chúng ta thường hát «Kinh Hòa Bình» của Thánh Phanxicô Assi: «Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người». Chắc chắn, theo tinh thần của Tin Mừng và theo quan niệm hay cái nhìn của Đức Giêsu, chúng ta không thể mến yêu và phụng sự Thiên Chúa một cách khơi khơi, không liên hệ gì tới ai khác. Trái lại, chúng ta chỉ có thể mến yêu và phụng sự Thiên Chúa qua mọi người, nhất là những người mà chúng ta gặp hằng ngày.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhà Cha có rất nhiều chỗ có thể dung nạp được rất nhiều người với rất nhiều khuynh hướng khác biệt. Xin Cha cho tâm hồn con, lòng trí con cũng có nhiều chỗ để có thể dung nạp được tất cả mọi người là anh chị em con, với nhiều khuynh hướng, tính khí, chủ trương khác nhau. Xin cho con biết chấp nhận mọi người như họ đang là, để yêu thương họ bất chấp họ như thế nào. Xin cho con yêu thương họ giống như Cha đã yêu thương họ và đã yêu thương con, bất chấp những khuyết điểm hay lầm lỗi của con.

Share:

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Ps4b - Hai loại mục tử trong Thánh Kinh



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh 
(7-5-2017)

Bài đào sâu

Hai loại mục tử trong Thánh Kinh



ĐỌC LỜI CHÚA

  TIN MỪNG: Ga 10,1-10

Vị Mục Tử nhân lành


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Trong Tin Mừng Gioan, đoạn về Mục tử Nhân lành được đặt ngay sau đoạn về việc Đức Giêsu chữa người mù bẩm sinh. Điều đó có ý nghĩa gì? 
2.   Trong bài Tin Mừng về Mục tử Nhân lành, Đức Giêsu đối chọi hai hình ảnh: người mục tử đích thực với người làm thuê. Thời ấy, hai hạng người ấy là những ai? Thời nay, hai hạng người ấy có còn tồn tại không? Nếu còn, thì là ai? 
3.   Làm sao phân biệt được mục tử đích thực và mục tử dỏm?      

Suy tư gợi ý:

1.   Bối cảnh của bài Tin Mừng

Trong Tin Mừng Gioan, đoạn nói về vị Mục Tử nhân lành (Ga 10,1-21) được tiếp nối ngay sau đoạn nói về việc Đức Giêsu chữa người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-41), điều này không phải không có ý nghĩa. Bài về việc chữa người mù (Ga 9) mô tả chân dung của những mục tử dỏm, mang danh mục tử nhưng trong thực tế chỉ là kẻ chăn thuê; và bài kia (Ga 10) mô tả chân dung của người mục tử đích thực, sẵn sàng sống chết vì đàn chiên.

Trong bài Tin Mừng về người mù được chữa lành, những mục tử dỏm – hay những người Pharisêu – được mô tả là những người chỉ quan tâm đến những luật lệ của tôn giáo chứ không quan tâm đến con người. Họ chỉ muốn bắt dân chúng thi hành những luật lệ tôn giáo chứ không màng gì đến những nhu cầu thực tế cần được cứu giúp của dân chúng. Còn Đức Giêsu – người mục tử đích thực – thì hành động ngược lại. Đối với Ngài, «ngày sabát», cũng như lề luật và tôn giáo, «được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabát», hay cho lề luật và tôn giáo (Mc 2,27); còn họ thì quan niệm ngược lại. Họ muốn thần thánh hóa lề luật và tôn giáo hơn cả con người, đang khi chính con người – vốn «được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa» (St 1,27; 9,6) và «giống như Thiên Chúa» (St 1,26) – đáng lẽ phải được coi là linh thánh hơn rất nhiều. Tôn giáo và lề luật chỉ là những phương tiện phục vụ con người, đưa con người về với Thiên Chúa. Con người mới chính là mục đích của tôn giáo và lề luật. Ngược lại người Pharisêu, Đức Giêsu chủ trương: «Ta muốn lòng nhân», tức tình thương giữa con người với nhau, «chứ đâu cần lễ tế» (Mt 12,7). Ngài coi chuyện làm hòa với anh em mình, tức cách cư xử yêu thương giữa con người với nhau, còn quan trọng hơn việc dâng của lễ trên bàn thờ (x. Mt 5,23-24).

Người Pharisêu coi chuyện «nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng» cho đền thờ là điều rất quan trọng, nhưng lại chủ trương «bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng thành thật» (Mt 23,23). Họ coi vàng trong đền thờ còn trọng hơn cả chính đền thờ (x.23,16-17), coi lễ vật trên bàn thờ còn trọng hơn cả bàn thờ (x.23,18-19). Sở dĩ họ phải quan trọng hóa lề luật, lễ tế, các nghi thức bề ngoài và những chuyện phụ thuộc (x. Mt 23,16-22) đồng thời dạy mọi người quan niệm như vậy… vì có làm thế, vai trò của họ mới được coi trọng, được đề cao, và mọi người mới chịu dâng cúng vào đền thờ cho nhiều, nhờ đó họ mới có những lợi lộc cụ thể. Nếu quan trọng hóa theo chiều ngược lại như chủ trương của Đức Giêsu, là quan trọng hóa con người, thái độ tâm linh bên trong, nhấn mạnh đến «công lý, tình thương và lòng thành thật» (Mt 23,23b) như những điều cốt yếu nhất của lề luật, thì rõ ràng họ đâu còn lợi lộc gì.

Họ dạy dân chúng quan niệm sai lầm như thế là một thủ thuật để có lợi nhuận. Vì thế, Đức Giêsu gọi họ là «những kẻ dẫn đường mù quáng» (Mt 23,16), là «những người mù dắt người mù» (Mt 15,14). Tuy nhiên, điều khiến cho họ bị kết án không phải là chuyện họ mù, nhưng là chuyện họ không bao giờ nhận mình là mù, là sai, mà cứ ngoan cố cho mình là đúng, là sáng, lại còn buộc mọi người phải tung hô mình là đúng, là sáng nữa: «Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn!» (Ga 9,41).

2.   Người mục tử đích thực khác với người mục tử dỏm

Qua bài Tin Mừng, ta thấy điều cốt yếu khiến người mục tử đích thực khác với người mục tử dỏm là điểm này: Người mục tử đích thực thì thật sự yêu thương đàn chiên, luôn luôn nghĩ đến sự sống, lợi ích hay hạnh phúc của đàn chiên, thậm chí quên cả lợi ích hay sự sống của mình, nên sẵn sàng sống chết vì đàn chiên: «Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên» (Ga 10,11). Mối bận tâm lớn nhất của người mục tử đích thực là làm sao để «chiên được sống và sống dồi dào» (10,10), dồi dào về tâm linh, và nếu có thể được thì cả thể chất hay vật chất nữa: Đức Giêsu cũng lo chữa bệnh, trừ quỷ và lo cả miếng ăn cho dân chúng khi thấy cần. Vì đối với người mục tử đích thực, đàn chiên không phải là những con vật mà là con người, là «hình ảnh của Thiên Chúa», Đấng mà họ tôn thờ và hết lòng yêu mến. Sự thánh thiện của người mục tử đích thực hệ tại tình yêu thương mà họ dành cho đàn chiên.

Còn người mục tử dỏm thì chỉ nghĩ đến lợi ích và sự sống của mình, «không thiết gì đến chiên» (Ga 10,13), «nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy», chấp nhận để «sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn» (Ga 10,12). Đối với những mục tử dỏm này, đàn chiên có vẻ chỉ là những con vật có bổn phận cung cấp sữa và thịt để họ ăn uống thỏa thuê, cung cấp những phương tiện để họ sống xa hoa, giàu có. 

Ngôn sứ Êdêkiel đã mô tả hạng mục tử này như sau: «Khốn cho các mục tử Ítraen, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Sữa chiên thì các ngươi uống, len thì các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, nhưng đàn chiên thì lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc» (Ed 34,2-4).

3.   Hai hạng mục tử trong các thời đại

Bất kỳ thời đại nào, bất kỳ xã hội hay tôn giáo nào cũng luôn luôn có hai loại mục tử nói trên. Các mục tử đích thực, biết yêu thương và hy sinh cho đàn chiên thì thời nào cũng có. Họ làm cho bộ mặt của xã hội và của các tôn giáo trở nên hấp dẫn, lôi cuốn, đáng kính đáng yêu hơn. Họ là hiện thân và là phản ảnh trung thực của Đức Giêsu, vị Mục tử Nhân lành, trong các thời đại; là con người nối dài của Ngài để cứu độ thế giới suốt dòng lịch sử. Nơi họ quy tụ rất nhiều nhân đức, tinh thần hy sinh. Họ là tinh hoa của nhân cách con người, là kết tinh của tình yêu nhân loại. 

Một trong những đặc tính căn bản của họ là lúc nào cũng làm việc, và không bao giờ hết việc để làm, nhất là trong một thế giới đầy dẫy đau khổ như hiện nay. Tình yêu đồng loại thúc đẩy họ làm việc liên tục, vô vị lợi. Tất cả những ai đến với họ đều được tiếp đón ân cần và như nhau, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Giả như có sự phân biệt nào đó thì bao giờ sự ưu đãi cũng nghiêng về phía người nghèo, người đau khổ.

Nhưng song song với những mục tử đích thực ấy, luôn luôn có những mục tử dỏm, cũng mang danh mục tử, cũng được phong chức mục tử, nhưng không có tâm hồn mục tử chút nào. Đối với họ, mục tử chỉ là một nghề nghiệp để kiếm sống, một nghề tương đối được ưu đãi trong xã hội và trong tôn giáo, vừa được mọi người nể nang kính trọng, vừa dễ kiếm tiền một cách khá nhàn nhã. 

Do chức năng phải giảng dạy, họ cũng rao giảng giáo lý, điều hay lẽ phải, cũng khuyên bảo mọi người thực hiện những điều tốt lành đạo đức, nhiều khi rất hùng hồn hấp dẫn, nhưng chính bản thân họ thì… không thực hiện. Với những lời họ khuyên bảo, ta nên áp dụng lời của Đức Giêsu: «Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng làm theo, vì họ nói mà không làm» (Mt 23,3). Một cách nào đấy, họ vô tình phá hoại gương mặt tôn giáo của họ trong tâm trí mọi người, làm các tâm hồn thất vọng về tôn giáo ấy vì lối sống ích kỷ của họ.

Rất dễ nhận ra loại mục tử này qua những đặc tính sau đây:

– đối xử phân biệt rõ ràng giữa giàu nghèo: ưu đãi và kính nể người giàu, bạc đãi và khinh thường người nghèo.

– sống xa hoa, giàu sang bất chấp chung quanh và kế cận mình có biết bao người đang túng thiếu, nghèo khổ rất cần được họ giúp đỡ.

– bách hại những ai dám nói sự thật về con người mình.

– ai nhờ việc gì cũng phải có tiền mới hăng hái làm.

Một số người công giáo nhận xét: hiện nay, càng ngày càng có nhiều người tin Chúa nhưng không còn tin vào Giáo Hội, và có nhiều người đã từ bỏ Giáo Hội để theo những giáo phái khác có tình người hơn. Nhận xét đó có thể đúng. Và nếu đúng thì mọi người công giáo – nhất là các vị mục tử trong Giáo Hội – đều nên xét lại chính mình. 

Rất có thể người công giáo đã không sống đúng những điều căn bản nhất của Tin Mừng là sống công bằng và yêu thương, mà chỉ lo chu toàn những nghi thức tôn giáo bên ngoài. Và cũng rất có thể tỷ lệ giữa các mục tử đích thực và các mục tử dỏm không còn được như xưa: số các mục tử dỏm đã tăng lên rất nhiều. Thiết tưởng vì tương lai và sự phát triển của Giáo Hội, mọi người công giáo – đặc biệt các vị mục tử – đều có trách nhiệm phải chấn chỉnh lại cách sống của mình, và phải điều chỉnh lại tỷ lệ ấy.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nếu nói Giáo Hội thiếu mục tử thì không đúng lắm, vì nếu thiếu mục tử thì chắc hẳn mọi mục tử sẽ làm việc suốt ngày không xuể. Nhưng trước mắt mọi người thì rõ ràng có khá nhiều mục tử xem ra rất nhàn nhã, nếu có bận thì bận việc gì khác chứ không phải là việc của mục tử. Có lẽ đúng hơn là Giáo Hội thiếu các mục tử đích thực, những mục tử thật sự luôn quan tâm để đàn chiên «được sống và sống dồi dào». Xin Cha ban cho Giáo Hội, không phải chỉ là những người mang danh mục tử, mà là những mục tử đích thực.                                            


Share:

Ps4a - Mục tử nhân lành yêu thương và sẵn sàng hy sinh cho đàn chiên



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh 
(7-5-2017)

Mục tử nhân lành yêu thương và sẵn sàng hy sinh cho đàn chiên



ĐỌC LỜI CHÚA

  Cv 2,14a.36-41: (36) Vậy toàn thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này: Ðức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Ðức Chúa và làm Ðấng Kitô.

  1Pr 2,20b-25: (24) Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.


  TIN MỪNG: Ga 10,1-10

Vị Mục Tử nhân lành


Khi ấy, Ðức Giêsu nói với những người Pharisêu: (1) Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. (2) Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. (3) Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. (4) Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (5) Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ. (6) Ðức Giêsu kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.

(7) Vậy, Ðức Giêsu lại nói: Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào. (8) Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ. (9) Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. (10) Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Ðức Giêsu nói: «Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử» (Ga 10,1-2). Từ câu này, ta có thể suy ra phong cách của người mục tử chân chính phải như thế nào? 
2.   Người mục tử chân chính phải có đức tính cốt yếu nào khiến mục tử khác hẳn kẻ chăn chiên thuê hay bọn trộm cắp chiên? 
3.   Qua bài Tin Mừng này, Ðức Giêsu muốn nói với chính bạn điều gì? Ngài muốn bạn làm gì và có thái độ nào đối với Ngài?

Suy tư gợi ý:

1.  1. Người mục tử trong nếp sống của người Do Thái xưa

Ðể hiểu được ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cần trở về với nếp sống của người Do Thái thời Ðức Giêsu. Thời ấy, chiên được nuôi theo bầy hàng trăm con tại những đồng cỏ xanh. Mục tử hay người chăn chiên đi theo bầy chiên và cùng sống với chiên ngày này qua ngày khác. Ban ngày, mục tử dẫn đàn chiên đi từ đồng cỏ này đến đồng cỏ khác để chiên ăn cỏ. Ban đêm, để tránh trộm cướp hay thú hoang, và để tránh mưa tránh rét, mục tử đưa chiên vào một nơi an toàn được gọi là ràn chiên, thường là một hang đá hay một khu đất trống có hàng rào bằng đá hoặc bằng cây bao quanh. Người chăn chiên ngủ ngay trong ràn chiên để bảo vệ chiên, và thường ở ngay cửa ràn. Mục tử và đàn chiên vì thế gắn bó với nhau rất mật thiết. Mục tử chỉ biết có chiên của mình, và chiên cũng chỉ biết và chỉ đi theo mục tử của mình, không chịu theo bất kỳ ai khác.


2. Ý tứ của Ðức Giêsu khi nói dụ ngôn này


Ðức Giêsu nói dụ ngôn này với người Pharisêu, sau khi đối chất với họ về việc Ngài chữa lành người mù từ thuở mới sinh (Ga 9). Nên nhớ: những người Pharisêu là những người lãnh đạo tinh thần trong Do Thái giáo, tức đóng vai trò mục tử đối với đàn chiên. Qua dụ ngôn này, Ngài muốn cho họ thấy hai thái độ trái nghịch nhau giữa Ngài và họ trong cách đối xử với dân chúng hay các tín đồ tôn giáo. Sự trái nghịch nhau đó được thể hiện qua cách ứng xử với người mù bẩm sinh.

a) Cách ứng xử của người Pharisêu:

Khi thấy người mù được chữa lành, thay vì mừng cho anh ta đã thoát khỏi điều bất hạnh vô cùng lớn lao, những người Pharisêu lại có một thái độ thù nghịch và bực tức. Họ tỏ ra không có một chút tình yêu, lòng thương xót hay sự cảm thông nào đối với người mù được Ðức Giêsu chữa lành. Trái lại, họ đã dùng lề luật để bắt bẻ vị ân nhân đã chữa lành bệnh cho anh ta, đồng thời gây khó dễ cho anh và gia đình anh vì việc được chữa lành ấy. Ðối với dân chúng, họ không giống như người mục tử đích thực đối với đàn chiên, mà giống như người chăn chiên thuê. Kẻ chăn chiên thuê không yêu thương gì chiên, vì chiên không phải là của hắn (x. Ga 10,12-13).

Vì thế, trong tôn giáo, những người Pharisêu lợi dụng chức vụ lãnh đạo, hướng dẫn để ăn trên ngồi trốc, đè đầu đè cổ dân chúng (x. Mt 23,5-6). Họ giảng dạy toàn những điều tốt nhưng chỉ để cho dân chúng làm chứ không phải họ làm (x. Mt 23,2-3). Họ giảng dạy điều tốt vì chức vụ họ đòi buộc phải làm như vậy, chứ không phải vì lòng yêu mến sự thiện mà giảng dạy. Ðức Giêsu đã tố cáo việc họ lợi dụng tôn giáo để bóc lột người nghèo, người cô thân cô thế trong xã hội (x. Mt 23,4.14). Nhưng họ vẫn muốn được mọi người tôn trọng, ca tụng, suy tôn, nên phải giả bộ đạo đức, phải làm những việc tốt để khoa trương (x. Mt 23,5), và muốn mọi người gọi mình là Rabbi hay Thầy (x. Mt 23,6).

b) Cách ứng xử của Ðức Giêsu

Ðức Giêsu có một thái độ khác hẳn, một thái độ nhân từ đầy yêu thương đối với mọi người, được thể hiện một cách cụ thể trong việc Ngài chữa lành người mù. Ngài sống và hành động vì tình yêu chứ không vì lề luật. Tình yêu và lòng thương xót của Ngài đã thúc bách Ngài bất chấp luật sabát, bất chấp sự phản đối và bực tức của người Pharisêu về việc lỗi luật của Ngài, bất chấp những hậu quả rất bất lợi có thể xảy đến cho Ngài. Ngài sẵn sàng hy sinh bản thân để xoa dịu đau khổ, để làm mọi người hạnh phúc.

Qua dụ ngôn này, Ðức Giêsu muốn cho người Pharisêu thấy thái độ của họ đối với dân chúng, với các tín đồ tôn giáo mà họ dẫn dắt chẳng khác gì thái độ của kẻ trộm cướp, của kẻ chăn thuê đối với đàn chiên: chỉ muốn lợi dụng đàn chiên chứ không hề yêu thương chúng. Còn thái độ của Ngài mới là thái độ người mục tử đích thật: Ngài yêu thương đàn chiên đến nỗi sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên (Ga 10,11). Nhưng rất tiếc là họ không hiểu những điều Người nói với họ.

3. Mục tử nhân lành (= mục tử thật) và kẻ trộm cướp (= mục tử giả)


Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu đưa ra một tiêu chuẩn để phân biệt mục tử và kẻ trộm cướp. Mục tử thì đi vào ràn chiên bằng cửa ràn, nghĩa là với phong thái đường đường chính chính. Còn kẻ trộm hay kẻ cướp thì không qua cửa nhưng trèo qua lối khác mà vào, với phong thái lén lút, giả dối, không đàng hoàng. Mà cửa ràn chiên, theo bài Tin Mừng hôm nay, lại cũng chính là Ðức Giêsu: «Tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào» (Ga 10,7). Vậy để là mục tử đích thật, người mục tử phải qua Ðức Giêsu mà đến với đàn chiên, nghĩa là phải là người yêu mến Thiên Chúa, và phục vụ đàn chiên vì Ngài, không vì một động lực nào khác.

Thật vậy, đã là mục tử chân chính thì tư tưởng, lời nói, hành động lúc nào cũng phải bộc lộ được tính quang minh chính đại, hay đường đường chính chính, luôn luôn thẳng thắn, trung thực, đáng tin. Người mục tử chân chính ít ra phải là một người quân tử. Nếu tư tưởng, lời nói và hành động như một kẻ tiểu nhân, thích quanh co, lén lút, dối trá, sợ sự thật, thì không xứng đáng làm mục tử. Hơn thế nữa, người mục tử chân chính phải có một tình yêu to tát, để có thể hy sinh đến tận cùng cho những người mà mình lãnh đạo, hướng dẫn.

Ðương nhiên để thực hiện ý định của mình, kẻ trộm cướp − những kẻ không có tình yêu đối với chiên nhưng lại muốn hưởng những quyền lợi của người mục tử − phải giả làm mục tử. Hắn tìm đủ mọi cách để chiên đi theo mình. Nhưng chiên không chịu theo người lạ, mà chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ, không cảm nhận được tình thương của hắn. Vì mục tử giả hay kẻ chăn thuê chỉ biết nghĩ đến bản thân mình, đến cái lợi của mình, không nghĩ gì đến chiên, nên «khi thấy sói đến, hắn bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn» (Ga 10,12). Người mục tử đích thực thì yêu thương chiên, sống vì chiên, và sẵn sàng «hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên» (Ga 10,11) «để cho chiên được sống và sống dồi dào» (Ga 10,10).


4.   Ðức Giêsu là mục tử tốt lành


Ngoài mục đích đối chất với bọn Pharisêu, Ðức Giêsu còn dùng hình ảnh rất quen thuộc ấy đối với người Do Thái để diễn tả sự yêu thương gắn bó giữa Ngài và chúng ta, những kẻ theo Ngài. Như mục tử tốt lành yêu thương và chăm sóc chiên mình thế nào, Ngài cũng yêu thương chăm sóc chúng ta như vậy. Ngôn sứ Êdêkien đã dùng hình ảnh người mục tử với đàn chiên để diễn tả tương quan giữa Ðấng Mêsia và dân của Ngài: «Ta sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng; nó là tôi tớ của Ta: chính nó sẽ chăn dắt chúng; chính nó sẽ là mục tử của chúng» (Ed 34,23). Ngài chính là người mục tử được Thánh Vịnh mô tả: «Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người. Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Ðầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên» (Tv 23).

Vì thế, khi ý thức được Ðức Giêsu luôn chăm sóc mình như người mục tử tốt lành chăm sóc đàn chiên, người Kitô hữu có thể hết sức an tâm trước tất cả mọi giông tố, thử thách trong cuộc đời. Chúng ta hãy tin tưởng vào tình thương vô biên và chân thật của Ngài, và an tâm phó thác mọi sự cho Ngài, kể cả mạng sống, hạnh phúc của mình. Nhờ đó cuộc đời ta luôn luôn bình an, vui tươi, hạnh phúc, và Tin Mừng chúng ta rao giảng mới đúng là tin mừng đích thực (=tin thật sự đem lại vui mừng!)


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con nhận thức được tình thương vô bờ và quyền năng vô biên của Cha, của Ðức Giêsu, để con có thể hoàn toàn tin tưởng và phó thác mọi sự cho Cha, cho Ðức Giêsu. Nhờ đó, con luôn luôn bình an, hạnh phúc bất chấp cuộc đời có sóng gió đến đâu. Vì con luôn luôn tin tưởng rằng, con được một bàn tay quyền uy và yêu thương bảo vệ. Mọi biến cố xảy ra, dù thế nào, cuối cùng đều ích lợi cho con. Amen.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây để đọc bài đào sâu. 

Share: