Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017

TN33a - Đạo đức không chỉ là tránh điều ác.




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 33 Thường Niên

(19-11-2017)

Đạo đức không chỉ là tránh điều ác



ĐỌC LỜI CHÚA

  Cn 31,10-13.19-20.30-31: (10) Tìm đâu ra một người vợ đảm đang? Nàng quý giá vượt xa châu ngọc. (11) Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng, chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc. (12) Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc chứ không gây tai hoạ cho chồng. (20) Nàng rộng tay giúp người nghèo khổ và đưa tay cứu kẻ khốn cùng.

  1Tx 5,1-6: (2) Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm. (3) Khi người ta nói: «Bình an biết bao, yên ổn biết bao!», thì lúc ấy tai hoạ sẽ thình lình ập xuống, tựa cơn đau chuyển bụng đến với người đàn bà có thai, và sẽ chẳng có ai trốn thoát được.

  TIN MỪNG: Mt 25,14-30

Dụ ngôn những yến bạc

(14) Quả thế, cũng như có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. (15) Ông cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi. Lập tức, (16) người đã lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác. (17) Cũng vậy, người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác. (18) Còn người đã lãnh một yến thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ.

(19) Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ. (20) Người đã lãnh năm yến tiến lại gần, đưa năm yến khác, và nói: «Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm yến, tôi đã gây lời được năm yến khác đây». (21) Ông chủ nói với người ấy: «Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!» (22) Người đã lãnh hai yến cũng tiến lại gần và nói: «Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai yến, tôi đã gây lời được hai yến khác đây». (23) Ông chủ nói với người ấy: «Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!» (24) Rồi người đã lãnh một yến cũng tiến lại gần và nói: «Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. (25) Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy!» (26) Ông chủ đáp: «Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, (27) thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! (28) Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. (29) Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. (30) Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng».



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Người có một yến bạc đem chôn giấu đi, có làm điều gì thiệt hại cho ông chủ, hay làm điều gì gian ác đối với ông không? Tại sao người ấy bị phạt? Lý do bị phạt là gì? 
2.   Người chỉ cố gắng tránh điều ác chứ không nỗ lực làm điều thiện, có được gọi là người đạo đức, tốt lành chưa? Quan niệm của Đức Giêsu về vấn đề này thế nào? 
3.   Tài năng Thiên Chúa ban cho ta là để ta hãnh diện với mọi người hay là để ta đem ra phục vụ mọi người? Ta có trách nhiệm gì khi được Thiên Chúa ban cho nhiều ơn huệ hơn mọi người không?


Suy tư gợi ý:

1.   Trách nhiệm đối với những ân huệ Thiên Chúa ban

Dụ ngôn trên nói lên một sự thật đang xảy ra trong thực tế đời sống hằng ngày của ta. Thiên Chúa ban cho chúng ta nhiều ơn huệ khác nhau: sức khỏe, trí khôn, tài giỏi, năng khiếu, thì giờ, nhà cửa, tiền bạc, nghề nghiệp, cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè, v.v… kẻ ít người nhiều, người được ân này kẻ được ân khác. Đó là những yến bạc mà Thiên Chúa ban cho mỗi người cách khác nhau. 

Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là mỗi người đều có trách nhiệm đối với những ân huệ đã nhận được. Chúng ta phải sử dụng ân huệ ấy đúng ý Thiên Chúa, phải dùng những ân huệ ấy để sinh lợi ích cho Ngài, cho tha nhân bên cạnh chúng ta. Người được Ngài ban cho nhiều thì cũng bị Ngài đòi hỏi nhiều, người được ban ít thì bị đòi hỏi ít. Và chúng ta ai nấy đều phải trả lẽ trước mặt Ngài về những ích lợi mình làm ra được từ những ân huệ ấy.

Như vậy, những ân huệ Ngài ban, ta có nhiệm vụ quản lý chúng hơn là làm chủ chúng. Nghĩa là ta không nên sử dụng chúng theo ý riêng ta, mà theo ý của Ngài. Do đó, đừng vội mừng vì được Ngài ban cho nhiều, và cũng đừng vội buồn vì được Ngài ban cho ít. Được ban nhiều thì đòi hỏi cũng nhiều, được ban ít thì đòi hỏi cũng ít. Thế mới công bằng! Dù nhiều hay ít, ai cũng phải sử dụng những ân huệ Ngài ban để tạo ích lợi cho Ngài, cho Giáo Hội Ngài, cho tha nhân.



2.   Quan niệm về đạo đức theo dụ ngôn những yến bạc

Điều chúng ta cần lưu tâm là người được một nén tuy không hề làm điều gì ác, không làm mất mát hay thiệt hại gì cho ông chủ, thế mà bị ông chủ phạt, bị «quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 25,30). Anh ta bị phạt vì đã được chủ giao cho một yến bạc, nhưng không làm lợi ra được thành một yến khác vì đã cất kỹ nó vào một chỗ. 

Suy nghĩ về dụ ngôn này này khiến chúng ta phải thay đổi ít nhiều quan niệm về đạo đức. Chúng ta thường tưởng rằng hễ mình không làm điều gì ác thì mình là người vô tội, công chính. Nhưng không phải thế. Theo tinh thần của dụ ngôn, một khi đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa mà ta lại không dùng ân huệ đó để tạo lợi ích cho Thiên Chúa và tha nhân, thì ta trở thành kẻ có tội, cho dù ta không hề làm một điều gì thất đức cả. Đó là ý nghĩa của cụm từ «những điều thiếu sót» trong kinh Cáo Mình: «Tôi đã phạm tội nhiều, trong tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều thiếu sót». 

Ít ai quan tâm tới tội phạm do thiếu sót. Nhưng rất có thể trong cuộc đời ta, những tội lớn nhất, nhiều nhất của ta và vì đó mà ta bị luận phạt nhiều nhất lại là thứ tội này. Dù là tội gì, thì căn bản của tội vẫn là do thiếu tình yêu.



3. Đạo đức không chỉ là trách điều ác

Cũng vậy, trong bài Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng, những kẻ bị kết án không phải chỉ là những người đã từng làm điều ác, mà còn là biết bao người không hề làm một điều gì ác. Lý do khiến họ bị kết án chính là: «Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng» (Mt 25,42-43). 

Chữ «Ta» trong câu này chính là Đức Giêsu được hiện thân thành tha nhân của ta, nhất là những kẻ nghèo hèn bé mọn. Như vậy, theo Đức Giêsu, người không làm điều gì ác chưa phải là người đạo đức, tốt lành, giống như biết bao Kitô hữu đang quan niệm. Thật vậy, nhiều Kitô hữu, kể cả trí thức, người dạy giáo lý, hễ cảm thấy mình không làm điều ác thì liền nghĩ mình vô tội, thậm chí còn tự hào mình đạo đức nữa.

Nguyên tắc đạo đức chung của con người là «tránh ác, hành thiện». Nếu ta chỉ tránh điều ác nhưng không cố gắng làm điều thiện, thì ta mới thực hiện được một phần rất nhỏ của nguyên tắc ấy thôi. Vì tránh ác thì tương đối dễ, còn hành thiện trong những trường hợp mà lương tâm đòi buộc thì đòi hỏi phải hy sinh, vất vả hơn rất nhiều. 

Tránh ác hay không làm ác thì không cần nhiều khả năng, không phải hy sinh nhiều, vì làm một điều gì đó thì mới cần tới khả năng và hy sinh, chứ không làm thì cần gì khả năng, cvần gì phải hy sinh? Thật vậy, một trẻ nhỏ, một con vật, có khả năng gì đâu, nên chúng có thể không làm điều gì ác cả. Nhưng không thể nói chúng là đạo đức. Như thế, rõ ràng là không bao giờ làm điều ác, chưa thể nói là người đạo đức được.

Thiên Chúa đã ban cho ta mỗi người một số khả năng là để ta làm điều thiện, nhất là để làm theo những đòi hỏi của tình yêu trong lòng ta. Nếu khả năng Thiên Chúa ban cho ta mà ta không chịu dùng để làm những điều ích lợi, thì ta sẽ chịu trách nhiệm trước mặt Ngài. Do đó, nhiều khi ta tưởng mình vô tội, tưởng mình đạo đức khi thấy mình chưa hề nhúng tay làm điều gì ác. Nhưng rất có thể Thiên Chúa vẫn kết án ta là tội lỗi, chỉ vì ta đã không làm những gì mình phải làm. Tuy nhiên, hai người cùng ít làm điều thiện y như nhau, người nào có nhiều khả năng hơn thì tội người ấy lớn hơn.



4.   Càng nhiều khả năng, trách nhiệm càng lớn

Vì thế, người có nhiều khả năng, nhiều điều kiện để làm điều thiện, thì càng phải ý thức trách nhiệm của mình. Thông thường, càng nhiều khả năng, nhiều tài, nhiều của, càng có địa vị cao, chức vụ lớn, càng trí thức, càng giỏi giang, càng được suy tôn, thì ta càng cảm thấy sung sướng và hãnh diện trước mặt người đời, nhất là trước những người kém cỏi hơn mình. Nhưng khi đọc dụ ngôn này, ta càng cảm thấy run sợ trước trách nhiệm của ta. Trong quá khứ, có biết bao trường hợp ta phải ra tay, phải hành động, phải can thiệp, phải cứu giúp, phải lên tiếng bênh vực, phải nói lên sự thật, phải minh oan, phải khuyên can… mà ta đã không làm gì cả, đang khi ta có thể làm những điều ấy tốt hơn và hữu hiệu hơn ai hết. Thậm chí ta có sứ mạng hay trách nhiệm hành động hay can thiệp. Tệ hơn nữa, ta không hề cảm thấy mình có lỗi gì cả, vẫn cứ tự hào mình vô tội, mình đạo đức, và chẳng thấy cần hối hận điều gì. Chỉ vì ta thấy mình không hề làm điều gì gian ác! Dụ ngôn này cho thấy quan niệm như thế là sai lầm!

Điều ngăn trở khiến ta không muốn làm điều thiện, điều cần thiết hoặc ích lợi cho tha nhân, cho xã hội, đó chính là ta thiếu tình yêu. Tình yêu chính là yếu tố thiết yếu nhất của đạo đức, của sự thánh thiện. Chính tình yêu làm ta nên giống Thiên Chúa hơn bất kỳ điều gì khác, vì bản chất của Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8.16). 

Nhưng rất nhiều Kitô hữu lại quan niệm cốt yếu của đạo đức hay thánh thiện là ở một điều gì khác: kẻ thì bảo hệ tại việc giữ luật lệ cho hoàn hảo, người cho rằng hệ tại việc cầu nguyện cho nhiều, kẻ khác cho rằng hệ tại việc thực hành chăm chỉ các nghi thức tôn giáo, kẻ khác nữa cho rằng hệ tại làm điều tốt này việc tốt kia… Thật ra, tất cả những chuyện ấy đều tốt, nhưng chúng chỉ là phương tiện để giúp ta hình thành hay củng cố tình yêu trong lòng ta. Nếu chúng không nhắm hay không đạt được mục đích ấy thì chúng đều trở thành vô ích. Thánh Phaolô xác định điều ấy: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,3)



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con được Cha ban cho biết bao ơn huệ, thậm chí hơn rất nhiều người. Thế mà con chỉ biết cám ơn Cha, ca tụng tình yêu thương của Cha, chứ không hề nghĩ đến trách nhiệm phải sử dụng những ơn huệ ấy để làm ích lợi cho Cha, cho Giáo Hội, cho xã hội và tha nhân chung quanh con. Biết bao lần lương tâm và tình yêu trong con đòi buộc con phải ra tay cứu giúp, bênh vực, minh oan cho người khác, nhưng con đã không làm. Xin giúp con nhận ra đó là tội lỗi. Con chưa hề có ý thức tội lỗi về những việc phải làm mà không làm. Xin tha thứ cho con. Con cảm thấy cần phải sám hối và thay đổi lại quan niệm của con.



Share:

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

TN32b - Hai thứ đức tin, hai thứ tình yêu




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên

(12-11-2017)

Bài đào sâu

Hai thứ đức tin, hai thứ tình yêu



  TIN MỪNG: Mt 25, 1-13

Dụ ngôn mười trinh nữ


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Chúng ta là những người đang lữ hành tiến về Quê Trời, nhưng có bao giờ chúng ta đặt vấn đề về điều kiện không có không được để về được Quê Trời là gì không? Nếu không có điều kiện cần thiết ấy thì việc lữ hành vất vả của ta có ích lợi gì không? Vấn đề quan trọng như thế tại sao ta lại không quan tâm? 
2.   Nếu Thiên Chúa cho cả những người không có tình yêu, vẫn còn ích kỷ, ghen ghét, hận thù. vào Thiên Ðàng, thì Thiên Ðàng ấy có hạnh phúc được không? Thiên đàng ấy có khác gì trần gian không? 
3.   Ðức tin hay tình yêu là vé để vào Nước Trời. Nhưng thứ đức tin không việc làm, chỉ được tuyên xưng ngoài miệng, thứ tình yêu không cụ thể, chỉ nói ngoài môi miệng, có thể dùng làm vé vào Nước Trời được không? Tại sao?


Suy tư gợi ý:

1.   Mô tả lại dụ ngôn

Theo phong tục của các dân tộc, khi cô dâu về nhà chồng, cô thường kêu thêm những cô gái đồng trang lứa làm phù dâu, để cùng tiễn đưa cô về nhà chồng cho có bạn. Theo phong tục Do Thái, những cô phù dâu này ngoài việc trang điểm và mặc quần áo đẹp còn phải mang theo đèn, vì chàng rể thường đến đón dâu vào buổi tối, là đầu ngày (ngày của Do Thái bắt đầu từ 6 giờ tối). Các cô phù dâu sẽ cùng cô dâu đi về nhà chồng để dự tiệc cưới. Khi chàng rể đến, các cô sẽ cầm đèn thắp sáng trong suốt hành trình đi đến chỗ dự tiệc. Vì thế, đúng ra các cô hễ đã mang đèn thì phải lo liệu mang dầu đi. 

Khi nghe báo tin chàng rể đến, mấy cô không đem theo dầu mới khám phá ra đèn mình không có dầu, và phải ra tiệm mua dầu. Trong khi các cô ra đi thì chàng rể đến, năm cô đã sẵn sàng theo chú rể đi dự tiệc cưới. Khi các cô kia mua dầu về thì đã quá trễ. Các cô tới chỗ dự tiệc thì cửa đã đóng, không vào được nữa. 

Sự thường mà nói, mấy cô này quả thật là khờ dại: chỉ vì không biết lo liệu mà lỡ chuyện của mình. Công trang điểm, mặc quần áo đẹp, chờ đợi, trở thành công cốc!



2.   Ý nghĩa dụ ngôn

Dụ ngôn trên là một minh họa nói về những người đang thực hiện một mục đích nào đó, nhưng không hề ý thức về những gì mà mục đích ấy đòi hỏi, nên cuối cùng trở thành «sôi hỏng bỏng không», «nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì». Dụ ngôn trên có khác gì chuyện một học sinh chuẩn bị đi thi mà không hề nghĩ tới chuyện phải chăm lo học hành, nên khi vào phòng thi chẳng có một kiến thức nào trong bụng. Hay như một người chuẩn bị nấu cơm mà không hề nghĩ đến chuyện phải có gạo mới nấu được, chỉ biết lo tìm củi lửa, nồi nấu, để rồi tới lúc phải nấu thì chẳng có gạo để nấu. Hay như người sắp lên máy bay để đi du hành mới khám phá ra mình quên mua vé. Dụ ngôn hay các minh họa trên có thể áp dụng cho việc nên thánh hay cho cuộc lữ hành về Nước Trời của chúng ta.

Rất nhiều Kitô hữu lúc nào cũng ngưỡng vọng về hạnh phúc đời sau, và thường cầu xin cho mình được «ái mộ những sự trên trời» (Kinh Môi Khôi). Họ khá ý thức rằng mình đang trên đường lữ hành về Quê Trời. Nhưng trong số những Kitô hữu ấy có được bao nhiêu người tự hỏi xem những điều kiện cốt yếu nhất để vào Nước Trời là gì, để rồi thực hiện cho bằng được những điều kiện ấy, hầu chắc chắn đạt được mục đích mình nhắm tới? 

Vì quả thật, có biết bao Kitô hữu đang cố gắng thực hiện đủ mọi thứ chuyện chẳng đâu vào đâu hầu vào được Nước Trời, mà chuyện cốt yếu nhất để có thể vào đấy thì lại chẳng làm! Họ có thể là những Kitô hữu được tiếng là đạo đức, vì họ ngày nào cũng đi dự thánh lễ, sáng tối nào cũng đọc kinh cầu nguyện, hội đoàn nào cũng tham gia, thậm chí họ bỏ cả bổn phận chính yếu nhất của mình để thực hiện những điều ấy! 

Vì thế, rất có thể vào ngày phán xét họ sẽ bật ngửa vì ngạc nhiên khi nghe Chúa phán: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,23). Ðể tránh tình trạng đáng tiếc này xảy ra cho mình, chúng ta cần phải nắm thật vững những điều kiện cốt yếu không thể thiếu để vào Nước Trời là gì.



3.  Nước Trời là một nơi hoàn toàn hạnh phúc chỉ dành cho những người biết yêu thương, sống vị tha

Nước Trời hay Thiên Ðàng được định nghĩa là một tình trạng vĩnh cửu, hoàn toàn hạnh phúc, một nơi không còn đau khổ, được dành cho những người biết thật sự yêu thương: yêu Chúa thương người

Ðịnh nghĩa ấy rất hợp lý. Ðể hiểu sâu xa điều ấy, ta thử đặt vấn đề: khi về nơi lý tưởng ấy, liệu người ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với những người ích kỷ, không biết yêu thương không? Nếu những người trên thiên đàng vẫn còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì họ có thể hoàn toàn hạnh phúc và làm cho những người chung quanh họ cũng hoàn toàn hạnh phúc cho đến đời đời, không hề gây ra một chút đau khổ nào không? 

Chưa hoàn hảo, chưa đủ khả năng yêu thương mà đã vào Thiên Ðàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền - không vương chút đau khổ - của Thiên Ðàng rồi, và biến Thiên Ðàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Ðàng nữa. Do đó, Thiên Ðàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn vị tha, tràn đầy tình thương, sẵn sàng hy sinh cho tha nhân. Nếu còn chút gì là ích kỷ, ghen ghét, hận thù, thì chưa thể vào được, và cần phải được thanh luyện ở luyện ngục cho đến khi nào trở nên hoàn toàn vị tha, tràn đầy tình yêu thương với mọi người mới vào được Nước Trời.



3.   Ðức tin đắt giá và đức tin rẻ tiền

Theo Kinh Thánh, để vào được Nước Trời thì phải là người công chính. Mà người công chính là người có đức tin, vì «người ta được trở nên công chính nhờ đức tin» (Rm 3,22); «Ápraham đã tin Thiên Chúa, và vì thế được kể là người công chính» (4,3). Chúng ta, những Kitô hữu, đều được coi là đã tin vào Thiên Chúa, vậy có phải chúng ta đều là những người công chính không? Thưa không chắc, vì có hai loại đức tin. Theo thánh Giacôbê thì đó là đức tin có việc làmđức tin không việc làm. Còn theo nhà thần học D. Bonhoeffer, thì đó là đức tin đắt giáđức tin rẻ tiền.

Ðức tin đắt giá là đức tin được chứng tỏ bằng hành động, là đức tin có việc làm. Ðây mới chính là đức tin đích thực, mới làm cho người ta nên công chính. Gọi là đắt giá là vì để có được đức tin ấy, người ta phải trả một giá rất đắt là sự hy sinh bản thân, chấp nhận mất mát, không chỉ thời giờ, của cải hay những thứ ngoài mình, mà thậm chí cả mạng sống, hay bản thân mình nữa. 

Còn đức tin rẻ tiền là đức tin không phải trả giá bằng hành động, bằng việc làm, bằng sự hy sinh. Ðó là thứ đức tin chỉ được tuyên xưng ngoài miệng, có thể được tuyên xưng hết sức mạnh mẽ, có vẻ như đầy xác tín, nhưng lại không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể. Thánh Giacôbê nói về hai loại đức tin này như sau: «Có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Ðức tin có thể cứu người ấy được chăng? Ðức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,14.17). «Ðức tin không có hành động là đức tin vô dụng» (2,20).

Ðức tin đích thực phải được thể hiện thành tình yêu, thành những hành động yêu thương. Ngay cả tình yêu cũng có hai loại: tình yêu đắt giátình yêu rẻ tiền, nói cách khác: tình yêu có việc làm và tình yêu ngoài môi miệng. Thánh Giacôbê cũng nói về thứ tình yêu đãi bôi: «Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?» (Gc 2,15-16). Nhiều người thấy kẻ khác khốn khổ thì hết sức mủi lòng, thậm chí phát khóc, nhưng cuối cùng chẳng có một quyết định hay hành động nào cứu giúp người ấy. Tình cảm ấy, sự xúc động hay mủi lòng ấy không phải là tình thương.

Tóm lại, để vào được Nước Trời, chúng ta cần tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Giêsu Kitô, nhưng phải tin bằng thứ đức tin đích thực, được chứng tỏ bằng việc làm, tức thứ đức tin đắt giá. Mà hễ đã là đức tin đích thực, tất nhiên nó sẽ phải được thể hiện thành tình yêu thương thật sự, bằng những hành động yêu thương cụ thể. Chính vì thế, tới ngày phán xét cuối cùng, Thiên Chúa chỉ phán xét về tình yêu đích thực của ta đối với tha nhân mà thôi (x. Mt 25,31-46). Vì tình yêu đích thực hay tình yêu được trả giá đắt đó chứng tỏ một đức tin đích thực. Không ai có thể thật sự tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Giêsu mà lại sống không có tình thương. Tại sao? vì kẻ tin Ngài thì ắt phải giống như Ngài, mà Ngài, tự bản chất, chính là tình yêu (x. 1Ga 4,8.16a).

Vậy cái vé cần thiết đến mức không có không được để vào Nước Trời chính là tình yêu đích thực. Không có tình yêu đích thực, chúng ta đừng mong vào được Nước Trời. Ðó chính là đèn có dầu để chúng ta - những cô phù dâu - thắp sáng lên khi đón chàng rể - là Ðức Kitô - vào tiệc cưới Nước Trời.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha chính là Tình Yêu. Vì thế, để kết hiệp với Cha, con cũng phải là tình yêu, phải là hiện thân của tình yêu, đặc biệt giữa những người sống chung quanh con. Nếu con không thể hiệp nhất với họ bằng tình yêu, làm sao con có thể hiệp nhất với Cha được? Nếu những người cùng bản chất với con mà con không hiệp nhất với họ được, làm sao con có thể hiệp nhất với Cha được? Xin Cha hãy tăng cường tình yêu nơi con, để con hiệp nhất được với mọi người. Amen.      


Share:

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

TN32a - Phải biết chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên

(12-11-2017)

Phải biết chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu



ĐỌC LỜI CHÚA

  Kn 6,12-16: (12) Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan cho gặp. (16) Những ai xứng đáng với Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan rảo quanh tìm kiếm. Trên các nẻo đường họ đi, Đức Khôn Ngoan niềm nở xuất hiện. Mỗi khi họ suy tưởng điều gì, Đức Khôn Ngoan đều đến với họ

  1 Tx 4,13-18: (14) Nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu.

  TIN MỪNG: Mt 25, 1-13

Dụ ngôn mười trinh nữ

(1) Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. (2) Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. (3) Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. (4) Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. (5) Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. (6) Nửa đêm, có tiếng la lên: «Chú rể kia rồi, ra đón đi!» (7) Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. (8) Các cô dại nói với các cô khôn rằng: «Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!» (9) Các cô khôn đáp: «Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn». (10) Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. (11) Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: «Thưa Ngài, thưa Ngài! mở cửa cho chúng tôi với!» (12) Nhưng Người đáp: «Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!» (13) Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Mấy cô phụ dâu nếu quên không đem dầu đi thì nên làm gì khi chàng rể chưa tới? Họ đã làm gì? Hậu quả thế nào? Ta có thể rút ra bài học gì? 
2.   Có việc gì trên đời muốn thành công mà không cần phải chuẩn bị không? Việc quan trọng nhất trong cuộc đời ta là gì? Nếu ta không chuẩn bị, chờ «nước đến chân mới nhảy» thì có thành công được không? Hậu quả thế nào? 
3.   Dầu để đốt đèn trong dụ ngôn trên ám chỉ điều gì đối với việc chuẩn bị cho sự sống đời đời? Có cần xác định điều quan trọng nhất mà ta phải chuẩn bị cho cuộc sống đời đời mai hậu là gì không? Nếu không xác định được điều ấy thì sao? Tai hại thế nào?


Suy tư gợi ý:

1.   Phong tục rước dâu trong xã hội Do Thái xưa

Trong đám cưới, phong tục của người Do Thái xưa là bên đằng trai, gồm chàng rể cùng bà con, bạn bè của chàng cùng đến nhà cô dâu để xin rước nàng về nhà mình. Cùng đi với cô dâu về nhà chàng rể, có một số cô phụ dâu. Việc rước dâu thường tổ chức vào ban tối. Theo cách tính ngày của người Do Thái, ngày mới bắt đầu tính từ 6g00 chiều, khi mặt trời đã lặn. Nên việc rước dâu được tổ chức vào đầu một ngày mới, tượng trưng sự khởi đầu một cuộc đời mới. Vì là ban tối, nên theo nghi thức, các cô phụ dâu ngoài trang phục thật đẹp, mỗi người còn phải mang theo một cây đèn đốt bằng dầu cho thêm phần trang trọng. Khi phải mang đèn đi như thế, các cô phụ dâu phải mang theo dầu để đốt đèn, và thường thì mỗi người chỉ mang đủ dầu cho mình thôi.

Đúng ra, cô nào không mang dầu theo thì nên tranh thủ đi mua dầu trong khi chờ đợi chàng rể đến. Nhưng các cô lại không nghĩ đến chuyện ấy. Họ cứ ngủ một cách vô tư. Khi chàng rể đến, phải đốt đèn lên, lúc ấy năm cô khờ dại mới nhận ra đèn của mình không có dầu. Những cô kia chỉ đủ dầu cho bản thân thôi, nên không thể chia sẻ được. Những cô khờ dại bấy giờ mới nghĩ đến chuyện mua dầu. Đúng là «nước đến chân mới nhảy»! Khi mua dầu về thì chàng rể đã đến. Nghi thức rước dâu đã bắt đầu. Những cô phụ dâu đến trễ không thể nhập cuộc được, vì như thế sẽ làm cho nghi thức rước dâu nên lộn xộn, mất trang nghiêm, một điều tối kỵ trong nghi thức đám cưới. Thế là mấy cô khờ dại bị lỡ cơ hội tham dự tiệc cưới phải buồn bã ra về. Tất cả đều do không biết chuẩn bị hay lo liệu trước.

Đức Giêsu cũng như bao người Do Thái khác đã chứng kiến những cảnh như thế xảy ra trong các đám cưới. Vì thế, Ngài đã dùng hình ảnh này để cảnh báo những người không biết chuẩn bị cho ngày giờ Thiên Chúa đến. Nếu không chuẩn bị trước những gì cần thiết cho ngày vô cùng quan trọng ấy, thì họ sẽ bị lỡ cơ hội duy nhất cho hạnh phúc vĩnh cửu của họ. Sự mất mát vô cùng to lớn này không bao giờ bù đắp hay lấy lại được!



2.   Muốn thành công, phải biết lo xa và chuẩn bị

Phàm việc gì muốn thành công cũng phải biết chuẩn bị, lo liệu trước. Một học sinh giỏi và thành công trong học vấn phải là một học sinh biết lo lắng sắp xếp giờ học, không thể cứ chơi đùa đợi gần đến kỳ thi mới bắt đầu lo học. Lúc đó mới lo học thì không kịp và điểm thi ắt phải kém. Một nhà doanh nghiệp giỏi luôn biết nhìn xa tính trước, chuẩn bị trước mọi chuyện. Người kinh doanh áo lạnh để bán vào mùa đông thì ngay mùa hè đã phải sản xuất áo lạnh, cho dù chẳng ai mặc áo lạnh vào lúc đó. Người trồng lúa phải biết để dành giống lúa tốt từ vụ mùa trước cho vụ mùa sau. 

Nói chung, trong biết cứ ngành nghề hay công việc nào, không biết lo xa, tính trước thì rất khó thành công. Người khôn ngoan không bao giờ bỏ lỡ những cơ hội tốt, nhất là những cơ hội lớn và hiếm có trong đời. Muốn thế, họ phải luôn luôn chuẩn bị để khi thời cơ đến là chụp bắt ngay. Những việc nhỏ đem lại lợi ích hữu hạn mà còn phải chuẩn bị, huống gì những việc lớn lao. Việc lớn lao nhất của hiện hữu con người là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau, lẽ nào người khôn lại thờ ơ không chuẩn bị cho nó. Đợi đến lúc chết mới chuẩn bị thì làm sao mà kịp?!



3. Đời sau có thể đến với ta rất bất ngờ, không ai biết trước được 

Nếu đời sau đến với ta vào một thời điểm nhất định mà ta biết trước thì chắc chắn ta sẽ dành ra một vài năm trước đó để chuẩn bị cho thật chu đáo. Nhưng khốn thay ta không thể biết trước nó đến vào ngày giờ nào. Có thể 20, 30, hay 50 năm nữa, mà cũng có thể năm sau, tháng sau, tuần sau, hay chốc lát nữa. Cái chết có thể đến rất bất ngờ, nhiều khi không một dấu hiệu báo trước. 

Cách đây một hai năm, những người chết ở Nam Dương vì nạn sóng thần, tại Trung Tâm Thương Mại Sàigòn vì bị cháy, ở New York trong hai tòa nhà chọc trời vì bị khủng bố… trước khi tai nạn xảy ra một giờ, đâu ai ngờ được chỉ một giờ sau là mình đã hóa thành người thiên cổ! Những kinh nghiệm đó cho ta thấy: không ai dám quả quyết chắc chắn 100% rằng giờ sau hay ngày mai mình vẫn còn sống. Chỉ một làn gió, một tai nạn bất ngờ, một vụ đụng xe, có thể đưa ta về bên kia thế giới! (x. Tv 103,15-16). Biết bao người đã về bên kia thế giới vì những lý do rất đơn giản ấy. 

Hãy tự hỏi giả như giờ sau ta chết, thì số phận vĩnh cửu của ta sẽ ra sao? Ta đã chuẩn bị tình huống ấy chưa? Nếu vì quá lo toan những chuyện nhỏ nhặt, chóng qua của cuộc đời tạm gửi này nên ta chưa chuẩn bị khiến ta bị lỡ mất cơ hội lớn nhất, duy nhất, vô cùng quan trọng và cần thiết ấy, thì sao? Ta dại hay khôn?



4. Hãy đặt lên bàn cân…

Đức Giêsu nói: «Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì?» (Mt 16,26). Hãy thử đặt linh hồn của mình lên một dĩa cân, và đặt trên dĩa bên kia tất cả những gì ta đang mong muốn có được, đang cố gắng đạt cho bằng được, bên nào nặng hơn? Lý trí của ta phán định bên nào nặng hơn? Ta phải chọn bên nào? Phải thú nhận rằng rất nhiều khi ta sẵn sàng chọn bên kém giá trị hơn và hy sinh bên nhiều giá trị hơn, thậm chí nhiều hơn gấp bội lần. Đôi khi đó lại chính là thái độ của ta suốt cuộc đời! Quả là dại dột!

Đức tin cho ta biết: linh hồn hay sự sống vĩnh cửu của ta giá trị gấp hàng triệu lần tất cả những gì chóng qua ta có thể đạt được ở trần gian. Hạnh phúc vĩnh cửu thì kéo dài vô tận, còn những gì thỏa mãn danh, lợi, thú của ta thì rất tạm thời, chỉ hưởng được một thời gian. Nếu tổng số những hạnh phúc chóng qua này ta định giá trị là một triệu, thì hạnh phúc vĩnh cửu phải giá trị bằng hàng tỷ trở lên. Vì một đằng hữu hạn, một đằng vô hạn. 

Có ai dại dột đến nỗi chỉ quan tâm đến thứ đáng giá có một triệu mà không thèm ngó ngàng đến thứ đáng giá cả hàng tỷ nằm trong tầm tay mình không? Người ta thường nói «bỏ con sin sít, bắt con cá rô», lẽ nào ta lại «bỏ con cá rô để bắt con sin sít»? Nhiều khi ta rất tinh khôn trong những chuyện chóng qua ở đời này, nhưng lại hành xử thật ngu muội trong chuyện đại sự nhất, chuyện lâu dài nhất của đời ta.



5. Chất dầu để đốt trong dụ ngôn ám chỉ điều gì?

Cuộc đời ta hiện nay giống như những cô phụ dâu trong dụ ngôn trên đang chờ đợi chàng rể đến. Nếu không có dầu hay không đủ dầu để đốt khi chàng rể đến thì phải lo đi mua dầu sớm chừng nào có thể, để khi chàng rể đến, có thể rất bất ngờ, thì có dầu mà đốt. Nếu không như vậy, mình sẽ phải bỏ lỡ tiệc cưới.

Dầu ở đây tượng trưng cho cái gì đối với sự sống đời đời? Kinh Thánh cho ta biết điều cần thiết nhất để một người có thể hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Thiên Chúa, để kết hợp với Thiên Chúa, đó là tình yêu. Vì không thể kết hợp hay sống bên «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16), nếu ta không có tình yêu, không là tình yêu như bản chất của Ngài. Không có tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân, ta không thể vào Nước Trời, hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Thiên Chúa. 

Rất nhiều Kitô hữu không lo chuẩn bị điều cần thiết này mà cứ lo những thứ phụ thuộc khác mà họ tưởng là cần thiết! Họ giống như người muốn trồng lúa mà cứ lo đi mua phân bón, mua thuốc diệt cỏ, lo dẫn nước vào ruộng, mà không nghĩ gì đến hạt giống! Những thứ kia tuy rất cần thiết, nhưng chưa phải là chuyện quan trọng nhất! Muốn trồng lúa, điều tối quan trọng là phải có hạt giống. Cũng vậy, muốn vào Nước Trời, điều tối quan trọng là phải có tình yêu chân thực! Thật thế, thánh Phaolô viết: «Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến» (1Cr 13,13).



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, rất nhiều khi con thật dại dột. Điều quan trọng và cần thiết nhất đời con, con lại không quan tâm tới bao nhiêu, mà cứ tập trung năng lực vào những điều không đáng! Điều có giá trị vĩnh cửu thì con coi thường, nhưng lại coi trọng những giá trị tạm thời, chóng qua. Vì thế, con đã không quan tâm chuẩn bị cho việc quan trọng nhất ấy! Chỉ đến khi bị mất nó vĩnh viễn, con mới biết mình vô cùng dại dột. Xin ban cho con sự khôn ngoan để biết điều nào quan trọng nhất để con dành thì giờ và năng lực tương xứng hầu chuẩn bị cho nó.



Share:

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

Gặp gỡ Thiên Chúa dễ hay khó?



Gặp gỡ Thiên Chúa dễ hay khó?




I. Có thể gặp gỡ Thiên Chúa ở đâu?

Nhiều câu Thánh Kinh xác định Thiên Chúa ở ngay trong bản thân ta, chẳng hạn như câu của thánh Phaolô: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? … Đền thờ ấy chính là anh em» (1Cr 3,16-17) và còn nhiều câu khác nữa (như 1Cr 6,19; 2Cr 6,16; Ep 2,20-22, v.v...)

Vậy thì gặp gỡ Thiên Chúa quá dễ dàng mới đúng, tại sao có người lại cho rằng việc đó quá khó?


Thiên Chúa ở trong ta hay ở ngoài ta?
Tôi nghĩ có lẽ vì truyền thống Kitô giáo xưa nay dường như quá nhấn mạnh đến sự hiện diện của Thiên Chúa trong giáo đường, trong các bí tích, đến nỗi các Kitô hữu không mấy lưu tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chính mình, nơi tha nhân. Nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa thì người ta liền nghĩ ngay đến nhà thờ, đến phép Thánh Thể, chẳng mấy ai nghĩ đến Thiên Chúa ngự ngay trong mình, trong những người chung quanh, trong vũ trụ vạn vật, dù sự hiện diện này được Kinh Thánh nói đến nhiều hơn. Đa số vẫn ở trình độ chỉ nhìn thấy được bằng con mắt thể chất, chưa nhìn được bằng con mắt tâm linh.

Chính Kinh Thánh dường như không ưa việc định vị Thiên Chúa một cách quá lệ thuộc và hạn định vào không gian vật chất như thế. Đức Giêsu đã phản đối việc định vị nơi chốn để gặp gỡ Thiên Chúa khi người phụ nữ Samari đặt vấn đề: «Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi thờ phượng Thiên Chúa» (Ga 4,20). Đức Giêsu liền trả lời: «Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Ðấng các người không biết (…). Nhưng giờ đã đến và chính lúc này đây (là) giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4,21-24) (xin xem chú thích 1* bên dưới).


II. Những điều kiện để gặp gỡ Thiên Chúa

a. Gặp gỡ Thiên Chúa ngay trong chính bản thân ta
Nói chung, truyền thống Kitô giáo xưa nay vẫn quá chú trọng tới sự có mặt của Thiên Chúa ở bên ngoài bản thân ta, chứ chưa nhấn mạnh đủ đến sự hiện diện của Ngài ngay trong chính bản thân ta. Chính thánh Augustinô đã phải than phiền về chuyện này. Vị thánh viết: «Lạy Chúa, Chúa vốn ở trong con, mà con lại… tìm Chúa ở bên ngoài con» (Confessions, X,27); Và đó chính là lý do khiến thánh  nhân đã không gặp được Chúa. Ông than: «Con đã tìm Chúa ở ngoài con, nên con đã không gặp được Chúa của lòng con» và «Con đã yêu Chúa quá muộn… Chính Chúa vẫn ở trong con, còn con thì lại ở ngoài con» (Confessions, VI,1) 
ở ngoài con», tôi hiểu là thánh nhân đã ở ngoài bản thân mình khi tìm Thiên Chúa, nghĩa là không tìm Ngài bằng «thần khí», bằng tâm linh, bằng chính «cõi lòng» hay bằng «nội tâm» của mình, mà chỉ bằng «ngoại tâm», bằng những gì thuộc thể chất, những gì hữu hình thấy được bên ngoài. «Ngoại tâm» là thứ tâm hướng về bên ngoài, còn «nội tâm» là cái tâm hướng vào bên trong).

Quả thật, không có nơi nào ta dễ gặp gỡ Thiên Chúa cho bằng ngay trong chính bản thân ta. Cho dầu Ngài cũng hiện diện trong vũ trụ vạn vật hay những nơi khác, và ta có thể nhìn thấy hay gặp được Ngài ở những nơi đó; nhưng nơi gặp gỡ Ngài lý tưởng nhất vẫn là «nội tâm» ta, vì Ngài là «thần khí», là «tâm linh», mà «nội tâm» của ta cũng là «thần khí», là «tâm linh». Tâm-linh-gặp-tâm-linh chắc chắn phải dễ hơn, thâm sâu, thân mật hơn là thể-chất-gặp-tâm-linh rất nhiều. 
Sách Sáng Thế viết: «Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật» (St 2,7). Con người có sự sống và linh hồn hay tâm linh là do hơi thở của Thiên Chúa thổi vào. Hơi thở của Thiên Chúa được gọi là «thần khí». Tâm linh hay nội tâm của con người vì thế là «thần khí» xuất phát từ «hơi thở của Thiên Chúa».
Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, trong mọi thực thể của vũ trụ vạn vật, nhưng Ngài hiện diện «đặc sệt» nhất, với «mật độ» cao nhất, hầu như trong chính bản thân ta. Vì các thực thể khác trong vũ trụ là thể chất, còn nội tâm ta là «thần khí», trong khi Thiên Chúa cũng là «thần khí» như Kinh Thánh đã xác định. Và ta có gặp được Thiên Chúa nơi bản thân mình, thì mới hy vọng gặp được Ngài ở những nơi khác.

Ấn Độ giáo cho việc tìm kiếm Thiên Chúa để gặp gỡ Ngài giống như một con cá ở biển đi tìm nước. Nghe chuyện ấy ta thấy tức cười, nhưng đích thực khi ta tìm kiếm Thiên Chúa, ta cũng làm một việc tương tự. Thật thế, có nơi nào mà không có Thiên Chúa? Chúng ta và vạn vật hiện hữu, sinh sống, làm bất cứ việc gì cũng đều do Thiên Chúa cả. Làm sao ta có thể suy nghĩ, viết lách, đi lại, cựa quậy, thậm chí làm những việc dễ dàng nhất như chớp mắt, hít thở, mà không cần đến Thiên Chúa? 

Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, trong tất cả vạn vật, trong tất cả mọi sinh hoạt dù nhỏ nhất của ta. Nhất cử nhất động đều nói lên sự có mặt của Thiên Chúa. Bản thân ta, lúc nào cũng chìm ngập trong Thiên Chúa, thế nhưng nhiều người đã tìm kiếm Ngài hoài mà chẳng hề gặp! Như vậy có khác gì con cá dưới biển tìm nước hoài mà vẫn không thấy nước, không gặp được nước! Chỉ vì nó không ý thức rằng nó đang ở trong nước, và nước cũng đang ở trong chính bản thân nó. 

Cũng trong truyền thống Ấn Độ, có chuyện một đệ tử hỏi thầy của mình: «Thầy có bao giờ gặp được Thiên Chúa không?» Ông thầy trả lời: «Tôi thường gặp gỡ Ngài y như tôi đang gặp gỡ anh bây giờ». Đệ tử liền nói: «Vậy thì xin Thầy chỉ cho con cách gặp gỡ Thiên Chúa như Thầy đi!» Ông thầy trả lời: «Dễ lắm, anh cứ mở mắt ra là thấy, chứ có gì khó đâu!». 

Nhưng người đệ tử chẳng hề nhìn thấy Thiên Chúa, vì anh ta không nhìn bằng «con mắt đức tin», bằng tâm linh của anh để thấy rằng tha nhân, cỏ cây, vạn vật trước mắt anh, và ngay chính bản thân anh, đều có Thiên Chúa đang hiện diện rất sống động trong ấy. Thánh Kinh nói rất rõ về sự hiện diện của Ngài trong tha nhân, trong cỏ cây, vạn vật, v.v... (x. St 28,16; Gs 2,11; 1V 8,27; Tv 139,7-8; Cn 15,3; Is 57,15; Gr 23,24; Mt 18,20; Cl 1,17; v.v...) (xin xem chú thích 2* bên dưới). 

Như vậy, vấn đề là chúng ta có con mắt đức tin để nhận ra Thiên Chúa đang có mặt cách sống động trong những thực tại ấy hay không. Hay chúng ta y hệt như con cá ngoài biển, cứ tìm nước hoài mà suốt đời chẳng bao giờ gặp được nước!


b. Muốn gặp gỡ Thiên Chúa, phải «có duyên» với Ngài
Tuy nhiên, nếu ta có con mắt đức tin để nhìn thấy được Thiên Chúa trong tất cả vạn vật, chưa chắc chúng ta đã gặp gỡ Ngài thật sự, vì còn một điều kiện khác rất quan trọng, để có thể gặp Ngài thật sự, đó là phải «có duyên» với Ngài. 

Việc gặp gỡ Thiên Chúa đích thực không phải là gặp gỡ bằng thể chất, mà phải bằng tâm linh, vì Đức Giêsu nói rất rõ: «Thiên Chúa là thần khí» (Ga 4,24); nghĩa là Thiên Chúa không phải là vật chất hay thể chất, mà là tâm linh, nên phải dùng tâm linh để gặp Ngài (Chữ «thần khí» ở đây viết thường chứ không viết hoa, nên có nghĩa là «linh», là «tâm hồn», «tâm linh», chứ không có nghĩa là «Thánh Thần»). Mà dù ta có thật sự gặp gỡ bằng thể chất, gặp Ngài tận mặt, thì chưa chắc đó đã là sự gặp gỡ đích thực đúng với nghĩa của nó. 

Ngày xưa người Pharisêu, các tư tế và luật sĩ đã gặp Đức Giêsu, đã đối chất, bắt bẻ Ngài nhiều chuyện, rõ ràng họ đã gặp Ngài về mặt thể chất, nhưng «lòng trí họ thì lại xa Ngài» (x. Mt 15,8). Tôi chắc chắn có biết bao người rước lễ, đem Chúa vào lòng mình một cách thể chất, nhưng đâu có gặp gỡ được Ngài. Rước lễ như vậy thì tôi chẳng xác định được có ích lợi gì hay có hại gì không. Chỉ gặp gỡ ngoài thể chất, chưa phải là gặp gỡ đúng nghĩa và trọn vẹn.

Văn chương Việt Nam đã từng mô tả hai kiểu gặp gỡ thể chất và tâm linh qua câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ; Vô duyên đối diện bất tương phùng», nghĩa là: Có duyên với nhau thì dù xa cách nhau ngàn dậm vẫn có thể gặp nhau, không có duyên với nhau thì dù có mặt đối mặt cũng chẳng phải là gặp nhau (việc gặp nhau trong cả hai câu này rõ ràng không phải là gặp bằng thể chất, mà bằng tâm hồn). Như vậy, theo câu thơ trên thì điều kiện để gặp gỡ nhau bằng tâm hồn thì phải có duyên với nhau. 

Có duyên với nhau, có nghĩa là đồng cảm với nhau,  quan niệm và suy nghĩ khá giống nhau, nhất là giống nhau về bản chất, giống nhau về tâm hồn. Do đó, muốn gặp gỡ Thiên Chúa thì phải giống Thiên Chúa về quan niệm, về cách nhìn, nhất là về bản chất. Mà bản chất của Thiên Chúa là gì? Thánh Gioan từng định nghĩa bản chất của Ngài: «Thiên Chúa là tình yêu» (Ga 4,8.16)

Như vậy, nếu chúng ta không có tình yêu đích thực, nghĩa là nếu chúng ta là một tâm hồn vị kỷ, ích kỷ, lúc nào cũng coi trọng «cái tôi» của mình hơn mọi người, đặt nặng hạnh phúc, đau khổ, quyền lợi, danh dự của mình hơn hạnh phúc, đau khổ, quyền lợi, danh dự của mọi người, thì chúng ta khác với Thiên Chúa quá nhiều, nghĩa là ta không «có duyên» với Ngài, thế thì làm sao ta gặp được Ngài thật sự, nghĩa là gặp được Ngài bằng tâm hồn?



III. Nếu chưa thật sự gặp gỡ Thiên Chúa, ta phải làm gì để gặp được Ngài?

a. Trước hết, phải xác tín Thiên Chúa hiện diện sống động ngay trong chính bản thân ta

Như vậy, ta cần phải hoàn chỉnh lại quan niệm cũ, cho rằng Thiên Chúa chỉ ở trong nhà thờ, chỉ hiện diện trong các bí tích, và chỉ gặp gỡ được Thiên Chúa khi đọc kinh, tham dự thánh lễ, v.v... Tất cả những việc ấy đều cần thiết để có thể gặp được Ngài, nhưng chưa đủ. Gặp gỡ qua những phương cách ấy chỉ tương tự như gặp gỡ bằng thể chất, hay bằng sự tưởng nhớ, v.v... chứ chưa phải gặp bằng tâm linh, bằng «thần khí» (x. Ga 4,23-24)Thánh Augustinô đã gặp gỡ Ngài theo kiểu đó một thời gian dài trước khi giác ngộ ra rằng mình mới chỉ tìm kiếm Thiên Chúa ở bên ngoài bản thân nên chưa thật sự gặp gỡ được Ngài, vì chưa tìm kiếm hay gặp Ngài ngay trong bản thân mình.

Quả thật, Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, đặc biệt trong phép Thánh Thể, trong các bí tích, trong nhà thờ qua phép Thánh Thể… v.v... Nhưng sự hiện diện ấy là ở bên ngoài ta, hoặc không «đặc sệt» như trong chính bản thân ta (x, 1Cr 3,16.17b; 1Cr 6,19). Sự hiện diện của Ngài trong bản thân ta được thánh Augustinô diễn tả rất sâu sắc qua câu «Deus est intimior intimo meo» (tạm dịch: Thiên Chúa thân mật với tôi còn hơn chính tôi thân mật với tôi nữa), và «Deus est interior intimo meo et superior summo meo» (tạm dịch: Thiên Chúa còn ở sâu thẳm trong tôi hơn cả nội tâm của tôi, và cao cả hơn cái cao cả nhất ở nơi tôi) (Confessions, III, 6.11). Hai câu này có thể diễn tả cách dễ hiểu hơn, là «Thiên Chúa còn "là tôi" hơn chính tôi "là tôi" nữa»

cfffSự hiện diện này của Thiên Chúa −tức hiện diện trong bản thân ta− đã được thánh Phaolô diễn tả cho Hội đồng Arêôpagô ở kinh đô của Hy Lạp và được tác giả sách Tông Đồ Công Vụ trích dẫn: «Thực sự, Người không ở xa mỗi người chúng ta. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu, như một số thi sĩ của quý vị đã nói: 'Chúng ta cũng thuộc dòng giống của Người» (Cv 17,27b-28). Nghĩa là mọi hoạt động, hành động, cử động, dù chỉ là chớp mắt hay thở ra thở vào của chúng ta, đều do Ngài chủ động. Và thánh Phaolô còn nói rõ hơn: «Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,10). Ngài sống trong tôi, làm mọi việc tốt đẹp ở trong tôi, thế mà tôi không hề ý thức.

Tóm lại, tôi giống như con cá sống trong nước mà cứ đi tìm nước, và cứ nghĩ mình chẳng gặp thấy nước bao giờ cả. Thật ra, con cá chỉ cần giác ngộ rằng mình đang được bao phủ bởi nước, mình sống được là nhờ nước, và nước chiếm tới 7, 8 chục phần trăm ngay trong bản thân mình, thì lập tức nó sẽ gặp được nước ngay tức khắc.

Do đó, điều quan trọng để gặp gỡ Thiên Chúa, là phải tập thành thói quen để luôn luôn ý thức rằng Thiên Chúa đang hiện diện trong ta, và mọi hành động, mọi cử động của ta, ngay cả sự hiện hữu của ta đều do Thiên Chúa cả. Và phải nhìn mọi sự bằng «con mắt đức tin» để thấy Ngài trong chính bản thân, trong tha nhân, và trong tất cả mọi sự, mọi vật hiện hữu.

Tuy nhiên, ý thức như vậy mới chỉ là gặp gỡ Ngài một cách nào đó cao hơn sự gặp gỡ bằng thể chất, cao hơn chút ít thôi. Để gặp gỡ thật sự thì phải gặp gỡ Ngài bằng «thần khí» (x. Ga 4,23-24), nghĩa là bằng tâm linh hay tâm hồn.



b. Cần tập quan niệm và nhìn mọi sự giống như Đức Giêsu, và có tâm yêu thương giống như Ngài

Gặp gỡ Thiên Chúa thật sự, chính là kết hiệp với Người, trở nên một với Người. Muốn thế thì phải tập trở nên giống như Ngài. 

Dầu và nước có thể trộn lẫn với nhau, nhưng không thể hòa tan vào nhau được, và cuối cùng thì dầu và nước tách biệt. Do đó, nếu khác biệt nhau quá rõ ràng về bản chất, thì dù có ở cạnh nhau, sát bên nhau, cũng không hòa hợp với nhau được.

Tuy nhiên, nước và rượu có thể hòa tan với nhau thành một hỗn hợp duy nhất, vì hai chất có nhiều yếu tố giống nhau. Tương tự như vậy, ta tuy không thể giống Ngài hoàn toàn, và tuyệt đối không thể, nhưng ta có thể giống Ngài phần nào đến nỗi có thể kết hiệp nên một với Ngài, nghĩa là gặp gỡ Ngài thật sự.
Nước và rượu, tuy hòa tan với nhau thành một hỗn hợp duy nhất, nhưng chỉ là hỗn hợp, chứ không phải là đồng chất. Phân tử nước vẫn là phân tử nước, phân tử rượu vẫn là phân tử rượu. Tuy là một hỗn hợp duy nhất, nhưng vẫn là hai chất khác nhau hòa tan thành một. Cũng vậy, khi kết hợp với Thiên Chúa, dù ta nên một với Ngài theo nghĩa kết hợp, nhưng vẫn là hai thực thể khác nhau. Lúc đó, «Ngài với ta tuy hai mà một, ta với Ngài tuy một mà hai».
Giống Ngài phần nào, nghĩa là phần nào cùng quan điểm như Ngài, nói cách khác, là cách quan niệm, cách nhìn vấn đề, cách suy nghĩ và cách hành động của ta phần nào giống như Ngài. Đương nhiên, càng giống càng tốt.

Muốn thế, chúng ta cần phải đọc và suy niệm Lời của Ngài, qua Thánh Kinh, để biết Ngài nhìn mọi sự như thế nào, Ngài quan niệm vấn đề thế nào, Ngài nói và hành động thế nào, để rồi ta tập nhìn mọi sự như Ngài đã nhìn, quan niệm mọi vấn đề như Ngài quan niệm, để hành động giống như Ngài hành động. Như vậy thì ta mới «có duyên» để gặp gỡ hay kết hiệp với Ngài như đã nói ở trên (mục II,b).


Tuy nhiên, bản chất của Ngài là tình yêu, như thánh Gioan đã xác định «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16). Ta muốn giống Ngài thì phải giống ở bản chất. Quan niệm, nhìn vấn đề và suy nghĩ giống Ngài mới chỉ tương tự như ở mức độ nghe và hiểu Lời Ngài thôi. Điều quan trọng nhất, và là cuối cùng để giống Ngài là sống, là thực hành đúng như Ngài hay mình đã quan niệm, đã nhìn và đã suy nghĩ, nghĩa là yêu thương thật sự. Thật vậy, Đức Giêsu nói: «Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá (…) Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát (…)» (Mt 7,24-27).

Tất cả những gì mà ta tu tập được, như thường xuyên ý thức được Ngài hiện diện trong ta, hay nhìn mọi sự như Ngài đã nhìn, v.v... mà cuối cùng không đạt được cái «tâm yêu thương» đối với Thiên Chúa cũng như với mọi người, thì chưa thể gặp gỡ Ngài thật sự được, và sự thánh thiện của ta cũng chưa đi đến đâu cả. Thật thế, thánh Phaolô đã từng viết: «Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,1-3). «Đức mến» mà thánh Phaolô nói trong câu này, chính là cái «tâm yêu thương» được thể hiện ra bằng những hành động yêu thương cụ thể.

***

Tóm lại, để gặp gỡ Ngài, chúng ta cần phải ý thức được Ngài ở đâu để mà gặp; rồi phải «có duyên» với Ngài, nghĩa là đồng cảm với Ngài và phải phần nào giống như Ngài, nhất là giống Ngài về bản chất. Muốn thế, ta phải tập luyện từ ý thức, quan niệm, tư tưởng cho tới hành động.

Quả thật, với một số người đã tập luyện như thế, thì việc gặp gỡ Thiên Chúa quả là dễ dàng, nhưng với nhiều người khác thì quả là khó khăn. 

Dễ hay khó tùy thuộc vào quyết tâm của ta. Gặp gỡ được Thiên Chúa như thế, quả không dễ, nhưng chắc chắn không phải là quá khó. Nếu ta quyết tâm thực hiện thì chắc chắn thực hiện được. 

Tôi nghĩ rằng qua những gì tôi vừa viết, tôi đã nêu được một vài lý do căn bản khiến ta gặp gỡ được Thiên Chúa cách đích thực hay vẫn chưa gặp được Ngài.

Nguyễn Chính Kết


____________________

Chú thích:


(1*) Giải thích câu «Thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật» (Ga 4,23)

Đây là cách thờ phượng Thiên Chúa tốt nhất, hợp với ý muốn của Ngài nhất. Chính Đức Giêsu xác định điều đó. Ngài nói: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật»

● «Thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí»:  Chữ «thần khí» trong một số bản dịch Việt ngữ, có lẽ vì muốn dịch sát với từ bằng tiếng Do Thái hoặc Aram (vốn có ý nghĩa «hơi thở của Thiên Chúa»), khiến người bình thường đọc trở nên khó hiểu, thậm chí nhiều người chẳng hiểu nó là gì. Các bản dịch như Vulgata bằng tiếng Latinh (là bản chính thức của Giáo Hội) và các bản tiếng Anh hoặc tiếng Pháp dùng chữ spiritusspirit hoặc esprit khiến người đọc hiểu liền, không cần giải thích. 3 chữ spiritus (latinh), spirit (Anh) hoặc esprit (Pháp) khiến tôi hiểu ngay  ý nghĩa của nó là tâm linh, tinh thần
(Bản Vulgata dịch 2 câu Ga 4,23-24 là «Sed venit hora et nunc est quando veri adoratores adorabunt Patrem in spiritu et veritate nam et Pater tales quaerit qui adorent eum; spiritus est Deus et eos qui adorant eum in spiritu et veritate oportet adorare»).
Chữ «thần khí» này trong Kinh Thánh có khi viết thường, có khi viết hoa với hai ý nghĩa khác nhau. Khi viết hoa thì phải hiểu là Thánh Thần hay Thánh Linh, còn khi viết thường thì hiểu là tinh thần, tâm linh. Trong hai câu Ga 4,23-24, chữ «thần khí», dù trong bản Vulgata hay nhiều bản dịch khác, đều viết chữ thường (kể cả bản dịch của nhóm «Các Giờ Kinh Phụng Vụ»).
(Tuy nhiên, bản Nova Vulgata (bản dịch mới), mới phát hành tại Rôma ngày 25/4/1979 dưới thời Đức Gioan-Phaolô II, dịch hai câu trên là «Sed venit hora, et nunc est, quando veri adoratores adorabunt Patrem in Spiritu et veritate; nam et Pater tales quaerit, qui adorent eum; Spiritus est Deus, et eos, qui adorant eum, in Spiritu et veritate oportet adorare». Bản này đổi tất cả chữ «spiritus» (viết thường) thành «Spiritus» (viết hoa), nên nghĩa chữ là «tâm linh» hay «tinh thần» đều phải đổi thành «Thánh Thần» hay «Thánh Linh», khiến ý nghĩa của câu này trở nên khác hẳn với bản Vulgata cũ. 
(Với bản mới, nếu dịch câu Ga 4,24 là «… Thiên Chúa là Thánh Thần ...» thì không hiểu có còn đúng với thần học của Giáo Hội từ trước đến nay không. Vì nói «Thánh Thần là Thiên Chúa» thì đúng, nhưng nói «Thiên Chúa là Thánh Thần» thì rõ ràng là thiếu logic. Cũng như nói «Đức Phanxicô là con người» thì quá đúng, nhưng nói «Con người là Đức Phanxicô» thì làm sao đúng được? Vì nếu như vậy, thì mọi người trên thế giới đều có thể lý luận: vì tôi là con người, nên tôi là Đức Phanxicô). Vả lại, khi nói về Thánh Thần, Giáo Hội dùng chữ Spiritus Sanctus, hay Creator Spiritus, chứ không dùng chữ Spiritus một mình. 
(Vấn đề phải đặt ra là Đức Giêsu đã nói theo ý nghĩa nào khi nói với một phụ nữ đơn sơ như người phụ nữ Samari? Bản Vulgata cũ và bản mới bản nào gần với bản gốc Hy Lạp hơn? Và động lực nào khiến bản mới đã sửa lại như vậy? Sửa lại cho hợp với quan điểm thần học của người dịch, hay vì khám phá ra bản gốc Hy Lạp là đều viết hoa những chữ ấy? v.v...)
Tôi nghĩ, để dễ hiểu, có thể dịch câu trên (theo bản Vulgata cũ) là «… những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha bằng tâm linh và sự thật...» (Ga 4,23) và câu kế tiếp là «Thiên Chúa là tâm linh, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng bằng tâm linh và sự thật» (Ga 4,24).

Như vậy, việc thờ phượng Thiên Chúa chủ yếu là phải xảy ra trong nội tâm con người, hơn là xảy ra ở bên ngoài (ngoại cảnh, hữu hình, thấy được, tức bằng những nghi thức), mặc dù việc thờ phượng bên ngoài ấy vẫn cần thiết (với điều kiện phải có cái chủ yếu bên trong). Nếu những nghi thức bên ngoài không kèm theo nội dung hay cái chủ yếu bên trong, thì nó trở thành vô giá trị, tương tự như trái trứng bị rỗng ruột, hay những bao bì rất đẹp không đựng gì cả. Vỏ trứng và bao bì rất cần thiết để bảo vệ cái chính yếu bên trong, nhưng khi chỉ còn là vỏ không thì thường bị bỏ vào sọt rác.

Đức Giêsu đã giải thích tại sao lại phải thờ phượng Thiên Chúa bằng tâm linh: Vì «Thiên Chúa là tâm linh» nên cách tốt nhất, thích hợp nhất là dùng tâm linh hay nội tâm của mình để thờ phượng Ngài, và muốn gặp Ngài, thì cũng phải gặp bằng tâm linh của mình. Điều đó thật dễ hiểu, dễ hiểu hơn và dễ dàng hơn là việc dùng thể chất để gặp một thực tại tâm linh.

«Thờ phượng Thiên Chúa bằng sự thật»: Trong lịch sử con người, đã có hai cách thờ phượng Thiên Chúa là thờ phượng bằng những nghi thức thấy được (như sát tế con vật, lễ toàn thiêu, dâng hương, dâng thánh lễ, cầu nguyện, đọc kinh, rước sách, v.v...), và thờ phượng Thiên Chúa bằng tâm linh (việc thờ phượng chủ yếu xảy ra trong nội tâm con người như sát tế «cái tôi» và những gì thuộc về «cái tôi» như ý riêng, những ham muốn, v.v...). Thiên Chúa muốn con người thờ phượng Ngài theo cách sau hơn là cách trước.

Cách trước là thờ phượng Thiên Chúa qua những nghi thức tôn giáo thấy được, mà Cựu Ước chủ trương. Việc «Thờ phượng Thiên Chúa bằng sự thật» đòi hỏi những gì bên ngoài phải phù hợp với tâm tình bên trong nội tâm. Sự phù hợp đó chính là sự thật. Nếu trong và ngoài không phù hợp với nhau, thì đó là giả dối. Nếu miệng ta nói «Lạy Chúa, con tin Chúa, con yêu Chúa, con phó thác mọi sự cho Chúa» nhưng thực tế của đời ta không phản ảnh điều ta nói với Ngài như vậy, thì đó là một hình thức giả dối. Nếu miệng ta nói một đằng, mà thực tế trong lòng ta, hoặc đời sống của ta lại là đằng khác, thì rõ ràng đó không phải là «Thờ phượng Thiên Chúa bằng sự thật» như Ngài đòi hỏi. Nếu khi mua một món đồ, ngoài bao bì giới thiệu đúng là món đồ ta muốn mua, nhưng khi mở ra thì thấy đó không phải là món đồ đúng như bao bì giới thiệu. Lúc đó ta nghĩ sao? phản ứng của ta thế nào?

Việc thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối như thế, Thiên Chúa chẳng ưa chút nào. Đức Giêsu có nói về cách thờ phượng này: «Dân này thờ kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích» (Mt 15,8-9a)

Thiên Chúa qua miệng ngôn sứ Isaia cũng đả kích kiểu thờ phượng giả dối ấy: «Đức Chúa phán: "Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta, nào nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm! Khi các ngươi đến trình diện Ta, ai khiến các ngươi phải giẫm lên khuôn viên của Ta? Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sa-bát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạt linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu. Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa. Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ"» (Is 1,11-17).
***


(2*) Một số câu Thánh Kinh nói về sự hiện diện của Ngài khắp nơi, trong tha nhân, trong cỏ cây, vạn vật, v.v... như: 

● St 28,16 => «Gia-cóp tỉnh giấc và nói: "Quả thật, có Đức Chúa ở nơi này mà tôi không biết!"».
● Gs 2,11 => «Thiên Chúa của các ông, là Thiên Chúa ngự chốn trời cao cũng như nơi đất thấp».
● 1V 8,27 => «Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây».
● Tv 139,7,8 => «Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài».
● Cn 15,3 => «Mắt Đức Chúa ở mọi nơi mọi chỗ, hằng dõi theo kẻ dữ người lành».
● Is 57,15 => «Ta ngự chốn cao vời và thánh thiện, nhưng vẫn ở với tâm hồn khiêm cung tan nát».
● Gr 23,24 => «Có ai ẩn mình trong nơi bí mật mà Ta lại không thấy».
● Mt 18,20 => «Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ».
● Cl 1,17 => «Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người».
v.v...
Share: