Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

Phỏng vấn bậc thầy thôi miên Dolores Cannon



Phỏng vấn bậc thầy thôi miên Dolores Cannon

P.1: Bài học từ sự hủy diệt của Atlantis
Cho dù trí tưởng tượng của bạn có bay xa tới đâu, khi bạn ngẫu nhiên đọc bất kỳ cuốn sách nào của Dolores Cannon, một bậc thầy về «Thôi miên Hồi quy» và là nhà nghiên cứu tâm linh kỳ cựu, bạn sẽ nghĩ rằng mình đang xem một tác phẩm khoa học viễn tưởng.

Dolores Cannon là tác giả của nhiều cuốn sách viết về các chủ đề như Nostradamus, Chúa Giêsu, sự sống sau cái chết, sự hình thành của nhân loại trên Trái đất, các tiền kiếp… Tất cả những kiến thức này được bà thu thập qua kỹ năng đặc biệt của mình về Thôi miên Hồi quy – Một quá trình mà bà đưa các khách hàng cần được trị liệu của mình vào một trạng thái gọi là «siêu ý thức», từ đó nắm bắt được không chỉ thông tin về các tiền kiếp của họ, và còn những bí mật khác của vũ trụ.
Trong cuốn sách mới nhất của mình, «Ba làn sóng tình nguyện và Trái đất mới» (do Ozark Mountain xuất bản), bà đã tiết lộ rằng kể từ khi Nhật Bản hứng chịu hai vụ nổ bom nguyên tử vào năm 1945, có 3 nhóm riêng biệt đại diện cho các linh hồn từ khắp nơi trên vũ trụ đã tình nguyện đến Trái Đất, dưới hình hài của con người để biến đổi tần số của Trái Đất, giúp ngăn ngừa một thảm họa toàn cầu.

Làn sóng thứ nhất: Bây giờ họ đang ở độ tuổi từ cuối 40 đến đầu 60. Họ bị xáo trộn bởi trải nghiệm sự bạo lực, thù hận và giận dữ trên Trái đất. Họ đã rất khó khăn điều chỉnh cuộc sống như con người, và nhiều người trong số họ cố gắng tự tử.
Làn sóng thứ hai: Bây giờ họ đang ở độ tuổi từ cuối 20 đến 30. Những «tình nguyện viên này» thích ứng tốt hơn. Họ mang theo các «kênh năng lượng» mà được cho là có thể ảnh hưởng tới những người khác chỉ cần ở gần họ.
Làn sóng thứ ba: Đó là những người trẻ tuổi, từ những đứa trẻ cho đến thanh thiếu niên. Họ có các kiến thức cần thiết để tồn tại trên hành tinh này. DNA của họ cao cấp hơn.
Thách thức đối với những linh hồn, điều mà Cannon nói, là khi được sinh ra, họ bị mất tất cả trí nhớ về việc họ đã từng là ai và tại sao họ lại tình nguyện được sinh ra ở Trái đất này.

Bài phỏng vấn dưới đây được Canon chia sẻ thêm về những «tình nguyện viên» này thông qua tờ The Edge:
Hỏi: Đối với những người không biết bà hoặc chưa từng tiếp xúc với lượng lớn các thông tin mà bà đã thu thập được, bà có thể mô tả lại những việc bà đã và đang làm, và cuốn sách này đã bổ sung gì cho những công việc mà bà đang thực hiện?
Dolores Cannon: Vâng, tôi đã làm công việc thôi miên hơn 40 năm qua. Tôi đã phát triển một số kỹ thuật của riêng tôi. Nó không giống như bất kỳ kỹ thuật thôi miên nào khác trước đây. Chúng tôi có thể liên hệ với những gì tôi gọi là «Lực Lượng Tối Cao», đó là cội nguồn của tất cả các tri thức. Tôi có khả năng nhìn nhận và thu thập được những kiến thức này thông qua hàng ngàn người mà tôi đã từng tiến hành thôi miên họ.
Trong các lớp học của tôi, tôi dạy người khác làm thế nào để có thể thực hiện giống như những gì tôi làm. Điều này có một số tác dụng với việc điều trị các chứng bệnh, hay tâm lý bất ổn. Tôi làm việc như một bác sĩ chuyên khoa và một nhân viên tư vấn. Trong các buổi «trị liệu» này, tất cả các khách hàng, hay các bệnh nhân, họ trở về với các kiếp sống trước trong quá khứ của họ, và tôi giúp họ trả lời các câu hỏi liên quan.
Trong khoảng 5 năm trở lại đây, tôi bắt đầu nhận thấy rằng có một số khách hàng, họ chưa từng có một kiếp sống trong quá khứ trên Trái đất. Họ chưa bao giờ ở trên Trái đất trước kia, họ đã đến đây trực tiếp từ Thiên Chúa, từ các Thế giới khác nhau, từ các hành tinh khác, không gian khác, nơi họ có thể được gọi là các sinh mệnh ánh sáng (light beings).
Đó là điểm xuất phát để tôi đến với lý thuyết của Ba làn sóng tình nguyện. Kể từ khi tôi nói về việc này trên chương trình phát thanh, trên mục «Coast to Coast» và ở tất cả các sự kiện khác của tôi, tôi bắt đầu nhận được thư từ liên hệ từ khắp nơi trên toàn thế giới. Họ nói: «Nó thật ý nghĩa. Tôi đã từng nghĩ tôi là người duy nhất trên Trái đất cảm thấy như thế». Họ nói họ cảm thấy giống như họ không thuộc về nơi này và họ muốn về nhà. Họ không hiểu Trái đất. Họ chỉ biết rằng đây không phải là nhà của họ. Họ không biết nhà thật sự của họ ở đâu nhưng họ biết chắc rằng không phải ở đây, họ muốn rời khỏi Trái đất.
Những lý thuyết của tôi đã làm họ cảm thấy tốt hơn nhiều, và có hàng ngàn người đã cảm thấy như vậy. Vâng, chúng tôi phát hiện ra lý do tại sao – bởi vì họ chưa từng có mặt ở trên Trái đất trước đây. Họ là một phần của nhóm đặc biệt này đã và đang đến để giúp đỡ chúng ta trong thời điểm hiện tại này.

Hỏi: Ở phần cuối của cuốn sách, bà có đề cập đến Làn sóng tình nguyện thứ tư, được gọi là Những người giữ mạng lưới (Keepers of the Grids). Bà có thể cho chúng tôi biết về họ?
Dolores Cannon: Tôi đã viết về nền văn minh Atlantis khá nhiều lần, và tôi nghĩ rằng, tôi đã tìm thấy tất cả các thông tin về Atlantis, vì sao nó bị hủy diệt. Nhưng sau này, tôi nhận ra rằng Atlantis không phải là nền văn minh duy nhất đã bị phá hủy. Có rất nhiều, rất nhiều các nền văn minh khác tồn tại trước nó.
Mỗi lần, khi nhân loại tiến đến tình trạng mất kiểm soát do sử dụng năng lượng của họ một cách sai lầm, họ sẽ bị ngăn lại. Mọi thứ sẽ được hủy bỏ và thiết lập lại từ đầu. Nền văn minh sẽ trở lại giai đoạn sơ khai và mọi thứ bắt đầu lại.
Đó là lý do tại sao họ không muốn có nó xảy ra lần này. Họ không muốn mọi thứ bắt đầu lại từ đầu với Trái đất này.
Sau đó, tôi đã tìm hiểu thêm về Những người giữ mạng lưới. Trong một buổi thôi miên, một khách hàng của tôi, một phụ nữ đã quay trở lại kiếp sống trước của cô trong thời kỳ Atlantis; và rồi cô nói với tôi lý do chính vì sao Atlantis bị phá hủy. Đó không phải là những gì tôi đã nghe nói từ trước, và tôi nói với cô ấy: «Tôi chưa bao giờ nghe lý thuyết này». Cô trả lời: «Đó là bởi vì chúng tôi đã không bao giờ nói với nó cho bất cứ ai trước đây».

Cô ấy nói chúng tôi cần phải biết điều này, bởi vì các nhà khoa học hiện nay đang làm điều tương tự trong thời điểm hiện tại với lý thuyết gọi là Phản Vật Chất (Anti – Matter). Máy Gia Tốc Hạt Lớn (The Large Hardon Collider) (*) mà hiện chúng ta đang thử nghiệm ở Thụy Sĩ chính là 1 dạng tương tự với thử nghiệm của các nhà khoa học thời kỳ Atlantis. Các nhà khoa học hiện nay, họ không biết họ đang thật sự làm gì, và điều này cực kỳ nguy hiểm.
Nhiều người trong số những người của nền văn minh Atlantis đang chuyển sinh lại vào cơ thể con người chúng ta hiện nay, và công việc của họ là khôi phục lại Mạng lưới điều khiển (Grids) của Trái đất. Nhưng không ai trong số những người này, những «tình nguyện viên» hay Những Người Giữ Mạng Lưới, nhận thức được điều này. Tuy nhiên, sự hiện diện của họ ở đây là vô cùng quan trọng.

(*) Chú thích: Máy Gia tốc hạt lớn (LHC) có thể hiểu là «Cỗ máy tạo va chạm hạt Hadron». Hạt Hadron là tên gọi cho nhóm các hạt có kích thước dưới cả mức nguyên tử (subatomic), được cho là những hạt cơ bản của vũ trụ. Chức năng của chiếc máy này là phóng những hạt cơ bản lên tới một vận tốc cực lớn để chúng đâm vào nhau.
Với cỗ máy LHC, các hạt được cho di chuyển trên một quỹ đạo tròn cực lớn để tạo gia tốc, và sau cùng bắn vào một chùm hạt khác. Bằng việc tạo va chạm giữa các hạt cơ bản – hạt proton – các nhà vật lý tạo ra những quả cầu lửa nhỏ, hay là những vụ nổ Big Bang quy mô nhỏ, chứa đựng trong đó các điều kiện của vũ trụ thời kì sơ khai, và từ đó có thể tìm hiểu được chuyện gì đã diễn ra trong thời kì đó. Hay nói một cách khác, các nhà khoa học đang muốn sử dụng máy LHC để tái tạo vũ trụ.

Hỏi: Có lẽ việc chúng ta biết về các thông tin này không thực sự có ý nghĩa lắm, việc chúng ta là «tình nguyện viên» hay không cũng thế, chúng ta chỉ nên tập trung vào cuộc sống hiện tại của chúng ta, sống tốt nhất có thể mà thôi.
Dolores Cannon: Đó là lý do tại sao những ký ức trước đây đã bị xóa đi, vì vậy chúng ta chỉ có thể sống và làm những gì chúng ta phải làm. Nhiệm vụ của chúng ta là giúp đỡ người khác, giúp đỡ tất cả mọi người. Đó mới là mục đích của tất cả những người đến Trái Đất, mặc dù họ không nhận ra nó.
Bạn không phải ở đây để làm giàu, thưởng thức đồ ăn thức uống, hay tiệc tùng. Bạn đang ở đây để thực hiện nghĩa vụ của mình, mặc dầu nó được biểu hiện qua cách này hay cách khác. Có rất nhiều cách để giúp đỡ lẫn nhau.

P.2: Hầu hết con người đều là thần chuyển sinh
Trong cuốn sách mới nhất của mình, «Ba làn sóng tình nguyện và Trái Đất mới» (do Ozark Mountain xuất bản), bà đã tiết lộ rằng kể từ khi Nhật Bản hứng chịu hai vụ nổ bom nguyên tử vào năm 1945, có 3 nhóm riêng biệt đại diện cho các linh hồn từ khắp nơi trên vũ trụ đã tình nguyện đến Trái Đất, dưới hình hài của con người để biến đổi tần số của Trái Đất, giúp ngăn ngừa một thảm họa toàn cầu.
Bài phỏng vấn dưới đây được Canon chia sẻ thêm về những «tình nguyện viên» này thông qua tờ The Edge (Tiếp theo phần 1):

Hỏi: Các tình nguyện viên ở đây để làm những gì và tại sao chúng ta, những công dân của hành tinh này, lại cần quan tâm đến sự hiện diện của họ ở đây?
Dolores Cannon: Các «tình nguyện viên» đang ở đây để cứu Trái Đất, bởi vì những con người của Trái Đất đang bị xoay vòng trong luân hồi nghiệp báo không thể làm điều đó. Họ bị cuộn trong nghiệp, liên tục lặp lại sai lầm và nghiệp lại thêm chồng nghiệp. Những người ở Trái Đất này không thể thoát ra để làm bất cứ điều gì tốt cho Trái Đất nữa. Nhưng những linh hồn đến từ các nơi khác, họ tinh khiết và họ có thể thực hiện những điều tốt nhất cho hành tinh này.
Bây giờ trong cơ thể xác thịt mang hình hài con người này, những «người» này lại không nhớ gì về lý do họ đến đây, nhưng họ có nguồn năng lượng dự trữ. Nó là nguồn năng lượng của sự từ bi, yêu thương và nó sẽ làm thay đổi cách suy nghĩ của con người trên Trái Đất. Nó sẽ thay đổi lịch sử, chỉ cần họ có mặt ở đây. Họ không nhận ra họ đang làm điều đó, nhưng họ đang tạo ra các nguồn năng lượng tích cực để bù đắp cho sự tiêu cực của thế giới.
Tuy nhiên, họ không muốn ở đây. Họ không hiểu Trái Đất: «Tôi đang làm gì ở đây? Tôi muốn về nhà». Trong tiềm thức họ, họ biết đây không phải là nơi thuộc về họ.

Hỏi: Những cuốn sách của bà nói về một thực tế rằng, nhân loại trên hành tinh Trái Đất hiện nay đã được đến từ các nền văn minh tiên tiến hơn trong vũ trụ, nhưng có vẻ như một điều gì đó đã đi sai đường so với kế hoạch ban đầu?
Dolores Cannon: Đó chỉ là tự họ – loài người – tạo ra vấn đề. Không có gì sai với kế hoạch cả. Khi họ (Đấng Sáng tạo) đưa những «hạt giống người» xuống Trái Đất, họ nói: «Chúng ta hãy cấp cho hành tinh xinh đẹp này một sinh vật với trí thông minh, kiến thức và ý chí tự do và xem những gì họ (loài người) làm với nó».
Chúng ta là hành tinh duy nhất trong vũ trụ có ý chí tự do. Khi một nền văn minh được tạo dựng, những Đấng Sáng tạo đó thường không can thiệp, họ ngồi lại và xem xem nhân loại làm gì với ý chí tự do ấy, xem họ điều khiển cuộc sống như thế nào.
Hỏi: Nhưng một mặt nào đó, hình như việc đưa những người tình nguyện đến Trái đất này cũng được xem như một sự can thiệp ở mức độ nhẹ?
Dolores Cannon: Thực ra, những người tình nguyện đó mang đến cho chúng ta sự cải biến cần thiết. Mỗi khi Trái đất cần một sự canh tân mới, thì họ mang nó đến.
Theo dòng lịch sử, khi những Đấng Sáng tạo còn sống giữa nhân loại để cùng phát triển hành tinh này, họ sống rất lâu, lâu đến mức con người coi họ là Thần Thánh. Những truyền thuyết và câu chuyện cổ về Thần Tiên đã được hình thành như vậy. Mọi nền văn hóa trên thế giới đều có huyền thoại về những vị Thần của riêng họ, những vị Thần này đã dần mang tới các kiến thức và sự phát triển cho phạm vi mà họ cai quản.
Bây giờ thì họ không còn sống giữa con người nữa, vì thế họ thả những ý tưởng vào bầu khí quyển. Họ không quan tâm ai phát minh ra nó, miễn là khi họ đặt định rằng, điều này vào thời điểm này cần được phát minh ra, thì chúng được phát minh ra.

Tôi hỏi: «Đó chẳng phải là sự can thiệp sao? Cung cấp cho chúng ta những sự tiến bộ mà chúng ta cần?»
Họ nói: «Không, đó là một món quà của chúng tôi cung cấp cho con người vào một thời điểm nào đấy, và sau đó con người làm gì với món quà này là tùy vào ý chí tự do của con người». Họ nói thêm: «Tuy nhiên phần lớn thời gian, con người tương tác với nó không phải là những gì chúng tôi dự định ban đầu. Các vị lật qua lật lại, rồi biến nó thành một vũ khí hay một điều gì đó khác hẳn so với mục đích mà nó được tạo ra».

Tôi hỏi: «Vậy tại sao các ngài không đến và nói với con người rằng họ đang không làm đúng?».
Họ nói: «Không, đó là sự can thiệp».
Đó là sự khác biệt. Và đó là lý do tại sao họ đã phải phái các tình nguyện viên đến để hỗ trợ Trái Đất, bởi vì vào cuối Thế chiến II, họ thấy rằng loài người đã phát hiện ra năng lượng hạt nhân và bom nguyên tử.
Tôi nói: «Vâng, chúng tôi sử dụng nó khá tích cực đấy chứ. Chúng tôi phục vụ nó cho năng lượng điện».
Và họ trả lời rằng: «Không, nó thực ra đã được phát minh ra làm vũ khí nguyên tử. Đó thật sự là một điều nguy hiểm».
Họ biết rằng con người không thể kiểm soát nó, rằng con người có thể dùng nó để hủy diệt thế giới.
Có một Hội đồng có nhiệm vụ giám sát mọi thứ trong vũ trụ bằng các quy định và luật lệ. Không có gì là tình cờ hết. Hội đồng đã thấy sự việc này, nhưng họ không can thiệp từ bên ngoài, nên họ đã cử những tình nguyện viên đi để hỗ trợ từ bên trong. «Trái đất đang gặp khó khăn, ai muốn đến giúp đỡ?». Và sau đó, các linh hồn tinh khiết chưa từng luân hồi trong nghiệp báo đã chuyển sinh vào lớp xác thịt con người. Hàng trăm ngàn các sinh mệnh như vậy đã đến Trái Đất kể từ khi kết thúc Thế chiến thứ II.

Hỏi: Bà có thể chia sẻ về việc bà đã học hỏi được gì trong những năm tháng qua về các khái niệm về Chúa, về Thần và quan niệm rằng chúng ta đều là Thần (chuyển sinh)?
Dolores Cannon: Điều cơ sở trong tất cả các công việc của tôi, là việc chúng ta đều là Thần, chúng ta đều đến từ Trời (những cảnh giới cao) và chúng ta không bao giờ có thể tách biệt khỏi Người (Đức Chúa Trời). Chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta cô đơn, nhưng chúng ta chưa từng bao giờ cô đơn. Chúng ta là một phần của Chúa Trời và chúng ta chính là một phần của Người. Con người không nhận ra các năng lực mà họ có. Họ có thể làm tất cả, không gì là không thể, không có giới hạn nào hết.

Hỏi: Bà đã từng viết nhiều về sự chuyển đổi của hành tinh này khi các xung động của nó tăng lên, và một Trái Đất mới sẽ xuất hiện. Liệu có một hướng dẫn chung nào cho con người để họ biết rằng họ đang đi đúng hướng trong việc trở thành một phần của Trái Đất mới hay không?
Dolores Cannon: Tôi nói với mọi người ở các bài giảng rằng, nếu họ quan tâm đến những điều này, có nghĩa là họ đang đi đúng hướng. Ngoài kia có rất nhiều người tiêu cực, cố chấp, họ không muốn thay đổi. Họ thích sự tiêu cực. Họ thích ngắm nhìn những bi kịch đang diễn ra. Đó là những người sẽ không thuộc về Trái Đất mới. Họ sẽ ở lại với những gì họ tạo ra, nơi họ dự định sẽ thuộc về. Bạn không cần phải lo cho họ, mà hãy suy nghĩ về bản thân mình, hãy hướng về tương lai và làm những điều tốt nhất có thể. Còn nếu ai đó tiêu cực, đó là họ phải tự xử lý vấn đề của họ, chúng ta không thể thực hiện thay họ được.

Hỏi: Gần đây bà có thêm những khám phá gì về Trái Đất mới không?
Dolores Cannon: Tôi chỉ có thể nói rằng đây là lần đầu tiên điều này xảy ra trong lịch sử vũ trụ, rằng Trái Đất này sẽ thay đổi rung động và các tần số, chuyển sang một chiều hướng khác. Đây là một chương trình vĩ đại nhất mà Trái đất đang trải qua. Tất cả những người ngoài hành tinh và các sinh mệnh khác ngoài vũ trụ đang dõi theo chúng ta, họ rất muốn xem liệu sự việc này diễn biến ra sao. Nó rất quan trọng và chưa từng được thực hiện trước đây.
Trái đất mới là một khái niệm chúng ta không thực sự biết bởi vì nó là một quá trình tuyệt vời mà chưa bao giờ xảy ra trước đây. Nó cực kỳ quan trọng.

Hỏi: Bà mô tả trong cuốn sách của bà rằng, việc trị liệu có thể thực hiện đối với những vấn đề cụ thể mà khách hàng yêu cầu. Việc đưa người bệnh vào trong trạng thái siêu ý thức có thể khởi tác dụng giúp chữa lành được bệnh. Bà có thể nói rõ hơn về việc này?
Dolores Cannon: Đầu tiên chúng tôi phải tìm ra nguyên nhân của cái gọi là bệnh, bởi vì con người tự họ làm mình bị bệnh. Bạn cần biết rằng, con người sinh ra không phải để bị bệnh. Cơ thể con người cần phải ở trạng thái vô bệnh mới là đúng. Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng gì, có nghĩa là cơ thể bạn đang cố gửi đến cho bạn một thông điệp, và bạn cần phải hiểu rõ thông điệp này là gì. Trong các buổi trị liệu của tôi, bạn sẽ biết rằng nguyên nhân của bệnh sinh từ tiền kiếp hay từ kiếp này của bạn, tại sao cơ thể bạn lại bệnh, và sau đó nó thường phục hồi nhanh chóng.

Hỏi: Trong tất cả những thông tin mà bà trình bày trong cuốn sách mới này, điều gì khiến bà muốn chia sẻ nhất cho tất cả mọi người trên hành tinh này ngay bây giờ?
Dolores Cannon: Tôi nghĩ rằng chúng ta đã nói về nó. Chúng ta đang di chuyển vào một tần số mới, một chiều hướng mới, nơi nó sẽ là đất mới, và nó sẽ là vô cùng xinh đẹp. Mọi thứ tràn ngập trong các sắc màu lung tinh, tình yêu thương hiện diện ở khắp nơi.
Chúng ta đang di chuyển ra khỏi các phiền não của Cựu Trái Đất, và đó sẽ là một sự thay đổi hoàn toàn, không thể tin được. Kinh Thánh trong sách Khải huyền nói về Thiên đàng mới và Đất mới. Đó là điều tương tự, chúng ta sẽ được trải nghiệm điều đó.
Điều quan trọng nhất là chúng ta đang sống trong thời gian tối quan trọng trong lịch sử của vũ trụ; rất quan trọng khi có mặt ở Trái Đất vào lúc này. Hiện có hàng ngàn linh hồn muốn được ở đây để trải nghiệm điều này, ngay cả khi họ chỉ có thể có mặt ở đây trong một vài giờ. Thậm chí họ nói rằng ngay cả khi họ được sinh ra và chết ngay lập tức, họ cũng bằng lòng, bởi vì họ có thể nói: «Tôi đã ở đó khi điều này xảy ra». Bạn có thể hiểu được thời điểm này quan trọng đến thế nào. Vì vậy, bạn đang sống trong một thời gian rất tuyệt vời mà sẽ không bao giờ được lặp lại một lần nữa.

Hỏi: Bà có lời khuyên nào cho con người trong thời kỳ này, liệu họ có thể làm gì để tận dụng được tốt nhất thời gian ở đây, về thiền định hay chế độ ăn uống, hay ý niệm?
Dolores Cannon: Thiền định rất tốt vì nó không chỉ giúp thư giãn cơ thể, mà nó còn làm cho cơ thể rất nhiều những điều tuyệt vời khác. Còn về chế độ ăn uống, khi Trái Đất chuyển sang một chiều hướng khác, cơ thể cần phải trở nên nhẹ nhàng hơn, bạn nên hạn chế các thứ thịt «nặng» như thịt bò hay thịt lợn.
Họ nói rằng chế độ ăn uống tốt nhất là thức ăn tươi sống – trái cây tươi và rau quả, nếu được nên là các loại hữu cơ. Bạn có thể ăn một chút thịt gà hay cá, vì nó nhẹ hơn. Hãy tránh xa đường và hãy uống thật nhiều nước. Họ nói rằng những lợi ích của nước vượt xa hiểu biết của con người, cực kỳ kỳ diệu.
Sau khi chúng ta ở trên Trái đất mới, có lẽ chúng ta không cần ăn gì cả. Nhiều người hỏi tôi: «Tôi có phải chết đi để được đến Trái đất mới không?». Không. Bạn sẽ mang theo cơ thể này đi với bạn. Nó là một quá trình rất từ từ. Bạn thậm chí sẽ không nhận ra ngay cả khi nó xảy ra. Đó là một quá trình dần dần – và sau đó bằng cách nào, bằng cách nào đấy, chúng ta sẽ biến thành các sinh mệnh ánh sáng.

Hỏi: Câu hỏi phổ biến nhất mà bà nhận được ở các bài giảng là gì?
Dolores Cannon: Họ luôn luôn muốn biết: «Thế còn gia đình của tôi, chồng tôi, con tôi, họ cũng sẽ đi sang Trái Đất mới chứ? Làm thế nào tôi có thể chắc chắn họ sẽ đi đâu?» Bạn không thể biết được. Thực ra ngay cả người thân thích nhất của bạn, bạn không bao giờ biết rõ về họ mặc dù bạn tưởng rằng bạn biết tất cả. Bạn không biết số phận của họ, kế hoạch thực sự của họ khi đến với Trái Đất này là gì. Tôi nói với mọi người rằng, bạn chỉ có thể quyết định sự việc này cho riêng bạn thôi, bạn không thể làm điều đó cho người khác.
* Đôi điều về tác giả:
Dolores Cannon (Sinh ngày 15/4/1931 tại St Louis, Missouri) – Là bậc thầy thôi miên hồi quy ở Mỹ, là tác giả và sáng lập viên của nhà xuất bản «Ozark Mountain», tác giả của 17 cuốn sách đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ. Bà là tác giả của phương pháp chữa bệnh tri liệu bằng «thôi miên hồi quy».
TIM MIEJAN – Cuộc phỏng vấn của tạp chí The Edge
Nguồn: Tinhhoa.net

Share:

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

TN31b - «Nhân» và «duyên» của sự sống đời đời

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 31 Thường Niên

(4-11-2018)

Bài đào sâu


«Nhân» và «duyên» của sự sống đời đời


1. Lý thuyết «nhân» và «duyên»

Muốn có được cây lúa, điều tối quan trọng là phải có hạt giống lúa, đó chính là «nhân» để có «quả» là cây lúa. Nhưng hạt lúa không thể nảy mầm và phát triển nếu không có những điều kiện thuận lợi như: đất tốt, nước, nhiệt độ, ánh sáng, hoặc phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, v.v… Những điều kiện ấy, triết lý Á Đông gọi là «duyên» (Triết Tây gọi «duyên» là «secondary causes», còn «nhân» là «primery cause»). Nếu những điều kiện để phát triển ấy cho dù hết sức thuận lợi mà không có hạt giống lúa thì cũng không bao giờ có được cây lúa. Như vậy, phải hội đủ cả «nhân» và «duyên» thì mới có thể sinh ra «quả» mong muốn.

Sự thánh thiện hay sự sống đời đời cũng phải hội đủ hai yếu tố «nhân» và «duyên» mới thành tựu được. Cả hai yếu tố đều quan trọng không thể thiếu. Nhưng giữa hai yếu tố ấy, thì «nhân» quan trọng hơn «duyên» rất nhiều. Thiếu «duyên» thì «nhân» khó phát triển, có tồn tại thì cũng èo ọt. Nhưng thiếu «nhân» thì «duyên» có đầy đủ đến đâu, cũng hoàn toàn vô ích.

Muốn trồng lúa mà không lo «nhân» là gieo hạt giống, mà cứ lo «duyên» là lo cày bừa, dẫn nước, bón phân, làm cỏ… rồi mong lúa mọc lên, thì sẽ thất vọng. Vì thế, trong việc nên thánh, hay tìm sự sống đời đời, ta phải biết đâu là «nhân», đâu là «duyên», để có đủ cả hai. Nhưng việc ưu tiên trước hết phải lo cho được là lo cái cốt yếu, tức là «nhân», sau đó mới lo đến «duyên», là những điều kiện giúp cho «nhân» tồn tại và phát triển.

Trong Tin Mừng, Đức Giêsu có nói đến trường hợp trên (là chỉ có «duyên» mà không có «nhân») vào ngày phán xét: Khi ấy, có những người nói với Ngài: «Nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?» Họ nói thế vì họ tưởng làm được những việc ấy thì đã là thánh thiện lắm rồi, và chắc chắn sẽ được Chúa thưởng bội hậu. Nhưng không ngờ điều Ngài nói đã làm cho họ bật ngửa: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (x. Mt 7, 21-23)

Đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta phải tự hỏi tại sao lại như vậy? Liệu chính chúng ta có đang làm những điều tương tự như thế không?

Tại sao lại như vậy? − Tại vì cái cốt yếu nhất là cái «nhân» của sự thánh thiện thì họ lại không có, vì họ không thực hiện cái «nhân», mà chỉ quan tâm thực hiện cái «duyên», là những gì giúp cho cái «nhân» kia lớn mạnh. Nếu chính cái «nhân» không có, mà lại cứ làm những gì để cái «nhân» phát triển, thì chẳng phải là… làm chuyện vô ích sao?

Vậy «nhân» và «duyên» của sự thánh thiện hay của sự sống đời đời là gì?

2. «Nhân» và «duyên» của sự thánh thiện hay sự sống đời đời

Thánh Gioan viết: «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16). Nghĩa là bản chất của Thiên Chúa là tình yêu. Mà điều chính yếu của sự thánh thiện chính là trở nên giống Thiên Chúa

giống Thiên Chúa là giống ở chỗ nào? − Thưa, phải giống ở chính bản chất của Ngài là tình yêu, chứ không phải ở những điều phụ thuộc khác. Chính vì thế, chỉ những ai có tình yêu đích thực, mới là người thánh thiện, mới có được sự sống đời đời. Việc giữ hay sống đạo của chúng ta, phải nắm cho được, và phải thực hiện cho bằng được điều cốt yếu này. Nếu chúng ta cứ nỗ lực làm đủ mọi thứ mà chúng ta tự cho là tốt, hay người ta bảo là tốt, còn điều cốt yếu nhất thì chúng ta lại không biết đến, hay không thèm thực hiện, thì việc giữ đạo hay sống đạo của chúng ta sẽ trở nên «xôi hỏng, bỏng không», hay là «công dã tràng» như Chúa đã cảnh báo trong đoạn Tin Mừng trên (x. Mt 7, 21-23).

3. Tình yêu là điều cốt yếu, nhưng phải yêu ai?
a) Theo Cựu Ước:

Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (Mc 12,28b-34) cho thấy Đức Giêsu xác định 2 điều luật quan trọng nhất trong Cựu Ước là «phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực» (Mc 12,30; x. Đnl 6,4-5), và «yêu người thân cận như chính mình» (Mc 12,31; x. Lv 19,8). Thiên Chúa và tha nhân chính là hai đối tượng của tình yêu, mà Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta.

Ngài yêu Thiên Chúa đến nỗi sẵn sàng vâng theo ý Chúa Cha trong mọi sự, thậm chí sẵn sàng chấp nhận cái chết thảm thương trên thập giá, mặc dù Ngài rất sợ đến nỗi «mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất» (Lc 22,44), và Ngài đã phải xin Chúa Cha: «Cha ơi, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này», dẫu sợ kinh khủng, nhưng Ngài vẫn nói: «Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha» (Lc 22,42).

Và Ngài yêu con người đến nỗi đã chấp nhận bị các lãnh đạo của chính tôn giáo −mà Cha mình thành lập− kết án chết; chấp nhận bị đánh đập tàn bạo và bị chết trần truồng trên thập giá như một tên tử tội. 

Phải nói: Ngài đã yêu Thiên Chúayêu con người «hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực».

Điều đáng cho ta suy nghĩ, đó là tất cả những gì Ngài làm vì yêu thương con người, thì cũng là những hành vi yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa. Việc Ngài xuống thế làm người, sống cuộc đời trần thế với bao khổ đau, chịu khổ hình và chết nhục nhã trên thập giá, và trước khi chết đã lập phép Thánh Thể để ở lại với con người cho đến tận thế, tất cả đều vì yêu thương nhân loại. Và những hành vi yêu thương nhân loại ấy đều được Giáo Hội nhìn nhận là những hành vi thờ phượng Thiên Chúa chính danh nhất, cao cả nhất, và đúng nghĩa nhất.

b) Theo Tân Ước

Vì thế, Đức Giêsu đã tóm gọn hay hiệp nhất hai điều răn có vẻ như tách biệt nhau ấy trong Cựu Ước thành một điều răn duy nhất, và đó chính là sự mới mẻ và tiến bộ của Tân Ước. Điều răn duy nhất ấy là: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13,34-35).

Thánh Phaolô xác định sự hiệp nhất và duy nhất ấy trong câu: «Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gl 5,14) và trong nhiều câu khác tương tự (x. Rm 13,8.10; Gl 5,14; 2Cr 2,8; Gc 2,8).

Đức Giêsu là một gương mẫu trong việc thực hiện điều răn mới, là điều răn hiệp nhất hai điều răn của Cựu Ước, qua những hành vi yêu thương con người đến tận cùng như từ bỏ Trời để xuống trần gian cứu độ con người, lập bí tích Thánh Thể, chết trên thập giá, v.v… Tất cả những hành vi yêu thương con người của Ngài đều là hành vi yêu mến Thiên Chúa như đã nói trên. Qua sự việc này, ta thấy yêu mến Thiên Chúa hay yêu thương tha nhân, chỉ là một tình yêu duy nhất, chứ không phải là hai thứ tình yêu khác nhau.
Tại sao Đức Giêsu lại hiệp nhất hai giới răn của Cựu Ước thành một giới răn duy nhất là «yêu thương nhau»?

Khi quan niệm hai giới răn tách biệt nhau, người ta có khuynh hướng coi việc yêu mến Thiên Chúa quan trọng hơn rất nhiều so với yêu thương tha nhân (Điều này cũng dễ hiểu, vì người ta thường quý trọng những người giàu có, người quyền thế, hơn những người bình thường). Ngài thấy rất nhiều người thời của Ngài chỉ quan tâm tới việc yêu mến Thiên Chúa qua những nghi thức tôn giáo, đến nỗi họ thường xuyên dâng những của lễ toàn thiêu, nhưng lại đối xử với tha nhân không ra gì. Chính Ngôn sứ Isaia đã phải cảnh báo hạng người này, nhất là những người lãnh đạo họ, như sau:

«Hỡi những kẻ làm đầu Xơ-đôm, hãy nghe lời Đức Chúa phán. Hỡi dân Gô-mô-ra, hãy lắng tai nghe Thiên Chúa chúng ta dạy bảo. Đức Chúa phán: “Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta, nào nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm! Khi các ngươi đến trình diện Ta, ai khiến các ngươi phải giẫm lên khuôn viên của Ta? Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sa-bát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặngcho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu. Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa. Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ» (Is 1,10-17).

Rất nhiều người tưởng rằng mình đã yêu mến Thiên Chúa, giữ trọn điều răn thứ nhất, khi trung thành với những nghi thức tôn giáo, và cho đó là đủ, là giữ trọn lề luật, là sống đạo tốt đẹp. Nhất là khi họ được nhiều người khen họ là thánh thiện, đạo đức chỉ vì thấy họ làm tốt những điều ấy. Nhưng họ đã đi sai đường vì họ không đọc Kinh Thánh, nhất là không đọc những lời Đức Giêsu dạy bảo, mà chỉ nghe người khác nói hay dạy bảo cách sai lầm. Chính Đức Giêsu đã cảnh báo các kinh sư và những người Pharisêu xưa là «những kẻ dẫn đường mù quáng» khi họ coi những điều phụ thuộc là quan trọng, còn điều chính yếu nhất thì lại coi thường (x. Mt 23,16-22). Ngài nói thẳng với họ: «Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công bình, lòng nhân và sự thành thật. Phải làm các điều này mà không được bỏ các điều kia. Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà» (Mt 23,23-24).

Thánh Gioan, môn đệ yêu quý nhất của Đức Giêsu, đã nắm được ý của Thầy mình khi viết: «Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (1Ga 4,20).

Thật vậy, Thiên Chúa thì vô hình vô tướng, người ta không thể yêu Thiên Chúa vô hình như yêu thương một con người hữu hình được. Người ta chỉ có thể biểu lộ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa bằng cách yêu mến hình ảnh của Ngài, là những con người hữu hình đang sống chung quanh mình mà thôi. Khi người ta yêu nhau nhưng phải xa nhau lâu, thì người ta thường thể hiện tình yêu của họ vào những bức ảnh của nhau. Nhiều người đã hôn những bức ảnh của người mình yêu thương khi không có người mình yêu thương bên cạnh. Do đó, lý luận của thánh Gioan rất có lý khi cho rằng người ta nói dối khi nói rằng mình rất yêu anh A hay chị B, nhưng trong thực tế lại rất lãnh đạm hay không hề quý trọng hình ảnh của anh A hay chị B. 

Cũng vậy, người nói mình yêu Thiên Chúa nhưng lại lãnh đạm hay không yêu thương hình ảnh của Thiên Chúa bên cạnh mình, thì đó là kẻ nói dối, hay kẻ tự lường gạt mình. Mà hình ảnh của Thiên Chúa chính là tha nhân rất hữu hình và cụ thể mà mình gặp hằng ngày. Kinh Thánh đã xác định rất rõ ràng con người là hình ảnh của Thiên Chúa (x. St 1,26-27). Do đó, con người chỉ có thể biểu lộ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa bằng cách yêu thương tha nhân mà thôi.

Chính vì thế, để tránh tình trạng ngộ nhận tai hại mà ngôn sứ Isaia mô tả ở trên (x. Is 1,10-17), Đức Giêsu mới hiệp nhất hai giới răn của Cựu Ước thành một giới răn duy nhất, là «yêu thương nhau». Và khi được một người thông luật hỏi «Nhưng ai là người thân cận của tôi?» (Lc 10,29) thì Ngài trả lời bằng dụ ngôn người Samari nhân hậu (x. Lc 10,29-37). Qua đó, Ngài giải thích hay cụ thể hóa «người lân cận» chính là người trước mắt đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta.

Rất nhiều đoạn trong Tân Ước nói lên sự hiệp nhất thành một hai điều răn quan trọng của Cựu Ước (x. Ga 13,34-35; 15,12; Rm 13,8; 13,10; 2Cr 2,8; 1Cr 13,1-3; Gc 2,8; Gl 5,14; Mc 10,17-21; 1Ga 4,16; 1Ga 4,8; Mt 12,7; Mt 5,23-24).

Có lẽ Đức Giêsu đã nhìn thấy trước cảnh chiến tranh giết nhau giữa các Kitô hữu khác giáo phái, hay những cảnh thánh chiến thảm khốc giữa những người cùng tin vào một Thiên Chúa duy nhất, hay những cảnh chiến tranh tàn khốc giữa các tôn giáo, chỉ vì người ta đặt quá nặng tình yêu và bổn phận đối với Thiên Chúa hay tôn giáo, mà quá coi nhẹ tình yêu và bổn phận giữa con người với nhau. Và Ngài chắc chắn cũng thấy rằng: nếu con người đặt nặng tình thương giữa con người với nhau thì nhân loại sẽ hòa bình và hạnh phúc hơn rất nhiều so với tình trạng người ta chỉ đặt nặng tình yêu và bổn phận đối với Thiên Chúa hay tôn giáo của mình. 

Những tín đồ tôn giáo cuồng tín thường rất nguy hiểm, còn những người đặt nặng tình yêu tha nhân thì luôn hiền hòa, dễ mến, rất hữu ích cho mọi người.

Chính vì thế, Đức Giêsu đã hiệp nhất hai giới răn tách biệt của Cựu Ước thành một giới răn duy nhất, chú trọng tới con người, là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa, hơn là chính Thiên Chúa vô hình mà con người chỉ có thể yêu thương một cách đúng nghĩa khi họ yêu thương nhau.

***

Tóm lại, việc quan trọng nhất và chính yếu nhất trong đời sống tâm linh hay việc sống đạo của chúng ta, những kẻ tin vào Đức Giêsu, là thực hiện giới răn yêu thương của Ngài. Hãy hiểu thật đúng giới răn mới của Ngài và thực hiện. Hãy ưu tiên thực hiện điều cốt yếu nhất, cần thiết nhất, và sau đó hãy thực hiện những điều cần thiết khác. Những điều cần thiết khác này giúp chúng ta có sức mạnh để thực hiện điều cốt yếu và cần thiết nhất kia, chứ hoàn toàn không thể thay thế điều cốt yếu ấy được. Đừng để ngày phán xét cuối cùng, chúng ta cứ tưởng mình được Chúa cho là công chính chỉ vì đã suốt đời làm những việc cần thiết nhưng phụ thuộc, lại bị Chúa kết án vì điều cốt yếu nhất Ngài muốn ta làm thì ta lại không làm.


Nguyễn Chính Kết



Bấm vào đây để trở về bài chia sẻ:
Tính chất «mới» trong điều răn của Đức Giêsu là hiệp nhất 2 giới răn của Cựu Ước thành một giới răn duy nhất của Tân Ước
(https://chiasethanhuu.blogspot.com/2018/11/tn31a.html)


Share:

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

TN31a - Tính chất «mới» trong điều răn của Đức Giêsu là hiệp nhất 2 giới răn của Cựu Ước thành một giới răn duy nhất của Tân Ước




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 31 Thường Niên

(4-11-2018)

Bài đào sâu

Tính chất «mới» trong điều răn của Đức Giêsu
là hiệp nhất 2 giới răn của Cựu Ước
thành một giới răn duy nhất của Tân Ước



ĐỌC LỜI CHÚA

  Đnl 6,2-6: (2) Anh em cũng như con cháu anh em hãy kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mọi ngày trong suốt cuộc đời, tuân giữ tất cả những chỉ thị và mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh em, thì anh em sẽ được sống lâu.

  Dt 7,23-28: (27) Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đã dâng chính mình, và chỉ dâng một lần là đủ.

  TIN MỪNG: Mc 12,28b-34

Điều răn đứng hàng đầu

(18) Khi ấy, có một người trong các kinh sư thấy Đức Giêsu đối đáp hay liền đến gần Người và hỏi : «Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?» (29) Đức Giêsu trả lời : «Điều răn đứng đầu là : Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. (30) Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. (31) Điều răn thứ hai là : «Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó». 

(32) Ông kinh sư nói với Đức Giêsu : «Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. (33) Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ». 

(34) Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : «Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!» Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao Đức Giêsu lại ghép hai điều răn khác nhau –mến Chúa, và yêu người– thành một điều răn duy nhất? 
2. Có thể mến Chúa mà không yêu người, hay yêu người mà không mến Chúa được chăng? 
3. Theo tinh thần Tin Mừng, thì giữa việc tham dự các nghi thức phụng vụ và việc thi hành giới răn «mến Chúa yêu người», việc nào cao quí và quan trọng hơn? 


Suy tư gợi ý:

1.  Điều răn quan trọng nhất của Kitô giáo

Trong bài Tin Mừng này, ta thấy Đức Giêsu đã ghép hai điều răn được ghi ở hai nơi khác nhau trong Cựu Ước –điều răn đầu trong sách Đệ nhị luật 6,4-5, điều răn sau trong sách Lêvi 19,8– làm thành một điều răn duy nhất, một điều răn «kép», nghĩa là một điều răn nhưng hai đối tượng, hay hai mặt khác nhau. Và điều răn «kép» này là điều răn quan trọng nhất trong Do Thái giáo cũng như Kitô giáo. Tại sao lại ghép hai điều răn ấy thành một điều răn duy nhất? Đó là điều đáng chúng ta suy nghĩ.

Thông thường, chúng ta phân biệt yêu Chúa và yêu người là hai tình yêu khác nhau. Có người cho rằng yêu Chúa quan trọng hơn yêu người rất nhiều, có người lại cho rằng: Chúa thì trừu tượng quá, yêu không nổi, nên yêu người mới là quan trọng. Cũng có người cho rằng có thể yêu Chúa mà không yêu người, và ngược lại, có thể yêu người mà không yêu Chúa. 

Thực ra, giới răn này chỉ có một nội dung duy nhất là «phải yêu thương», nghĩa là phải có tình yêu, tình thương. Và tình yêu này phải hướng cùng một lúc về hai đối tượng: Thiên Chúa và tha nhân. Và hai đối tượng này không thể tách rời nhau, tương tự như hai mặt của một tờ giấy: không thể có mặt này mà không có mặt kia. Nghĩa là không thể yêu Chúa cách đích thực mà không yêu tha nhân, và ngược lại, không thể yêu tha nhân cách đích thực mà không yêu Thiên Chúa.

Tại sao vậy? Vì tha nhân −tức con người− là hình ảnh của Thiên Chúa, không ai lại yêu một người mà không yêu quý hình ảnh của người ấy, cũng không ai yêu hình ảnh của một người mà lại không yêu chính người ở trong ảnh. Nói khác đi, hễ thật sự yêu Thiên Chúa thì tất nhiên sẽ phải yêu cả hình ảnh của Ngài là những người mình gặp, mình biết, như thánh Gioan đã từng nói: «Nếu ai nói : “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (1Ga 4,20). Và hễ yêu người thật sự thì cũng chính là đã yêu mến Thiên Chúa. Như vậy, tình yêu đối với tha nhân đã ngầm bao hàm tình yêu đối với Thiên Chúa, và ngược lại: tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa mặc nhiên bao hàm tình yêu đối với tha nhân.

Chính vì yêu thương tha nhân cũng chính là yêu mến Chúa, nên đến thời Đức Giêsu, Ngài đã thu gọn 2 điều răn của Cựu Ước −yêu Chúa và yêu người− thành một giới răn duy nhất: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34). Cái «mới» của điều răn này là Ngài cho thấy sự đồng nhất của hai giới răn có vẻ như tách biệt của Cựu Ước.

Thật vậy, khi nói về ngày phán xét cuối cùng, Đức Giêsu đã xác định rằng: yêu tha nhân là yêu chính Thiên Chúa (xem Mt 25,40.45). Và thánh Phaolô cũng viết: «Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”» (Gl 5,14); «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật của Đức Kitô» (Gl 6,2).



2.  Nơi Đức Giêsu, yêu thương con người và thờ phượng Thiên Chúa chỉ là một thực tại duy nhất?

Nơi con người Đức Giêsu, hành vi thờ phượng Thiên Chúa và hành vi yêu thương con người, chỉ là một hành vi duy nhất. Thật vậy, Ngài xuống thế làm người, sống cuộc đời trần thế với bao khổ đau, chịu khổ hình và chết nhục nhã trên thập giá chỉ vì yêu thương con người. Ngài lập phép Thánh Thể để ở lại với con người cho đến tận thế cũng chỉ vì yêu thương nhân loại. Tất cả những hành vi yêu thương và sự hy sinh ấy của Ngài cho nhân loại đều là những hành vi được Giáo Hội nhìn nhận là những hành vi thờ phượng Thiên Chúa chính danh nhất, đúng nghĩa nhất

Thật vậy, cuộc tử nạn trên thập giá của Đức Giêsu và Thánh lễ Misa hay phép Thánh Thể đều được Giáo Hội coi là hành vi thờ phượng Thiên Chúa cao cả nhất. Nơi Ngài, yêu thương nhân loại và thờ phượng Thiên Chúa chỉ là một hành vi duy nhất. Nói khác đi, theo Ngài, yêu thương nhân loại cũng chính là thờ phượng Thiên Chúa, và thờ phượng Thiên Chúa thì phải gắn liền với yêu thương nhân loại.

Nơi Ngài, không có sự phân biệt giữa hai việc: yêu mến Thiên Chúa và yêu thương con người. Hễ yêu mến Thiên Chúa thì tất nhiên phải yêu thương con người. Mà yêu thương và hy sinh cho tha nhân cũng chính là yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa cách tuyệt hảo nhất. Hai điều đó, hai giới răn đó tự bản chất chỉ có thể phân biệt chứ không thể tách biệt nhau. Tách rời nhau được thì chúng không còn là yêu mến Thiên Chúa hay yêu thương tha nhân đúng nghĩa nữa.

Không biết vô tình hay hữu ý mà Thập Giá −gồm thanh dọc và thanh ngang− được coi là biểu tượng của Kitô giáo và của tình yêu Kitô giáo. Nếu tách rời hai thanh ấy ra thì hai thanh biệt lập ấy không còn là thập giá nữa. Tình yêu Kitô giáo cũng vậy, nếu tách rời tình yêu Thiên Chúa khỏi tình yêu tha nhân, thì cả hai thứ tình yêu ấy không phải là tình yêu Kitô giáo. 

Người yêu Thiên Chúa đích thực thì sẽ thể hiện tình yêu ấy bằng tình yêu đối với tha nhân, vì tha nhân chính là hình ảnh hay hiện thân của Thiên Chúa bên cạnh chúng ta. Đức Kitô thường tự đồng hóa mình với những người bé mọn, thấp kém, yếu hèn trong xã hội: «Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy» (Mt 25,40.45).



3.  Yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa

Đoạn Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh đến tầm quan trọng tối thượng của giới răn yêu mến Thiên Chúa. Nếu xét một cách tách biệt hai mặt trong giới răn cao trọng nhất này, thì việc yêu mến Thiên Chúa quan trọng hơn việc yêu mến tha nhân. Và con người phải yêu mến Thiên Chúa «hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực». Nhưng trong thực tế, không thể có sự tách rời giữa hai mặt ấy được, vì hễ đã thật sự yêu mến Thiên Chúa thì tất nhiên phải đồng thời yêu thương tha nhân. Vì thế, nếu thật sự yêu mến Thiên Chúa «hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực», thì cũng sẽ yêu tha nhân «hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực». Đó là điều tất yếu, không thể khác được.

Để tỏ lòng yêu mến, thuận phục và thờ phượng Thiên Chúa, người Do Thái xưa đã sát tế những con chiên, con bò làm của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa, thay vì sát tế chính mình, để nói lên quyền tối thượng của Ngài trên mọi sự, trên cả mạng sống mình. Nghĩa là phải sẵn sàng hy sinh tất cả mọi sự cho Thiên Chúa, vì Ngài đã ban cho ta tất cả và có quyền lấy lại tất cả bất kỳ lúc nào. 

Ngày nay, chúng ta không còn sát tế chiên bò, cũng không phải sát tế chính mình để nói lên quyền tối thượng của Ngài nữa. Điều chúng ta cần làm, là sẵn sàng hy sinh tất cả mọi sự để làm đẹp lòng Ngài, để tỏ lòng yêu mến Ngài trên hết mọi sự, nhất là hy sinh ý riêng, thì giờ, tiền bạc, công sức… đó chính là một hình thức sát tế và thờ phượng Thiên Chúa cao cả nhất. Tuy nhiên, hy sinh tất cả những thứ bên ngoài mình ấy không bằng hy sinh chính «cái tôi» của mình.

Nhưng, theo tư tưởng của Đức Giêsu và thánh Phaolô, thì chắc chắn Thiên Chúa muốn ta thể hiện tình yêu của ta đối với Ngài bằng tình yêu dành cho tha nhân, một cách cụ thể là sẵn sàng hy sinh ý riêng, thì giờ, tiền bạc, công sức… cho hạnh phúc và sự tốt đẹp của tha nhân.



4.  «Hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực»

Yêu «hết lòng, hết trí khôn» thì quả là một điều khá trừu tượng và xem ra có vẻ dễ thực hiện, vì lòng và trí khôn là thứ không thể đếm được, khó kiểm chứng, và dường như có thể dùng hoài, cho hoài không hết. Nhưng còn việc yêu «hết sức lực» thì quả thật là khó, vì lực là một cái gì mang tính vật chất, rất cụ thể, và rất hạn chế. 

Sức lực ở đây nói một cách cụ thể là thì giờ, tiền bạc, của cải, sức khỏe, công lao. Vì nó giới hạn, nên ta không thể cho một cách thoải mái được. Cho thì hao tổn, thì sẽ hết. Nhưng có yêu «hết sức lực» thì mới chứng tỏ được là đã «yêu hết lòng, hết trí khôn». Ai nói rằng mình mến Chúa yêu người «hết lòng, hết trí khôn» mà lại không yêu «hết sức lực» –cụ thể là sẵn sàng hy sinh thì giờ, tiền bạc, sức khỏe, công lao cho Chúa, cho tha nhân– thì người ấy nếu không nói dối thì cũng là kẻ ảo tưởng về chính mình. Chắc chắn Chúa muốn chúng ta thay vì chỉ hy sinh những thứ ấy cho Chúa, thì hãy hy sinh cho tha nhân, vì hy sinh cho tha nhân chính là cụ thể hóa sự hy sinh cho Chúa.

Để thật sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, Đức Giêsu cho chúng ta một bí quyết, đó là «từ bỏ mình» và «vác thập giá» (Mt 16,24). «Từ bỏ mình» là dẹp bỏ «cái tôi» của mình đi, coi «cái tôi» của mình là nhỏ bé. «Vác thập giá» là sẵn sàng chấp nhận thiệt thòi, mất mát, đau khổ. Có sẵn sàng «từ bỏ mình» và «vác thập giá» thì chúng ta mới có thể yêu mến Thiên Chúa và tha nhân như Thiên Chúa muốn được.



5.  «Điều quí hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ»

Rất nhiều Kitô hữu không hiểu được cốt yếu của việc giữ đạo là gì, họ cho rằng việc đọc kinh, đi lễ, chịu các bí tích là những điều quan trọng nhất. Và họ cố gắng thực hiện những điều ấy một cách toàn hảo. Nhưng thật ra, tất cả những thứ ấy chỉ là phương tiện để giúp người Kitô hữu thực hiện được giới răn quan trọng nhất là «mến Chúa, yêu người». «Mến Chúa, yêu người» mới chính là mục đích của những việc đạo đức trên. Nếu thực hiện những phương tiện ấy mà không đạt được mục đích của chúng thì thử hỏi việc thực hiện ấy ích lợi gì?

Trong bài Tin Mừng, ông kinh sư nói: «Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quí hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ» (Mc 12,33). Lời đó đã được Đức Giêsu xác nhận là khôn ngoan, đúng đắn. Cứ theo tinh thần câu nói ấy thì yêu Chúa và thương người hết sức mình quan trọng và quí giá hơn việc tham dự các nghi thức phụng vụ, các bí tích, các kinh nguyện. 

Chỗ khác, Ngài nói: «Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình» (Mt 5,23-24). Rõ ràng qua 2 câu Kinh thánh ấy, Đức Giêsu đã coi tình yêu hay sự hòa thuận đối với tha nhân quan trọng hơn việc «dâng lễ vật trước bàn thờ».

Chính Đức Giêsu mạc khải cho ta biết điều ấy khi nói về ngày phán xét cuối cùng: Thiên Chúa không hề phán xét về việc ta có tham dự các nghi thức phụng vụ hay không, hay tham dự thế nào, mà chỉ xét về việc ta đã làm gì để tỏ ra mình yêu thương tha nhân mà thôi. Đức Giêsu đã tỏ ra trọng phong cách đối xử với tha nhân, sự hòa thuận với những người chung quanh còn hơn việc dâng lễ vật toàn thiêu cho Thiên Chúa nữa (xem Mt 5,23-25).

Biết bao người chu toàn hết sức tốt đẹp những nghi thức phụng vụ mà lại đối xử với tha nhân chẳng ra làm sao, chẳng có tình có nghĩa gì cả, thì thử hỏi đạo đức kiểu ấy có ích lợi gì cho họ trước mặt Thiên Chúa trong ngày phán xét?




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu có nói: «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa, Lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy mới được vào mà thôi. Vì thế, trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, mà trừ quỉ, mà làm nhiều phép lạ sao?” và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: “Ta không hề biết các ngươi, xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác”» (Mt 7,21-23). Xin cho con hiểu được ý nghĩa thâm sâu của lời nói đó. Xin cho con nhận ra điều quan trọng nhất trong đạo của Cha mà con phải tuân giữ là thực hiện thánh ý Cha, mà điều cốt yếu nhất của thánh ý Cha chính là mến Chúa –cũng là yêu người– hết lòng hết sức. Amen.


Share: