Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

Xếp hạng 37 quốc gia thịnh vượng nhất trên thế giới


Xếp hạng 37 quốc gia
thịnh vượng nhất trên thế giới

* Lê Ngọc Châu
Viện Legatum đã công bố xếp hạng hàng năm của các quốc gia thịnh vượng nhất vào ngày  thứ Tư tuần trước.
Tổ chức giáo dục «Viện Legatum» tại Luân Đôn đã công bố chỉ số thịnh vượng toàn cầu hàng năm vào thứ tư tuần trước – một cuộc thăm dò ý kiến lớn, đánh giá rất nhiều quốc gia trên thế giới về «sự sung túc (Wohlstand = prosperity = sự phồn vinh» của họ. Các tiêu chuẩn khác nhau được đưa vào, bao gồm cả sức mạnh của nền kinh tế và môi trường tự nhiên.
Nhìn chung, Legatum quan sát trong sự xếp hạng hơn 100 tiêu chuẩn, bao gồm các chỉ số truyền thống như tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người và số lượng nhân viên làm việc toàn thời gian. Ngoài ra cũng phân tích nhiều dữ liệu bên ngoài, chẳng hạn như số lượng các trang chủ Internet an toàn ở một quốc gia và cảm giác toại nguyện hàng ngày của con người.
Ở đây bạn có thể thấy thứ hạng của các quốc gia:
Người dịch / người viết tóm lược theo thứ tự từ hạng cao nhất trong bảng xếp hạng là 37 lên hạng nhất. Thêm vào đó, Legatum có ghi hạng của năm 2017 và thứ hạng cao nhất trong danh mục phụ như giáo dục, môi sinh, an ninh … để độc giả tiện theo dõi và so sánh.
* Kết quả bảng xếp hạng của viện Legatum:
1. Na Uy (Xếp hạng năm 2017: 1).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: bảo vệ và bảo mật (hạng nhất)
2. New Zealand(Xếp hạng năm 2017: 2).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: Vốn xã hội (Sozialkapital social capital ) / (hạng 1)
3. Phần Lan(Xếp hạng năm 2017: 3).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Chính phủ, Giáo dục (hạng thứ 1)
4. Thụy Sĩ(Xếp hạng năm 2017: 4).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Giáo dục (hạng hạng 2)
5. Đan Mạch(Xếp hạng năm 2017: 7).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: vốn xã hội (Sozialkapital social capital ) / (hạng 5)
6. Thụy Điển(Xếp hạng năm 2017: 5).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: phẩm chất kinh tế (Wirtschaftsqualitaet/ economy quality) / (hạng thứ 5)
7. Vương quốc Anh(Xếp hạng năm 2017: 10).
Xếp hạng cao nhất trong một danh mục con: Môi trường tự nhiên (hạng thứ 2)
8. Canada(Xếp hạng năm 2017: 8).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Tự do cá nhân (hạng thứ nhất)
9. Hòa Lan(Niederlande)  Xếp hạng năm 2017: 6.
Xếp hạng cao nhất trong một danh mục phụ: Giáo dục, Chính phủ/ Chính quyền (hạng thứ 5)
10. Ireland(Irland)  Xếp hạng năm 2017: 12.
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: bảo vệ và bảo mật, tự do cá nhân (hạng thứ 5)
11. Island(Xếp hạng năm 2017: 13).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: «chất lượng» kinh tế (hạng 1)
12. Luxembourg(Xếp hạng năm 2017: 14).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Sức khỏe (hạng thứ 2)
13. Úc(Xếp hạng năm 2017: 9).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: Vốn xã hội (hạng thứ 2)
14. Đức(Xếp hạng năm 2017: 11.)
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Chính phủ/ Chính quyền (hạng thứ 10)
15. Áo(Xếp hạng năm 2017: 15).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Sức khỏe (hạng thứ 6)
16. Bỉ(Xếp hạng năm 2017: 16).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Tự do cá nhân (hạng thứ 12)
17. Mỹ (Xếp hạng năm 2017: 18).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: Môi trường kinh doanh (hạng thứ nhất)
18. Slovenia(Xếp hạng năm 2017: 21).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: Môi trường tự nhiên (hạng thứ nhất)
19. Malta(Xếp hạng năm 2017: 22).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: bảo vệ và bảo mật (hạng thứ 6)
20. Pháp(Xếp hạng năm 2017: 19).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: Môi trường tự nhiên (hạng thứ 7)
21. Singapore(Xếp hạng năm 2017: 17).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Sức khỏe (hạng số 1)
22. Hồng Kông(Xếp hạng năm 2017: 24).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: bảo vệ và bảo mật (hạng thứ 4)
23. Nhật Bản(Xếp hạng năm 2017: 23).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: bảo vệ và bảo mật (hạng thứ 2)
24. Bồ Đào Nha(Xếp hạng năm 2017: 25).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Tự do cá nhân (hạng thứ 6)
25. Tây Ban Nha(Xếp hạng năm 2017: 20).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Tự do cá nhân (hạng thứ 17)
26. Estonia(Xếp hạng năm 2017: 27).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: Môi trường tự nhiên (hạng thứ 6)
27. Cộng hòa Séc(Xếp hạng năm 2017: 26).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Giáo dục (hạng thứ 14)
28. Síp(Xếp hạng năm 2017: 31).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Tự do cá nhân (hạng thứ 24)
29. Mauritius(Xếp hạng năm 2017: 34).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: Vốn xã hội (Sozialkapital social capital ) / (hạng 21)
30. Uruguay(Xếp hạng năm 2017: 28).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Tự do cá nhân (hạng thứ 8)
31. Costa Rica(Xếp hạng năm 2017: 29).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Tự do cá nhân (hạng thứ 15)
32. Slovakia(Xếp hạng năm 2017: 35).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Bảo vệ và an ninh, Giáo dục (hạng thứ 26)
33. Ba Lan (Polen)  Xếp hạng năm 2017: 32.
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: bảo vệ và bảo mật (hạng thứ 23)
34. Ý(Iatlia)  Xếp hạng năm 2017: 30.
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: bảo vệ và bảo mật (hạng thứ 27)
35. Nam Hàn(Suedkorea) Xếp hạng năm 2017: 36.
Xếp hạng cao nhất trong danh mục phụ: Giáo dục (hạng thứ 17)
36. Lithuania(Xếp hạng năm 2017: 41).
Xếp hạng cao nhất trong một danh mục con: Môi trường tự nhiên (hạng thứ 18)
37. Israel(Xếp hạng năm 2017: 38).
Xếp hạng cao nhất trong danh mục con: Sức khỏe (Health) / (hạng thứ 16)
Thay lời kết:
Điều đáng lưu ý – nếu nhìn kỹ bảng xếp hạng- chúng ta sẽ thấy ngay trong số 37 quốc gia «phồn thịnh nhất thế giới» thì riêng ở Châu Á chỉ có Nam Hàn, Nhật, Hồng Kông, Singapor. Ngoài Uruguay, Canada, Mỹ, … Úc và đặc biệt New Zealand (hạng nhì trên toàn thế giới), còn lại hầu hết các quốc gia sung túc đều thuộc EU (Liên Hiệp Châu Âu). Ngay cả Trung cộng (TC) cũng không nằm trong danh sách 37 quốc gia «giàu có, sung túc» nhất trên thế giới thì đàn em cộng sản Việt Nam, lệ thuộc đàn anh TC về nhiều mặt, môi trường ô nhiễm thì nếu kẻ nào nói «VN là nhất» thì thú thật người viết nói riêng chào thua không biết nói gì vì rất đơn giản: «biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe» (hay tìm tài liệu đọc rồi hãy phát ngôn!). Mà nếu «nhất, tốt nhất thật sự» thì đâu cần phải «tìm đủ mọi cách» chạy ra nước ngoài làm gì?. Ngoài ra, muốn đánh giá đúng đắn một vấn đề, đặc biệt đời sống xã hội của một quốc gia thì các nhà nghiên cứu họ không nói «tào lao» nhưng vì uy tín họ đều dựa vào những dữ liệu cụ thể, ít nhất phải có từ các tiêu chuẩn căn bản trong cuộc sống, điển hình như: kinh tế, môi trường tự nhiên, giáo dục, an ninh, bảo vệ công dân và người tiêu thụ, y tế, tự do cá nhân …
Hãy can đảm nhìn sự thật, không nên khoác lác. Nước Mỹ là thiên đàng của nhiều người Việt ở VN. Giới tư bản Trung cộng và csVN hầu hết đều muốn sang «đế quốc Mỹ» sinh sống nhưng … Mỹ chỉ đứng hạng 17. Vài quốc gia ở Á Châu mà dân Việt – nhất là giới trẻ, thanh niên thiếu nữ từ trong nước ào ạt muốn tìm cách sang các quốc gia đó «theo kiểu xuất khẩu lao động» – cũng chẳng phải thuộc diện giàu có vượt bực như Nhật (hạng 24), Hồng Kông (hạng 22), Singapor (hạng 21) hay Nam Hàn kém giàu hơn ba nước thuộc châu Á kê trên (hạng 35). Còn Úc; Đức là quốc gia người Việt từ trong nước khá ưa chuộng chỉ đứng hạng 13 và 14 dựa trên các tiêu chuẩn đề cập ở trên thì chuyện csVN chẳng biết đánh giá theo kiểu gì nếu có kẻ nào từ trong nước tuyên bố vì lý do nào đó là VN «thế này, thế kia, có tự do nhân quyền, có tự do tôn giáo, kinh tế và môi trường tốt, đời sống người dân được bảo vệ an toàn … » thì đúng là chuyện lạ, nếu bình tâm đối chiếu với hình ảnh phổ biến trên internet hay Facebook … và khách quan so sánh «đa diện» với các quốc gia trong bảng xếp hạng của Viện Legatum/ Anh quốc!



* Lê Ngọc Châu
Share:

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Vong2b - Tình yêu đích thực là điều chính yếu và cần thiết nhất để đón Chúa đến




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Vọng

(9-2-2018)

Bài đào sâu

Tình yêu đích thực là điều chính yếu
và cần thiết nhất để đón Chúa đến



  TIN MỪNG: Lc 3,1-6

Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Sứ điệp chính của Gioan Tẩy giả là gì? Là sám hối? Nhưng phải hiểu sám hối thế nào? Dựa trên điều gì để biết được một người thật lòng sám hối? 
2. Người Pharisêu và Xađốc là những người nắm giềng mối của tôn giáo, được dân chúng coi là gương mẫu về đạo đức, tại sao Gioan Tẩy giả lại gọi họ là «nòi rắn độc»? Ông có quá đáng không? 
3. Cách đánh giá của Đức Giêsu và Gioan Tẩy giả về đạo đức và thánh thiện có khác cách thường tình của chúng ta không? Các Ngài đánh giá dựa trên tiêu chuẩn nào? Chúng ta thường dựa trên tiêu chuẩn nào? 


Suy tư gợi ý:

1. Gioan Tẩy giả kêu gọi sám hối

Gioan Tẩy giả xuất hiện để dọn đường cho Đức Giêsu. Ông chuẩn bị tâm hồn dân chúng để họ xứng đáng đón nhận Nước Trời do Đức Giêsu sắp đến khai mạc. Theo ông, điều tiên quyết phải làm để đón nhận Nước Trời là sám hối để được Thiên Chúa tha tội: «Ông liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội» (Lc 3,3).

Sám hối là nhận ra sự sai trái của mình đối với đường lối của Thiên Chúa và quyết tâm sửa sai. Sám hối đích thực phải dẫn đến một sự thay đổi toàn diện, một đời sống mới, với quan niệm mới, nhìn mọi sự và suy nghĩ mọi vấn đề theo cung cách mới, phù hợp với cách nhìn và đường lối của Thiên Chúa. Người nào nói mình sám hối mà đời sống không hề thay đổi, người ấy là người nói dối.



2. Coi chừng! những người tưởng mình là công chính nhiều khi lại cần sám hối hơn ai hết

Điều khiến ta phải lấy làm lạ là thái độ của Gioan Tẩy giả đối với những người Pharisêu và Xađốc. Tin Mừng Matthêu viết: «Thấy nhiều người thuộc phái Pharisêu và phái Xađốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối» (Mt 3,7-8). Những người Pharisêu và Xađốc là những người dạy dỗ dân chúng về tôn giáo, về lề luật của Chúa. Họ nắm giữ những giềng mối của tôn giáo Do Thái, và được coi là mô phạm, là gương mẫu cho dân chúng. Họ là những người giữ lề luật một cách rất nhiệm nhặt, chi ly đến từng chi tiết. Vì thế, dưới con mắt loài người, họ rất có lý khi tự hào về sự đạo đức, thánh thiện của mình.

Ta không hề thấy Gioan Tẩy giả nặng lời với bọn gái điếm, thu thuế, vốn bị coi là hạng tội lỗi. Nhưng ông lại rất nặng lời với những người thuộc hai phái được dân chúng coi là đạo đức này. Ông gọi họ là: «nòi rắn độc» (Mt 3,7)Sự kiện này rất đáng cho chúng ta suy nghĩ. Thông thường, mọi người đều nghĩ: nếu phải dùng từ «nòi rắn độc» để chỉ ai đó, thì bọn thu thuế và gái điếm mới xứng đáng với từ này nhất. Nhưng Gioan Tẩy giả không nghĩ như vậy. Ông dùng từ độc địa này để gọi chính những người được mọi người coi là đạo đức nhất trong dân chúng. Ông sai lầm chăng? 

Nếu cho rằng Gioan sai lầm, thì cũng phải cho rằng Đức Giêsu sai lầm luôn khi Ngài nói thẳng với hai nhóm người được coi là đạo đức này: «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31). Rõ ràng hai vị đồng quan điểm với nhau!



3. Đức Giêsu nhìn và đánh giá con người dựa trên tình yêu

Đức Giêsu –cũng như Gioan Tẩy giả– không đánh giá con người theo cách của chúng ta. Ngài nhìn thẳng vào chính tâm hồn con người để đánh giá, chứ không chỉ nhìn vào chức vụ, vào những việc làm tốt đẹp, những nhân đức được tỏ lộ ra bên ngoài ai cũng thấy như chúng ta. Vì thế, rất có thể những người bị chúng ta cho là tội lỗi vì những hành động xấu xa bên ngoài, lại được Ngài đánh giá cao hơn những con người được chúng ta cho là thánh thiện, đạo đức vì những nhân đức hay việc làm tốt lành mà ta thấy được của họ. Chính vì Ngài đánh giá khác con người, nên Ngài mới báo trước một sự đảo lộn không ngờ vào ngày chung cuộc: «Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên đầu» (Mc 10,31; xem thêm Mt 7,22-23; 8,11-12).

Đức Giêsu đánh giá con người như thế nào? Tiêu chuẩn đánh giá của Ngài chính là tình yêu, tình yêu đích thực, vì bản chất của Ngài chính là tình yêu (x.1Ga 4,8.16). Ai càng có nhiều tình yêu thì càng giống Ngài và càng có giá trị trước mặt Ngài. Do đó, sự thánh thiện hệ tại tình yêu mà con người có trong lòng mình, chứ không hệ tại những nhân đức hay những việc tốt đẹp mà con người làm được. Những thứ này chỉ là biểu hiện tất yếu của tình yêu chứ không phải là tình yêu. 

Nếu là tình yêu đích thực thì đương nhiên phải được thể hiện thành những nhân đức hay việc làm tốt đẹp. Ai nghĩ hay nói rằng mình có tình yêu, nhưng lại không hề thể hiện tình yêu ấy thành việc làm, thành nhân đức, thì đó là kẻ nói dối hay ảo tưởng. Tuy nhiên, không phải tất cả những việc làm tốt đẹp, những nhân đức thấy được bên ngoài đều xuất phát từ tình yêu.



4. Không có tình yêu, mọi việc tốt đẹp đều vô giá trị trước mặt Thiên Chúa

Thật vậy, người ta vẫn có thể có những nhân đức hay việc làm hết sức tốt đẹp bên ngoài mà chẳng hề có tình yêu ở bên trong. Những nhân đức hay việc làm tốt đẹp ấy có thể phát xuất:

– từ tham vọng cá nhân: một người có tham vọng làm tổng thống, bộ trưởng hay làm một chức sắc cao cấp trong một tôn giáo vẫn có thể tập luyện để có những nhân đức, hay làm được những việc rất tốt đẹp chủ yếu để đạt được những địa vị cao cả đó.

– từ chức năng: một cán sự xã hội, một nhân viên tiếp thị, một đại lý bảo hiểm… phải có những lời nói thật dễ thương, đầy vẻ khiêm nhường và vị tha, phải có thái độ sẵn sàng giúp đỡ… (mà bình thường mình không có) thì mới có thể thành công trong nghề nghiệp mình. Làm chức sắc tôn giáo cũng phải ăn nói hay hành động thế nào để tỏ ra có tình yêu đúng như chức vụ mình đòi hỏi. Tình yêu này là thứ «tình yêu do chức năng» (love by profession) hay «tình yêu vì mục vụ» (love by pastoral duty)

– từ tính sĩ diện, ham được ca tụng, thích được bái phục, hoặc sợ bị chê cười, trách móc: biết bao hành động tốt đẹp trên đời được thành tựu do sự thúc đẩy của động lực rất phổ biến này.

Như vậy, «yêu thật sự» và «có vẻ yêu» thì bề ngoài rất giống nhau đến nỗi con người nhiều khi không thể phân biệt được, nên trước mặt con người, giá trị của chúng có thể như nhau, nhưng trước mặt Thiên Chúa lại rất khác nhau. Thánh Phaolô cho chúng ta biết về sự vô giá trị trước mặt Thiên Chúa của những hành động tốt đẹp nhưng không phát xuất từ tình yêu, cũng như những đặc sủng không phục vụ cho tình yêu: «Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và các thiên thần (…) có ơn nói tiên tri và biết hết mọi bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có đức tin chuyển núi dời non (…) có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,1-3). 

Không có tình yêu, thì trước mặt Thiên Chúa, mọi nhân đức, mọi đặc sủng, mọi việc làm tốt đẹp, thậm chí đức tin, chỉ là một dãy số không với chữ số to nhỏ khác nhau mà thôi. Có ai hãnh diện vì số không của mình to hơn, đẹp hơn, hay dãy số không của mình dài hơn của người khác không? Đã là số không, thì dù to hay nhỏ, dù đẹp hay xấu, dù là một chữ số hay nhiều chữ số kết hợp lại, thì cũng đều có giá trị bằng không.

Dãy số không –tượng trưng cho những nhân đức hay việc làm tốt đẹp– dù dài hay ngắn, dù to hay nhỏ, đều không có giá trị gì. Nhưng nếu thêm vào đầu dãy số ấy con số 1, thì giá trị của dãy số ấy hoàn toàn biến đổi. Tình yêu chính là số 1 đứng ở đầu dãy số không ấy, biến tất cả những số không vô giá trị kia thành một giá trị lớn lao. 

tình yêu đích thực lại đặt nền tảng trên tinh thần tự hủy, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi» của mình. Đấy chính là ý nghĩa đích thực và chủ yếu của hai chữ «từ bỏ» trong Tin Mừng (x. Mt 16,24). Mọi công trình của con người mà bị đổ bể thường chỉ vì thiếu tinh thần «từ bỏ» này của Tin Mừng. Một người coi «cái tôi» của mình quá quan trọng khó có thể có được tình yêu đích thực.

Vậy, để sám hối hầu đón Chúa đến trong tâm hồn mình, thiết tưởng ta cần nghiêm túc xét xem sự thánh thiện và đạo đức của chúng ta xây dựng trên nền tảng nào: trên tình yêu? hay trên tham vọng cá nhân, trên chức vụ, trên sĩ diện? Nếu sự đạo đức thánh thiện ấy không được xây dựng trên tình yêu, thì chính chúng ta mới là những người phải sám hối trước tiên. Vì rất có thể những kẻ có vẻ tội lỗi hơn chúng ta lại có nhiều tình yêu hơn chúng ta, họ đối xử với tha nhân có tình có nghĩa hơn chúng ta. Nên trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không giá trị bằng họ.




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi con cầu nguyện nhiều hơn người khác, nhưng chính trong khi cầu nguyện, con lại tỏ ra ích kỷ, kiêu ngạo và thiếu tình yêu hơn lúc nào hết, khiến việc cầu nguyện của con làm cho Cha chán ngán. Nhiều khi chúng con giống như những người Pharisêu, cầu nguyện nhiều để được mọi người coi là đạo đức (x. Mt 6,5), hoặc tự hào về mình trước mặt Cha khi cầu nguyện (x. Lc 18,11-12). Xin cho con hiểu rằng chỉ có tình yêu chứ không phải bất cứ điều gì khác làm cho con trở nên giống Cha, nghĩa là nên thánh thiện thật sự.


Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây . 


Share:

Vong2a - Sám hối và sửa đổi những quan niệm sai lầm, là thứ sám hối quan trọng nhất




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Vọng

(9-2-2018)


Sám hối và sửa đổi những quan niệm sai lầm,
là thứ sám hối quan trọng nhất



ĐỌC LỜI CHÚA

  Br 5,1-9: (7) Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao và gò nổng có tự lâu đời, phải lấp đầy thung lũng cho mặt đất phẳng phiu, để Ítraen tiến bước an toàn dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa.

  Pl 1,4-6.8-11: (9) Điều tôi khẩn khoản nài xin, là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào, khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên, (10) để nhận ra cái gì là tốt hơn. Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm.


  TIN MỪNG: Lc 3,1-6

Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng

(1) Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilên, (2) Khanan và Caipha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa. (3) Ông liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, (4) như có lời chép trong sách ngôn sứ Isaia rằng: Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. (5) Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. (6) Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Thiên Chúa nói với Gioan, mời gọi ông cộng tác với Ngài vào kế hoạch cứu độ của Ngài. Thế còn chúng ta? Ngài có mời gọi ta làm gì không? Ta có nghe thấy Ngài mời gọi ta làm gì không? Nếu không thì tại ta hay tại Ngài? 
2. Gioan mời gọi mọi người sám hối. Sám hối là gì? Sám hối chỉ hoàn toàn mang tính cá nhân hay còn mang tính tập thể nữa? 
3. Đời sống con người có nhiều mặt, muốn sám hối để cải thiện đời sống thì sám hối về mặt nào sẽ giúp con người cải thiện được nhiều nhất? 

Suy tư gợi ý:

1. Gioan Tẩy Giả được Thiên Chúa kêu gọi

Gioan Tẩy Giả được Thiên Chúa kêu gọi một cách rất đặc biệt. Trước khi ông sinh ra, đã có những biến cố kỳ lạ liên quan đến ông. Cha ông đã gặp thiên sứ hiện ra trong Đền Thờ báo tin việc ra đời của ông, rồi cha ông bị câm vì cứng tin; mẹ ông mang thai ông trong tuổi già; và cha ông chỉ hết câm khi đặt tên cho ông (x. Lc 1,5-25.57-80). Khi ông đến tuổi trưởng thành, Kinh Thánh viết về ông: «Có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa» (Lc 3,2). Và ông đã đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa, đã  ra đi, rao giảng về Nước Trời, chuẩn bị hay dọn đường cho Đức Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại, đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi một cách hết sức nhiệt thành, đến nỗi đã chết một cách rất anh hùng vì ơn gọi của mình (x. Mt 14,3-12; Mc 6,17-29).



2. Thiên Chúa cũng kêu gọi chúng ta

Ơn gọi của Gioan thì như thế. Còn ơn gọi của chúng ta thì sao? 

− Để cứu rỗi nhân loại và làm cho con người được hạnh phúc, và để thiết lập Nước Trời, Thiên Chúa cần rất nhiều người cộng tác. Một số người nghe được tiếng Ngài mời gọi cộng tác. Ai đáp lại thì cũng đều do Ngài kêu gọi và được thánh hóa (x. Rm 8,30). Nhưng Ngài thường không mời gọi một cách minh nhiên, rõ rệt bằng lời nói theo kiểu người đời mời gọi một ai đó cộng tác với mình. Người được Ngài mời gọi, ban đầu, thường cảm thấy một cách mơ hồ có một khuynh hướng hướng về Ngài, về công việc của Ngài. Khuynh hướng ấy ngày càng trở nên mạnh mẽ và rõ nét cho đến một hôm nó trở thành một lời mời gọi rõ rệt từ bên trong. 

Khuynh hướng này có trở nên mạnh mẽ và rõ rệt hay không, điều ấy còn tùy thuộc vào lòng nhiệt thành và quảng đại của ta trong những lần Chúa mời gọi ta thực hiện những công việc nho nhỏ trong những tình huống xảy ra thường ngày. Người nào không làm theo tiếng lương tâm, không đáp lại tiếng Ngài trong những trường hợp cụ thể của đời sống, sẽ không cảm thấy Ngài kêu gọi mình trong những công việc lớn hơn.

Rất nhiều người không được mời gọi cộng tác trong công việc của Ngài chỉ vì họ không nghe được tiếng Ngài. Nếu ta không nghe được tiếng Ngài,  chính vì ta chẳng mấy khi chịu im lặng để lắng nghe tiếng Ngài vang vọng trong thâm tâm ta. Thực ra Ngài vẫn nói, vẫn kêu gọi mọi người, nhưng nhiều người chẳng thèm nghe vì còn bận quan tâm đến những chuyện của trần gian. Nhiều lần như thế, tiếng Ngài ở trong ta ngày càng yếu ớt, và đến một lúc nào đó tiếng Ngài như tắt hẳn. Như vậy, không phải Ngài không nói mà vì lỗ tai tâm linh của ta đã bị điếc, không còn khả năng nghe thấy tiếng Ngài nữa. Và ta bị điếc cũng tại vì ta không muốn nghe, hay không muốn đáp lại lời mời gọi của Ngài.



3. Gioan Tẩy Giả kêu gọi sám hối

Trước khi Đức Giêsu đến với trần gian, Thiên Chúa kêu gọi Gioan Tẩy Giả dọn đường cho Ngài, bằng cách mời gọi mọi người sám hối, và biểu lộ lòng sám hối bằng một nghi thức bên ngoài là rửa tội. Sám hối là nhận ra những tội lỗi, khuyết tật, sai sót của mình để quyết tâm sửa đổi hầu trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Nếu sám hối không dẫn đến tình trạng tốt đẹp hơn, thì sám hối đó chỉ là sám hối hời hợt, ngoài miệng… Nếu thực hiện nghi thức sám hối ở bên ngoài (như rửa tội, xưng tội…) mà trong lòng không thật tâm sám hối thì đó chỉ là việc làm lấy lệ hay giả dối.

Sám hối được thực hiện chủ yếu ở trong nội tâm chứ không chỉ qua những nghi lễ bên ngoài. Có thể sám hối thật sự mà không cần những nghi thức bên ngoài, và cũng có những người thực hành những nghi thức bên ngoài mà chẳng hề sám hối ở bên trong. Nếu là sám hối thật sự thì việc sám hối phải tất yếu dẫn đến hành động cải thiện thật sự. Ngôn sứ Isaia mô tả sự sám hối ấy bằng những hình tượng khác nhau: «Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng» (Is 40,4; Lc 3,5)



4. Sám hối một cách cụ thể là gì?

Điều quan trọng để đón Chúa đến là phải có tinh thần sám hối. Tinh thần sám hối không nằm ở chỗ cảm thấy đau buồn vì những lầm lỗi sai phạm của mình cho bằng việc xét lại bản thân để xác định được những khuyết điểm, tật xấu, những tư tưởng hành vi không đúng, không tốt trong quá khứ, và nhất là quyết tâm sửa chữa. Khi xét về những sai lỗi, ta thường nghĩ đến những hành vi gây hại cho người hoặc mình, cho gia đình, cho xã hội hoặc Giáo Hội, điều đó đúng, nhưng không đủ… 

Đọc đoạn Tin Mừng về ngày phán xét của Chúa (x. Mt 25,31-46), ta thấy Thiên Chúa chủ yếu phán xét ta về việc ta làm và việc ta không làm cho tha nhân. Trong đoạn Tin Mừng ấy, kẻ bị kết án dường như chỉ vì không làm những việc mà tha nhân cần ta làm trong thế kẹt hay hoàn cảnh cấp bách của họ. Chúa nói: «Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng» (Mt 25,42-43)

Qua đoạn Tin Mừng này, ta thấy dường như Thiên Chúa chỉ kết án thái độ «vô cảm», nghĩa là thờ ơ, không thèm quan tâm trước sự đau khổ, trước tình trạng bị áp bức bất công, trước những nhu cầu khẩn thiết của tha nhân cần đến sự can thiệp hay giúp đỡ của ta.

Sám hối đích thực nhất thiết phải dẫn tới một sự thay đổi, một sự cải thiện thật sự. Sám hối mà sau đó không có sự cải thiện nào, thì chỉ là sám hối giả tạo. Sự thay đổi hay cải thiện này phải được thực hiện trên nhiều bình diện: quan niệm, tư tưởng, thái độ, hành động, cách cư xử, v.v... 



5. Sám hối quan trọng nhất là sám hối về những quan niệm sai lầm

Bình diện quan trọng nhất cần phải thay đổi, đó là thay đổi những quan niệm sai lầm của mình. Vì quan niệm sai sẽ dẫn đến suy nghĩ sai, suy nghĩ sai sẽ dẫn đến thái độ và hành động sai, hành động sai sẽ dẫn đến những hậu quả xấu, tai hại cho mình hoặc tha nhân… Rất nhiều khi ta quan niệm sai mà ta không biết. Năng đọc và suy gẫm Thánh Kinh để biết quan niệm của Thiên Chúa, để đối chiếu quan niệm của Ngài với quan niệm của ta, ta sẽ biết là ta quan niệm sai hay đúng. Chẳng hạn:

− Đọc đoạn Tin Mừng Mt 25,31-46, ta thấy: quan niệm của ta không đúng khi cho rằng nếu cả đời mình không làm hại ai thì mình ắt hẳn là người tốt, là công chính... Nhưng theo đoạn Tin Mừng này thì dù ta không làm hại ai, nhưng nếu ta không làm gì khi tha nhân lâm vào tình trạng khẩn cấp cần được cứu giúp, thì ta vẫn bị kết án là kẻ tội lỗi.

− Đọc đoạn Tin Mừng Mt 5,23-24, ta thấy: khi mình với tha nhân còn có chuyện giận ghét nhau, thì việc đi làm hòa với tha nhân được Thiên Chúa coi trọng hơn cả việc dâng của lễ trên bàn thờ. Điều này trái với quan niệm thông thường của ta, vì ta coi việc dâng của lễ quan trọng hơn rất nhiều so với sự hòa thuận cần có với tha nhân.

− Đọc đoạn thư của thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô 1Cr 13,1-3 ta mới thấy tình yêu đối với tha nhân còn quan trọng hơn cả đức tin, và những việc làm dù có tốt lành đến đâu nếu không xuất phát từ tình yêu thương đích thực thì cũng chẳng có giá trị gì. Điều này cũng rất ngược với quan niệm bình thường của ta vốn coi đức tin quan trọng hơn đức ái rất nhiều; ta sẵn sàng kết án đôi khi nặng nề những ai tin khác với ta dù chỉ chút ít, nhưng lại coi nhẹ những thái độ hay hành vi rất thiếu tình thương; và ta thường đánh giá rất cao những hành động tốt của ta cũng như của người khác mà không xét đến động lực thúc đẩy làm hành động ấy có phải là tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân hay không.

Còn rất nhiều đoạn Thánh Kinh khác, nếu thường đọc và suy gẫm, ta sẽ thấy quan niệm của Thiên Chúa khác với quan niệm của ta rất nhiều. Do đó, trong tinh thần sám hối, ta cần chỉnh lại quan niệm của ta sao cho phù hợp với quan niệm của Thiên Chúa. Đây mới chính là sự sám hối cần thiết nhất.



6. Sám hối phải được thể hiện thành hành động sửa sai, nơi cá nhân cũng như trong xã hội 

Sám hối đích thực phải dẫn đến sự chừa cải, tu sửa, cải thiện… Nói khác đi, có gì sai thì phải sửa cho đúng, xấu thì sửa cho tốt cho đẹp, cong thì sửa thành thẳng, gồ ghề thì sửa thành phẳng, cao thì bạt xuống, thấp phải đôn lên…

Việc sám hối và tu sửa phải được thực hiện không chỉ nơi cá nhân mà còn trong giáo hội và xã hội.

– Nơi cá nhân: cá nhân nào cũng đều có những tật xấu, khuyết điểm, tính vị kỷ, kiêu căng, tham lam, đố kỵ, ghen ghét, lười biếng, hèn nhát, v.v… Mỗi lần mùa Vọng đến, để đón Chúa một cách thực tế, ta nên xác định một tật xấu hay khuyết điểm nào đó để quyết tâm sửa sai. Nếu mỗi mùa Vọng ta sửa được một tật xấu, một quan niệm sai lầm, thì khi đón Chúa đến vào cuối cuộc đời, Chúa sẽ rất hài lòng với ta.

– Trong giáo hội và xã hội: giáo hội hay xã hội nào cũng đều có khiếm khuyết, bất công: với những cơ chế phát sinh bất công, với những luật lệ phi lý, những quan niệm sai lạc, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ nạn… tất cả đều làm cho con người trong tập thể đau khổ, trì trệ, không phát triển, v.v… Ngày Chúa đến, Ngài không chỉ xét đoán các cá nhân, mà xét đoán cả các quốc gia, các tôn giáo, các nền văn hóa, các xã hội và giáo hội… nữa.

Hiện nay, trong đời sống tâm linh và tu đức, rất nhiều Kitô hữu chỉ nghĩ tới việc nên thánh cá nhân, sự cứu rỗi cá nhân, mà quên đi chiều kích giáo hội và xã hội của ơn cứu rỗi và sự nên thánh. Họ quan niệm việc nên thánh hay cứu rỗi của họ có thể thực hiện một mình, độc lập với những người chung quanh… Nghĩa là họ có thể nên thánh, được cứu rỗi mà không cần nghĩ gì đến xã hội và giáo hội, bất chấp đến những bất công, trì trệ, hay những thành quả tốt đẹp của giáo hội và xã hội. Họ cho rằng họ có thể nên thánh và được cứu rỗi mà không cần để ý đến xã hội hay những người chung quanh xem họ có nhu cầu gì, đau khổ hay hạnh phúc ra sao.

Thiết tưởng tinh thần cốt yếu của Kitô giáo là tình yêu, một tình yêu trải rộng đến mọi người không phân biệt bạn thù, giàu nghèo, giai cấp, v.v… Tiêu chuẩn cuối cùng để Thiên Chúa xét đoán sự công chính của mỗi người là tình yêu họ dành cho tha nhân (x. Mt 25,31-46). Nên sự sám hối cũng như sự tu sửa của người Kitô hữu để đón Chúa đến phải chủ yếu nhắm đến tình yêu, đến sự quan tâm của mình đối với tha nhân, đối với giáo hội, xã hội, quê hương, đất nước và toàn nhân loại.

Trong chiều hướng đó, câu «Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng» (Lc 3,5) không chỉ áp dụng cho bản thân mỗi cá nhân mà còn cho cả giáo hội và xã hội nữa.



7. Ý thức sám hối mang tính giáo hội và xã hội 

Tất cả mọi Kitô hữu đều có trách nhiệm biến cải giáo hội và xã hội nên tốt hơn, nghĩa là phải sửa sai, phải thay đổi những gì chưa đúng, hoặc có hại trong giáo hội và xã hội. Trong dân gian có câu: «Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh», hay «quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách» (kẻ kém cỏi nhất trong đất nước cũng có trách nhiệm về sự thịnh suy của đất nước). Cũng thế, mọi Kitô hữu dù là giáo dân hay linh mục tu sĩ, dù là thất học hay trí thức, tất cả đều có trách nhiệm đối với sự phát triển hay suy thoái của giáo hội và xã hội. 

Những Kitô hữu tỏ ra vô tâm, vô tình, vô trách nhiệm đối với tha nhân, với xã hội, đất nước, thế giới, với giáo hội địa phương, cũng như với giáo hội hoàn vũ, cần phải suy xét lại thái độ vô tình ấy của mình. Rất có thể ta chưa phải là Kitô hữu đích thực, chưa có đủ tình yêu đối với tha nhân, là một phẩm tính căn bản của người Kitô hữu.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin Cha giúp con thực hiện lời kêu gọi sám hối của Gioan Tẩy Giả, cụ thể là mở rộng tấm lòng hẹp hòi của con ra. Xin cho con biết ôm cả thế giới, cả giáo hội, cả quê hương vào lòng, để con biết quan tâm đến những vấn đề rộng lớn, biết ý thức chia sẻ trách nhiệm chung với mọi người trước lịch sử của đất nước, của giáo hội và thế giới. Xin đừng để con quá hững hờ, làm ngơ hay dửng dưng vô trách nhiệm trước những biến cố đau thương hay sự hưng thịnh của đất nước, của giáo hội và thế giới. 


Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây . 


Share:

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2018

Vong1b - Ngày phán xét, Thiên Chúa căn cứ chủ yếu vào «cái tâm» của ta hơn vào những hành động tốt xấu của ta




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 1 Mùa Vọng

(02-12-2018)

Bài đào sâu

Ngày phán xét, Thiên Chúa căn cứ
chủ yếu vào «cái tâm» của ta
hơn vào những hành động tốt xấu của ta




ĐỌC LỜI CHÚA

  TIN MỪNG: Lc 21,25-28,34-36

Những điềm lạ. Con Người quang lâm

Phải tỉnh thức và cầu nguyện




CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Nếu biết trong tuần tới kẻ trộm sẽ đến nhà bạn, không biết vào lúc nào, ngày hay đêm, bạn có làm gì khác lạ hơn bình thường không? Tại sao? 
2. Tỉnh thức nghĩa là là gì? Cho một vài thí dụ khác nhau về tỉnh thức. 
3. Để tỉnh thức theo tinh thần bài Tin Mừng hôm nay, một cách cụ thể thì phải làm những gì?


Suy tư gợi ý:

1. Nếu tôi biết tuần này kẻ trộm sẽ đến nhà tôi, thì …

Chúng ta thử xét một cách thật nghiêm túc xem: phản ứng, tư tưởng và thái độ của ta sẽ thế nào khi được báo tin chắc chắn rằng một bọn trộm cướp đã dự định đến «thăm» nhà ta tuần này. Được tin ấy, thử hỏi ban đêm ta còn ngủ yên như mọi khi được không? Nếu ta đoán kẻ trộm cũng có thể đến cả vào ban ngày nữa, thì ta có đề phòng cả ban ngày không? Ta có dám bỏ nhà đi đâu xa vào những ngày này, và giao phó nhà cửa cho đám con cái còn bé nhỏ chưa kinh nghiệm không? 

Nếu đoán biết kẻ trộm sẽ đến, chắc chắn ta sẽ gia tăng đề phòng, không để cho chúng lấy đi của ta bất kỳ đồ vật gì. Muốn đề phòng hữu hiệu, ta phải canh thức liên tục, không ngừng nghỉ. Ngừng đề phòng lúc nào là kẻ trộm có thể đến lúc ấy, nhất là vào những lúc chúng biết ta mệt mỏi, lơ là. Nếu đề phòng liên tục, chắc chắn kẻ trộm sẽ thất bại.

Chỉ vì sợ mất của cải vật chất chóng qua mà ta đã lo canh phòng như vậy, lẽ nào mạng sống tâm linh của ta, của cải tâm linh của ta, là cái quí hơn hàng trăm ngàn lần, ta lại không lo lắng canh giữ? 



2. Cách sống hiện tại quyết định số phận vĩnh cửu

Số phận vĩnh cửu của ta tùy thuộc cách sống hiện tại của ta. Cuộc sống hiện tại trong thời gian là mầm nảy sinh cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Mầm tốt sẽ trở thành cây tốt, mầm xấu sẽ trở thành cây xấu (x. Mt 7,17-18). Do đó, cách ta sống, và quan trọng hơn nữa là «cái tâm», hay «tấm lòng» mà ta hình thành hay luyện tập được trong cuộc sống hiện tại, sẽ quyết định tương lai vĩnh cửu của ta.

Cuộc sống vĩnh cửu đã bắt đầu ngay trong cuộc sống hiện tại, và định hình vĩnh viễn ngay khi ta chấm dứt cuộc sống tạm bợ này, nghĩa là ngay khi ta chết. Nhưng ta chết lúc nào? Không ai biết được! Những người chết trong hai tòa nhà cao tầng ở New York ngày 11-9-2001, hay những nạn nhân cuộc khủng bố của ISIS tại Paris ngày 13/11/2015, hay Nhà báo Khashoggi người Thổ Nhĩ Kỳ đã bị giết ngày 2/10/2018 ngay khi vừa bức chân vào lãnh sự quán Saudi ở Istanbul để làm giấy tờ cho đám cưới sắp tới của ông. Những người ấy, không ai ngờ trước được rằng hôm ấy là ngày tận số cuộc đời mình. Không ngờ được vì thấy rằng còn gì bảo đảm an toàn hơn khi ở trong những tòa nhà kiên cố ấy, hoặc khi có cả một mạng lưới an ninh bảo vệ? 

Thế mới biết tai họa hay cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở bất kỳ nơi nào. Đối với cái chết, chẳng lúc nào, chẳng nơi nào, chẳng tình trạng sức khỏe nào là an toàn cả! Thật đúng như thánh Phaolô nói: «Khi người ta nói: “Bình an biết bao, yên ổn biết bao!” thì lúc ấy tai họa sẽ thình lình ập xuống» (1Tx 5,3). Cái chết đến quả thật như kẻ trộm! không thể biết trước hay đoán trước được lúc nào, cách nào, và thế nào! Tuy nhiên, chết lúc nào, cách nào không phải là chuyện quan trọng. Vấn đề hết sức quan trọng chính là: số phận đời sau của mình thế nào? 

Số phận của chúng ta đời sau chính là kết quả của cách sống đời này. Nếu đời này chúng ta sống vị tha, yêu thương mọi người đúng theo bản chất của mình là «hình ảnh của Thiên Chúa» cũng là «con cái Thiên Chúa», thì đời sau chúng ta sẽ được sống trong một môi trường đầy yêu thương, được gần gũi với chính Thiên Chúa của Tình Thương. 

Trái lại, nếu đời này ta sống ích kỷ, ít tình thương, không tình nghĩa, thường lãnh đạm, nhạt nhẽo, ganh ghét, hận thù… với tha nhân, thì đời sau chúng ta sẽ phải sống trong một môi trường không có tình thương, đầy hận thù và xa cách Thiên Chúa. Điều đó xảy ra không khác gì một quy luật, luật nhân quả: «Cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu» (Mt 7,17)

Tương tự như một người luôn yêu thương và vui vẻ với mọi người, dễ dàng hy sinh, sẵn sàng chịu thiệt thòi cho người khác, thì tự nhiên người ấy tạo ra chung quanh mình một bầu khí vui tươi, thoải mái, yêu thương, và những ai ở gần người ấy đều tự nhiên cảm thấy hạnh phúc và quí mến người ấy. Trái lại, một người ích kỷ chỉ nghĩ tới mình, chẳng biết yêu thương hay hy sinh cho ai, chỉ mong người khác hy sinh, chịu thiệt cho mình, tự nhiên người ấy sẽ tạo ra chung quanh mình một bầu khí ảm đạm, căng thẳng, buồn tẻ, và chẳng mấy ai cảm thấy hứng thú gì khi ở với người ấy. 



3. Điều quan trọng là «luyện cái tâm»

Khi phán xét, Thiên Chúa sẽ căn cứ chủ yếu vào «cái tâm» của ta nhiều hơn là chính những hành động tốt xấu mà ta thực hiện được. Vì trong đời sống con người, có rất nhiều hành động tốt nhưng lại xuất phát từ một «cái tâm» xấu: chẳng hạn như những hành động giả nhân giả nghĩa, những hành động tốt chỉ để tạo uy tín, để lấy điểm trước con mắt người đời, những đóng góp rất nhiều tiền cho người nghèo nhưng không phải vì thương người nghèo mà để được khen là một người hảo tâm, tương tự như những hành động yêu thương của một chàng sở khanh chỉ nhằm chiếm đoạt được người đẹp để rồi phản bội… 

Đức Giêsu khuyên «khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm» (Mt 6,3), «khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại» (6,6), vì những hành động tốt được làm «cốt để người ta khen» (6,2), «cốt cho người ta thấy» (6,5) thì không xuất phát từ «cái tâm» tốt, và «đã được thưởng công rồi» (6,2b)

Thánh Phaolô cũng xác định những hành động tốt nhưng không xuất phát từ cái «tâm yêu thương» thì chẳng có giá trị gì trước mặt Thiên Chúa (x. 1Cr 13,3); và ngay cả đức tin hết sức mạnh mẽ, hoặc hiểu biết thật sâu sắc về Thiên Chúa mà không có cái «tâm yêu thương» thì cũng trở thành vô ích (x. 1Cr 13,2).

Vì thế, đừng tưởng mình sẽ được Thiên Chúa ân thưởng vì có đạo gốc, có đức tin thật mạnh mẽ, hoặc hiểu biết Thiên Chúa hơn tất cả mọi người, hoặc có vô số những hành động tốt, mà không có «cái tâm» yêu thương cho tốt. Chính Đức Giêsu đã tiết lộ rằng: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,22-23)

Thật vậy, nếu không chịu từ bỏ cái tâm đố kỵ, ghen ghét, hận thù, ích kỷ, sẵn sàng hại người, dễ dàng đối xử bất công với tha nhân, v.v... thì những hành động dù có tốt đến đâu mà xuất phát từ cái tâm khó ưa ấy, sẽ chẳng được coi là những hành động tốt thật sự. Với cái tâm khó ưa ấy thì khó mà vào được Thiên Đàng, nơi chỉ dành cho những người có «cái tâm» yêu thương. Những người còn cái tâm xấu mà vào được Thiên đàng thì họ sẽ biến Thiên đàng thành một nơi vẫn còn đau khổ. Họ còn phải vào «luyện ngục» để «luyện cái tâm» cho tới khi thành «cái tâm» tốt, tràn đầy yêu thương để xứng đáng và phù hợp với bản chất của Thiên đàng.



4. «Ngày của Chúa»

Đối với mỗi cá nhân, «Ngày của Chúa» – hay ngày Chúa đến – chính là ngày ta chấm dứt cuộc đời trần thế để đến trình diện trước mặt Chúa hầu được quyết định về số phận vĩnh cửu của mình. Đối với toàn thế giới, «Ngày của Chúa» chính là ngày tận thế, ngày mà tất cả mọi người đã từng sống trên trần gian đều phải trình diện trước mặt Chúa. Ngài sẽ phán xét Giáo Hội cũng như tất cả mọi thể chế trần gian, mọi tôn giáo, mọi chủ nghĩa, mọi ý thức hệ, mọi nền văn hóa, mọi chế độ, mọi quốc gia, mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi tập thể… 

Lúc đó mọi dân mọi nước, mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa sẽ biết rõ ràng và dứt khoát đâu là đúng đâu là sai. Lúc đó, tất cả mọi bí mật trên thế giới, trong tất cả mọi lãnh vực, đều được tỏ lộ, phanh phui cho tất cả mọi người thấy, không một che dấu nào mà không bị hiển lộ… Trước mọi sự được tỏ bày, ai nấy đều tự mình biết mình là công chính hay tội lỗi, và công chính hay tội lỗi ở mức độ nào. Mọi người sẽ tâm phục khẩu phục khi thấy số phận của mình, của mọi người và từng người được ấn định một cách hết sức công bằng, hợp lý và quang minh.

Ngày ấy sẽ là ngày vui mừng, vinh quang cho những người thật sự công chính, vì họ sẽ được giải oan, được mọi người nhìn nhận sự trong sạch, ngay thẳng, và biết được tất cả những gì tốt đẹp của mình, đồng thời được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Nhưng ngày ấy sẽ là ngày u buồn, nhục nhã, xấu hổ cho những người giả công chính, giả đạo đức, những kẻ gian ác, vì mọi giả dối, xấu xa, gian ác của họ, dù được giấu diếm kỹ càng đến đâu cũng đều bị lột trần, phanh phui trước mọi người, và số phận của họ sẽ là đau khổ muôn đời.



5. Thái độ tỉnh thức và sẵn sàng

Ngày của Chúa đến như kẻ trộm, không ai biết trước được, và là ngày qui định dứt khoát số phận đời đời của ta. Vì thế, thái độ khôn ngoan nhất của ta là luôn luôn tỉnh thức, lúc nào cũng ở trong tư thế sẵn sàng, để ngày ấy dù có bất ngờ tới đâu, cũng là ngày đem lại vinh quang và hạnh phúc vĩnh cửu cho ta. Như vậy, thái độ tỉnh thức là thái độ nào?

Tỉnh thức trái với ngủ quên, trái với tình trạng mê mải, tình trạng bị thu hút bởi một sự việc gì, khiến ta quên mất điều ta phải nhớ, phải canh chừng. Một minh họa cụ thể: Nhiều khi người nhà tôi bận việc, yêu cầu tôi canh chừng ấm nước sôi. Tôi nhận lời với tất cả ý thức. Nhưng chờ lâu quá, để tiết kiệm thì giờ, tôi lại tiếp tục viết bài. Tới lúc chợt nhớ tới ấm nước thì đã quá muộn, ấm đã cạn sạch nước. Chậm một chút nữa là ấm sẽ bị cháy! Công việc đã thu hút tôi đến mức làm tôi quên canh chừng!

Tỉnh thức theo nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay là luôn luôn ý thức được mục đích cuộc đời mình là sống xứng với phẩm giá cao cả của mình là hình ảnh và là con cái Thiên Chúa, nhờ đó đạt hạnh phúc vĩnh cửu. Điều đó đòi hỏi tôi phải sống phù hợp với tinh thần Tin Mừngcó được «cái tâm yêu thương», cụ thể nhất là yêu thương những người gần mình nhất. Điều ta cần quan tâm không chỉ là tránh gây nên những bất lợi cho tha nhân, mà còn là làm những gì họ cần ta làm cho họ. 

Trong đoạn Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng (Mt 25,31-46), ta thấy Thiên Chúa đặc biệt phán xét về những thiếu sót, những điều mà ta không làm cho tha nhân khi họ cần ta làm. Ta thường tưởng rằng mình không làm điều gì bất lợi cho tha nhân thì có nghĩa là mình vô tội, mình công chính. Nhưng thực ra khi mình không làm những việc mình phải làm hoặc có thể làm cho tha nhân, thì mình đã trở thành kẻ có tội và đáng bị kết án rồi. Cụ thể như khi đứng trước một bất công, giả như tôi lên tiếng thì bất công ấy đã không xảy ra, hoặc sự công bằng đã được trả lại cho người bị bất công, nhưng tôi đã không lên tiếng chỉ vì một sợ hãi mơ hồ nào đó. Điều đó chứng tỏ rằng tôi không có đủ tình thương. Chính những tội về thiếu sót ấy làm tôi không xứng đáng với hạnh phúc vĩnh cửu.

Chúng ta có thể trở nên «mê ngủ», mất tỉnh thức khi ta bị thu hút bởi danh, lợi, quyền, thú vui trần tục. Nhiều người mê mải tìm kiếm tiền bạc, quyền lực… đến nỗi chẳng những quên đi bổn phận mình phải làm cho tha nhân (đói cho ăn, khát cho uống, lên tiếng trước bất công…), mà còn sẵn sàng làm những điều bất lợi cho tha nhân nữa (vu khống, gây bất công, thù oán, giết người…) 

Bất kỳ điều gì có thể làm chúng ta say mê trong cuộc đời, thậm chí là những điều tốt (công việc, chuyện làm ăn, sở thích…), cũng có thể làm ta mất tỉnh thức. Ngay cả việc thờ phượng Chúa (dâng lễ, đọc kinh, cầu nguyện…) cũng có thể ru ngủ ta, làm ta quên cả bổn phận mình phải làm cho tha nhân. Thờ phượng Chúa kiểu này chắc chắn không phải là kiểu đẹp lòng Thiên Chúa, Ngài rất nhờm tởm kiểu thờ phượng này (x. Is 1,11-19). Đáng lẽ việc thờ phượng Thiên Chúa đích thực phải giúp ta ý thức đến bổn phận của ta đối với tha nhân một cách hữu hiệu. Vậy, một cách cụ thể, tỉnh thức chính là luôn luôn ý thức, quan tâm làm những việc mình phải làm hoặc có thể làm cho tha nhân.




CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, thì ra có rất nhiều điều có thể làm con mê ngủ, không tỉnh thức. Điều làm con rất ngạc nhiên là ngay cả những đam mê tốt lành như đam mê đi lễ, đam mê cầu nguyện, đam mê làm tông đồ, đam mê làm ăn… có thể làm con quên đi bổn phận mà con phải làm đối với những người chung quanh con: cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè, hàng xóm… Con có bổn phận rất quan trọng là phải làm cho họ nên tốt lành và được hạnh phúc. Xin Cha đừng để những đam mê tốt lành ấy làm con mất tỉnh thức.


Share:

Vong1a - Cách chuẩn bị tuyệt vời nhất cho ngày Chúa đến




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 1 Mùa Vọng

(2-12-2018)


Cách chuẩn bị tuyệt vời nhất 
cho ngày Chúa đến



ĐỌC LỜI CHÚA

  Gr 33,14-16?: (16) Trong những ngày ấy, Giuđa sẽ được cứu thoát, Giêrusalem sẽ an cư lạc nghiệp. Đây là tên người ta sẽ đặt cho thành: «Đức Chúa là-sự-công-chính-của-chúng-ta!»

  1Tx 3,12-4,2: (12) Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, cũng như tình thương của chúng tôi đối với anh em vậy. 


  TIN MỪNG: Lc 21,25-28,34-36

Những điềm lạ. Con Người quang lâm

(Khi ấy Đức Giêsu nói:) (25) «Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. (26) Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. (27) Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. (28) Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc»

Phải tỉnh thức và cầu nguyện

(34) «Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, (35) vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. (36) Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người».





CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Mua bảo hiểm để đề phòng rủi ro bất ngờ có phải là khôn ngoan không? Ta có bảo hiểm cho sự sống vĩnh cửu đời sau không? Bảo hiểm tránh rủi ro đời này có quan trọng bằng bảo hiểm tránh rủi ro đời sau không? 
2.   Ngày Chúa đến cần được hiểu thế nào? Ngày ấy có bất ngờ không? Nếu biết ngày ấy sẽ đến bất ngờ thì ta phải chuẩn bị thế nào cho khôn ngoan? 
3.   Cách chuẩn bị ngày Chúa đến cách khôn ngoan nhất là gì? Có cách chuẩn bị nào vừa thường hằng suốt cuộc đời ta,vừa  lại không làm ta bị căng thẳng, hồi hộp, vì Chúa đến bất kỳ lúc nào và cách nào thì ta vẫn luôn sẵn sàng không?


Suy tư gợi ý:

1.   Sự khôn ngoan đòi hỏi phải đề phòng rủi ro đến bất ngờ

Hiện nay, các công ty bảo hiểm làm ăn rất phát đạt, vì càng ngày người ta càng cảm thấy cần thiết phải đề phòng những rủi ro bất ngờ xảy đến: bệnh tật, tai nạn, chết chóc… Có bảo hiểm, khi những rủi ro xảy đến, họ không đến nỗi bị thiệt hại vì được đền bù. Điều khiến người ta lưu tâm và phải quyết định bảo hiểm đó là tính bất ngờ của sự rủi ro. Vì nếu người ta biết trước hay dự đoán trước được chính xác ngày giờ xảy đến và xảy đến thế nào, thì gần đến ngày giờ ấy, người ta mới phải chuẩn bị đề phòng. Nhưng nếu nó xảy ra bất ngờ, và có thể xảy đến bất kỳ lúc nào, thì người ta phải luôn luôn đề phòng, và đề phòng không ngừng. Và lỡ có lúc nào không thể chuẩn bị hay đề phòng, thì lúc đó người ta không an tâm. Chính vì thế, người ý thức được tính bất ngờ của những rủi ro thì tìm cách mua bảo hiểm càng sớm càng tốt, để tâm hồn họ luôn luôn được bình an.

Những rủi ro, và thiệt hại từ rủi ro, có tính nhất thời và có ảnh hưởng nhất thời thì con người biết lo xa, đề phòng. Nhưng thật buồn cười và phi lý thay, những rủi ro và thiệt hại to lớn hơn vô cùng, có ảnh hưởng vĩnh viễn, đời đời, thì rất nhiều người lại chẳng thèm quan tâm, chẳng đề phòng hay chuẩn bị gì cả. Lý do rất đơn giản là vì họ không nghĩ đến, hay chưa đủ tin rằng có một cuộc sống vĩnh cửu sau cái chết, và cuộc sống đó hạnh phúc hay đau khổ tùy thuộc vào đời sống ngắn ngủi hiện tại. Họ có thể tin rằng nếu công cuộc làm ăn mà họ đang tiến hành bị thất bại, thì họ sẽ lâm vào thế kẹt khoảng 10 năm, vì thế họ phải cố gắng hết sức để thành công trong cuộc làm ăn này. Nhưng họ không quan tâm bao nhiêu đến sự thành bại của cả cuộc đời họ, đến cái hậu quả hết sức bi thảm và kéo dài vô tận nếu đời sống tâm linh của họ ở đời này bị thất bại.



2.   Tính bất ngờ của ngày Chúa đến

Điều quan trọng mà chúng ta cần phải lưu tâm đó là tính bất ngờ của ngày Chúa đến. «Ngày Chúa đến» ở đây có thể hiểu cách thực tế và cụ thể nhất là ngày Chúa gọi ta về với Ngài, tức ngày tận cùng của đời ta. Nếu ngày đó được ta chuẩn bị chu đáo, thì nó không có gì đáng sợ hay khủng khiếp đối với ta, vì đó là ngày mà ta bước vào một cuộc sống mới vĩnh cửu đầy hạnh phúc. Nhưng nếu ngày đó không được chuẩn bị tốt đẹp nên chúng ta phải ra trước tòa Chúa với một tình trạng tội lỗi, nghĩa là tâm hồn thiếu vắng tình yêu, đầy tính vị kỷ, thì ngày ấy đến với ta có thể sẽ rất khủng khiếp. Vì ta hoàn toàn chưa sẵn sàng để đối diện với sự phán xét công thẳng của Ngài. Ngày Chúa đến cũng có thể hiểu theo nghĩa lớn rộng hơn, là ngày tận cùng của toàn nhân loại, ngày Đức Giêsu trở lại để phán xét toàn nhân loại.

Dù hiểu theo nghĩa nào, ngày Chúa đến vẫn là ngày bất ngờ: bất ngờ chẳng những về thời gian mà còn về cách thức nữa. Người ta chẳng những không ai biết được mình sẽ chết ngày nào giờ nào, mà ngay cả chết cách nào cũng không ai chắc chắn được. Người chết trên giường bệnh, kẻ chết ngoài đường vì tai nạn xe cộ, người chết khi đang làm việc, kẻ chết khi đang nghỉ ngơi, người chết trong tình trạng sẵn sàng ra đi, kẻ chết không nhắm mắt vì còn tiếc nuối một điều gì, người chết trong hy vọng một số phận vĩnh cửu tốt đẹp, kẻ chết trong lo sợ vì không biết số phận đời sau mình ra sao… Và cũng chẳng ai biết được ngày Chúa đến phán xét toàn nhân loại sẽ xảy ra thế nào, rất có thể khác hẳn với những gì người ta dự kiến.

Kinh nghiệm khi Đức Giêsu đến lần thứ nhất cho thấy: mặc dù đã được các ngôn sứ tiên báo từ mấy trăm năm trước, nhưng khi Ngài đến thì chẳng mấy ai biết, vì họ không ngờ được Ngài lại đến theo cách ấy, hoàn toàn ngoài dự kiến của họ. Giới lãnh đạo tôn giáo thời ấy có ngờ trước được rằng chính họ lại là chủ mưu trong việc xúc phạm và giết chết Ngài bao giờ đâu? Họ luôn nghĩ rằng họ là người công chính nên ai phản đối họ, lên án họ thì đều là kẻ phá hoại tôn giáo và đáng giết chết! Thế mà Đức Giêsu lại là người phản đối và lên án họ nặng nề nhất! Vì cố chấp vào thành kiến của mình, nên con người thường không học được những bài học từ kinh nghiệm lịch sử!

Chính vì tính bất ngờ của cái chết mà người khôn ngoan luôn luôn phải chuẩn bị sẵn sàng để có thể ra trước tòa Chúa bất kỳ lúc nào, dẫu Ngài đến dưới bất kỳ hình thức nào thường là không ngờ trước được! Phải chuẩn bị cách nào để bất kỳ lúc nào Chúa gọi, ta cũng ở trong tình trạng đẹp lòng Thiên Chúa, nghĩa là tâm hồn ta luôn tràn ngập tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Chuẩn bị như thế chính là sống thái độ «tỉnh thức» mà Đức Giêsu đề nghị trong bài Tin Mừng này.



3. Tỉnh thức nhưng lại phải hoàn toàn an tâm

Nếu chúng ta sống trong tâm trạng hồi hộp, lo âu đón chờ Chúa đến, thì đó không phải là cách tỉnh thức mà Đức Giêsu muốn chúng ta có. Tâm trạng hồi hộp, âu lo, sợ sệt là điều bất lợi cho tâm lý và thần kinh của ta. Ngài muốn ta tỉnh thức nhưng đồng thời lại hoàn toàn an tâm, không phải lo âu hồi hộp chút nào. Ngài muốn ta chuẩn bị trong tâm trạng bình an, vui tươi, thoải mái và hạnh phúc. Muốn chuẩn bị thế, ta cần củng cố tình yêu trong lòng chúng ta.

Một người sống trong tâm trạng yêu thương –yêu Thiên Chúa và thương mọi người– chắc chắn là một người đẹp lòng Thiên Chúa. Nếu yêu thương đã trở thành bản tính của ta, thì ta không thể sống mà không yêu thương. Dù yêu thương là tình trạng tâm hồn hay được thể hiện thành hành động, nếu yêu thương đã trở thành bản tính của ta, thì ta không thể làm bất kỳ việc gì mà không phải do yêu thương. Biến yêu thương trở thành bản tính của ta, đó là chuẩn bị ngày Chúa đến cách tốt nhất, hoàn hảo nhất. Lúc ấy yêu thương không còn là một hành động nhất thời khi thì có lúc thì không, mà là bản tính hay tâm trạng thường hằng của ta. Tất cả mọi hơi thở, mọi cử động, mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta, dù là vô tình hay hữu ý, đều thấm nhuần tình thương. Tình thương phải là phản xạ tự nhiên trong tất cả mọi sinh hoạt của đời sống ta. Người có bản tính yêu thương thì nói lời yêu thương hay hành động yêu thương còn dễ dàng hơn là nói lời khó nghe hay hành động vị kỷ.

Muốn có được bản tính yêu thương như thế, trước tiên ta phải giác ngộ thâm sâu rằng tha nhân chính là bản thân nối dài của ta, hay nói cách khác, tha nhân chính là «cái tôi khác» của ta. Bất cứ điều gì ta làm cho tha nhân cũng là làm cho chính ta, và cũng là làm cho chính Thiên Chúa. Bất kỳ điều tốt đẹp nào ta làm cho tha nhân thì sự tốt đẹp ấy cũng trở về với chính ta. Và bất kỳ điều xấu ác nào ta làm cho tha nhân thì sự xấu ác ấy sớm muộn gì cũng trở về với chính ta. Vì toàn thể nhân loại chỉ là một «cái tôi» hay một thân thể duy nhất, trong đó Đức Giêsu là đầu, còn tất cả mọi người đều là chi thể (x. 1Cr 12,12-26). Cái tay mà làm cho con mắt bị mù, thì rồi cái tay sẽ bị mất hẳn năng lực của mình, chẳng còn làm được nhiều việc như xưa nữa.

Giác ngộ được như thế rồi, ta còn phải luyện tập để sống phù hợp với sự giác ngộ ấy. Lâu dần, sự luyện tập trở thành thói quen, và thói quen được duy trì sẽ trở thành bản tính. Bản tính sẽ chi phối toàn bộ con người ta, từ quan niệm, tư tưởng, đến lời nói và hành động. Một người có bản tính là yêu thương như thế thì trở nên giống Thiên Chúa. Đó chính là thánh thiện, là đạo đức đúng nghĩa nhất. Và một khi ta đã đạt được bản tính yêu thương đó, thì cả cuộc đời ta sẽ chẳng còn cần phải chuẩn bị chút nào cho ngày Chúa đến nữa, chính bản tính yêu thương của ta là sự chuẩn bị tốt đẹp nhất, chu đáo nhất cho cái ngày trọng đại ấy. Chuẩn bị như thế, chẳng bao giờ ta phải sống trong hồi hộp lo âu cả. Tâm hồn ta sẽ luôn luôn bình an và hạnh phúc.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu yêu cầu con phải tỉnh thức để khi Ngài đến thì con đã sẵn sàng trong tình trạng tốt đẹp. Nhưng lúc nào cũng tỉnh thức thì sẽ làm con dễ mệt mỏi và căng thẳng. Con nghĩ ra một cách tỉnh thức mà không bị mệt mỏi, đó là làm sao để bản tính của con giống như bản tính của Cha, đó là bản tính yêu thương. Nghĩa là yêu thương không chỉ còn là những hành động nhất thời lúc có lúc không, mà là một tâm trạng, một thái độ thường hằng in sâu trong bản chất của con. Chuẩn bị một lần thay cho tất cả, thì con sẽ chẳng phải sống trong tình trạng căng thẳng của sự tỉnh thức chuẩn bị. Và đó chính là cách tỉnh thức tốt nhất. Xin Cha giúp con chuẩn bị ngày Ngài đến theo cách ấy.


Share: