Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019

Hãy cải thiện Giáo Hội từ gốc chứ đừng từ ngọn



Hãy cải thiện Giáo Hội
từ gốc chứ đừng từ ngọn


    Lời Tòa soạn: (*0) Sau khi bài viết «Cải thiện Giáo Hội...» của Giáo sư Nguyễn Chính Kết được gửi cho mấy thân hữu, lập tức có một số người cảm thấy ái ngại và chưa muốn phổ biến bài viết này. Riêng chúng tôi, chúng tôi tự nghĩ một người từ trong hoàn cảnh quốc nội khó khăn lại dám thẳng thắn và gan liều đóng góp cho công cuộc cải thiện Giáo Hội, thế thì tại sao chúng ta, những người làm truyền thông Công Giáo tại Hải ngoại, có hoàn cảnh tự do thuận lợi, được Chúa và Giáo Hội trao cho trách vụ phải loan báo và làm chứng tá cho Tin Mừng, chúng ta lại e dè, lo ngại? Chính ý nghĩ vừa rồi đã khiến chúng tôi phải mạnh dạn phổ biến các bài viết này với đầy thiện chí và trách nhiệm trên Diễn đàn «Tiếng Nói Giáo Dân». Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp từ mọi phía và chúng tôi sẽ chuyển tới tác giả như một diễn đàn (forum): «Sự thật sẽ giải phóng chúng ta» khỏi mọi đình đốn và trì trệ!

(*0)  Tòa Soạn ở đây là của trang web Diễn đàn «Tiếng Nói Giáo Dân» tại Orange County, Nam California do ông Hoàng Quý, một giáo dân sáng lập. Trang web này không còn, và người sáng lập cũng đã khuất bóng. Bài viết này được tác giả viết khi tác giả còn ở trong nước.


o0o

Nỗ lực của các Giáo Hội địa phương

Các chủ chăn, các bề trên của các chủng viện và dòng tu, những người có trách nhiệm trong Giáo Hội từ trước đến nay thời nào, lúc nào cũng có những ưu tư, nỗ lực cải thiện Giáo Hội, để Giáo Hội trở nên tinh tuyền, thánh thiện hơn. Điều đó thật đáng quý, đáng khuyến khích. Nhưng dường như đa số những nỗ lực ấy chỉ nhằm sửa đổi Giáo Hội ở phía «ngọn» chứ không ở tại «gốc». Vì thế, nếu có thành công trong việc sửa đổi ấy, thì thành quả chỉ có thể tồn tại được một thời gian rất ngắn. Sau đó tình trạng lại trở về như cũ, và lúc nào cũng đòi hỏi phải có những nỗ lực mới tương tự. Hễ ngừng nỗ lực cải thiện là lập tức Giáo Hội trở nên «như cũ». Do đó, muốn thật sự cải thiện Giáo Hội, cần phải cải thiện từ trong cơ chế, từ trong những thói quen hay tập tục lâu đời của Giáo Hội. Chính những tập tục này liên tục phát sinh những tiêu cực trong Giáo Hội hết thế hệ này sang thế hệ khác.

Vì thế, nếu các chủ chăn và bề trên thật sự muốn cải thiện Giáo Hội, thì các ngài cần phải can đảm đặt lại vấn đề từ nền tảng và sửa đổi theo ánh sáng mà lý trí sáng suốt soi rọi khi xét những vấn đề nền tảng ấy.

Sau đây là ý kiến của một giáo dân thật sự thao thức với sự phát triển của Giáo Hội. Vì thế, những ý kiến này là những suy nghĩ rất thành thật, không muốn thêu dệt thêm chút nào, không muốn cường điệu hóa vấn đề lên dù chỉ một chút xíu, mà chỉ muốn nói lên một sự thật. Tuy nhiên, dù không muốn, chắc chắn người viết bài này vẫn không thể tránh được ít nhiều chủ quan. Và dẫu sao đó cũng chỉ là một cách nhìn một chiều vì là của một giáo dân nhìn từ dưới lên, cần được kết hợp với những cái nhìn khác của các vị chủ chăn nhìn từ trên xuống mới có thể toàn diện và khách quan. Dù chỉ là cái nhìn một chiều, tác giả cũng xin được trình bày cái nhìn của mình để góp phần làm nên một cái nhìn toàn diện của nhiều người từ nhiều khía cạnh khác nhau.

Nếu có ai đọc và cảm thấy bị xúc phạm, hoặc thấy người viết có phần nào quá đáng, thì cũng xin thông cảm và tha thứ. Chỉ mong người đọc bài này tin tưởng vào thiện chí xây dựng Giáo Hội của tác giả.


Cơ cấu xã hội độc tài, một «phản mẫu» (*1) cho Giáo Hội

(*1)  «Phản mẫu» (anti-exemplaire): là một mẫu gương mà Giáo Hội nên tránh.

Để rộng đường suy luận về những vấn đề trong Giáo Hội, thiết tưởng ta nên suy nghĩ về vấn đề cơ cấu của những xã hội độc tài, đảng trị, để từ đó rút ra những bài học cho Giáo Hội.

Hiện nay, trong những quốc gia độc tài, đảng trị, chuyên chế và độc đảng (như Trung Quốc, Đại Hàn, Cuba, Iraq, và một vài nước khác), một người dân nếu muốn đem tài năng ra để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu, hoặc muốn tiến thân trong xã hội, thì phải gia nhập đảng, phải trở thành đảng viên của cái đảng duy nhất ấy. Gia nhập đảng thì sẽ được nhà nước tạo mọi điều kiện để thăng tiến trong xã hội, chẳng hạn được học hành, tu nghiệp, học hành xong thì được giao quyền hành để điều khiển xã hội, v.v… Ngoài ra, còn biết bao những đặc quyền đặc lợi kèm theo cho những ai đã gia nhập đảng hoặc đã được đảng giao quyền hành, địa vị trong xã hội. Còn những ai không gia nhập đảng, thì dù có tài năng hay đức độ cách mấy cũng khó mà ngoi lên trong xã hội, khó mà được giao một trọng trách nào quan trọng phù hợp với khả năng và đức độ của mình để có thể phục vụ xã hội một cách tương xứng. Nhưng nếu chỉ như thế thì không đến nỗi nào. Tệ hơn nữa, một thể chế hay cơ cấu xã hội như thế còn sản sinh ra những người lãnh đạo xã hội bất tài thất đức, gây thiệt hại rất nhiều cho quê hương, làm đất nước chậm tiến bộ hẳn lại.

Thật vậy, là người ai mà chẳng muốn sướng thân, chẳng muốn thăng tiến trong xã hội. Nhưng những người tài đức nhiều khi lại không thấy lý tưởng của đảng thích hợp với mình, và họ không đủ tính «vô liêm sỉ» để vào đảng hầu được dễ tiến thân hơn những người bình thường khác. Thế là họ bị loại bỏ khỏi những điều kiện tốt để thăng tiến. Do đó, muốn thăng tiến trong xã hội, họ phải đem hết tài năng và đức độ của họ ra để phấn đấu và vượt thắng trong một môi trường hết sức khó khăn: một «miếng thịt» mà hàng trăm người nhìn thèm thuồng, một «cái ghế» mà hàng ngàn người muốn giành giật.

Nếu có giành được «miếng thịt» hay «cái ghế» ấy, thì họ lại còn phải đối phó với cái cảnh «trâu buộc ghét trâu ăn» nữa. Không vào đảng, dẫu có giành được «miếng thịt» hay «cái ghế» ấy thì cũng khó mà giữ được, cho dù chỉ là những «miếng thịt» hay «cái ghế» hạng thấp, vì những «miếng thịt» hay «cái ghế» hạng cao thì không bao giờ dành cho họ, những người ở ngoài đảng.

Vì thế, những người bất tài thất đức – vốn cũng rất muốn những «miếng thịt» hay «cái ghế» ấy, và nhiều khi còn muốn hơn ai hết – sẽ tìm con đường dễ nhất để đạt tới. Vì nếu đi theo con đường chung của mọi người, thì họ – vốn kém cỏi hơn mọi người – sẽ chẳng bao giờ ngoi lên được! (*2)

(*2)  Napoléon nói: «Có hai loại thú có thể lên tới đỉnh núi cao chót vót: loại đại bàng và loại bò sát. Đại bàng tượng trưng cho hạng chính nhân quân tử, tài cao đức trọng, họ tiến thân trong xã hội bằng chính tài đức của mình. Bò sát tượng trưng cho hạng tiểu nhân, họ tiến thân trong xã hội bằng nịnh nọt, luồn cúi, đội trên đạp dưới».

Do đó, họ sẽ phải nghĩ tới phương tiện dễ nhất, ít chông gai nhất, là gia nhập đảng. Chỉ cần được huấn luyện trong trường đảng một thời gian, sau một số thử thách chủ yếu về việc trung thành với đảng hơn là về tài năng và đạo đức, họ sẽ được giao cho một nhiệm vụ, với một chức vụ, và một số đặc quyền đặc lợi nào đó. Địa vị, tiền bạc, quyền lực, uy tín, sự kính trọng – mà nếu không vào đảng, họ khó hoặc không thể với tới được – mặc nhiên đi theo sự đề bạt ấy của đảng và nhà nước. Cuộc đời họ, nếu không phạm những lầm lỗi trầm trọng, sẽ ngày càng thăng tiến trên bậc thang danh vọng đã tiền định cho họ. Thật là một cơ hội dễ dàng để thăng tiến ngoài xã hội cho những ai chấp nhận vào đảng. Và con đường dễ dàng ấy quả thật hấp dẫn cho những kẻ bất tài muốn leo thang trong xã hội. Thế là biết bao kẻ bất tài thất đức sẽ lọt vào số những người nắm quyền lãnh đạo xã hội.

Động cơ để vào đảng nếu không phải là phục vụ nhân dân cho bằng để tiến thân ngoài xã hội, để làm giàu, để có quyền lực trong tay, thì khi đã đạt được những thứ ấy, làm sao họ có thể phục vụ dân chúng được. Họ không có tài đức, làm sao có thể làm cho dân giàu nước mạnh được? Đương nhiên, họ sẽ trở thành những tham quan, chuyên hối lộ, tham nhũng, đục khoét tài sản quốc gia. Đối với dân chúng, họ sẽ hống hách, cửa quyền, áp bức, bóc lột dân chúng. Tư cách thì đội trên đạp dưới. Khi đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng làm đủ mọi cách để được an toàn bản thân và gia đình. Nếu cần phản bội tổ quốc để được an toàn, họ cũng sẵn sàng. Quốc gia sẽ ngày càng tụt hậu, dân chúng lầm than, nghèo khổ. Thực tế cho thấy những quốc gia đi theo con đường độc tài, đảng trị và độc đảng đều gặp thảm trạng trên.

Giáo Hội không nên đi vào mô hình cơ cấu ấy

Một cơ cấu xã hội như thế đang bị các dân tộc trên thế giới đả phá, bài trừ, vì nó rất dở, rất phản khoa học và đạo đức, không đem lại tiến bộ cho đất nước và xã hội. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã bỏ, thậm chí bài bác tích cực những mô hình cơ cấu xã hội như thế. Chỉ còn một vài quốc gia – rất thiểu số – vẫn áp dụng mô hình cơ cấu xã hội ấy mà thôi. Họ duy trì mô hình cơ cấu này không phải vì họ không biết nó dở nó tệ, mà vì họ vẫn muốn tiếp tục nắm quyền để tiếp tục vơ vét cho bản thân, cho gia đình họ. Và những quốc gia này quả thực là những nước kém tiến bộ, và nhân dân thường là bị áp bức, nhiều bất công và lắm đau khổ.

Nhưng thử xét xem, Giáo Hội chúng ta có mô hình cơ cấu tương tự như thế không? Thành thực mà nói, nếu phải kể tất cả những tập thể mang tính xã hội đang áp dụng những mô hình cơ cấu như thế hoặc tương tự như thế, chúng ta phải kể trong đó có Giáo Hội Công giáo, ít là Giáo Hội Công giáo địa phương của chúng ta. Thật vậy, có một sự song đối (parallélisme) nào đấy rất rõ rệt giữa cơ cấu xã hội của những nước nói trên với cơ cấu Giáo Hội.

1) Trước hết, về tính độc tài, thiếu dân chủ:

Trong những xã hội độc tài, đảng trị, người dân không bao giờ được chọn người lãnh đạo mình, mà đảng chọn thay cho người dân. Nếu có bầu cử thì chỉ là một hình thức lừa mị dân, làm cho «có vẻ dân chủ» mà thôi. Giáo Hội Công giáo có phần nào như vậy, kể từ thế kỷ thứ 4 trở đi (*3), người dân chẳng bao giờ được bầu người lãnh đạo của mình. Chức năng «vương đế» của Đức Giêsu mà người giáo dân lãnh nhận khi chịu phép rửa tội được hiểu là tính phục vụ, là được làm người dân trong một vương quốc Giáo Hội, nghĩa là «được cai trị» (theo nghĩa thụ động). Chỉ có hàng giáo sĩ thì mới thật sự «cai trị» (theo nghĩa chủ động) (*4) mà thôi. Đáng lẽ khi chủ trương chức năng «vương đế» tức «làm chủ», Giáo Hội phải dân chủ hơn tất cả mọi quốc gia trên thế giới mới đúng!

(*3)  Từ thế kỷ thứ 4 trở về trước, có những trường hợp những người lãnh đạo Giáo Hội là do dân bầu lên, chẳng hạn trường hợp thánh Ambrôsiô (340-397), một giáo phụ của Giáo Hội, được bầu lên từ một giáo dân lên làm tổng giám mục thành Milan. Ngài là một vị giám mục tài ba, lỗi lạc. Nếu ở vào thời này, ngài chỉ có thể vĩnh viễn là một giáo dân!

(*4)  Hiểu như thế thì thật là nghịch lý. Đúng lý phải hiểu chức năng «vương đế» là chức năng «làm chủ». Người Kitô hữu nào cũng được mời gọi làm chủ: trước hết là làm chủ bản thân, rồi đến gia đình, xã hội, Giáo Hội, làm chủ ngoại cảnh. Có như thế thì mới phù hợp với phẩm chất là «hình ảnh của Thiên Chúa» chứ! «Bị trị» thì hoàn toàn nghịch nghĩa với «làm chủ»!

2) Về tính chuyên chính:

Giáo Hội cũng không khác gì những xã hội kia. Thật vậy, trong Giáo Hội, lập trường tư tưởng thần học nào khác với tư tưởng thần học truyền thống đều bị kết án! Nói chung, chỉ có một lập trường thần học chính thống duy nhất, không có «đối lập». Chính vì chủ trương thống nhất đức tin trong từng chi tiết mà biết bao giáo phái đã phải trở thành ly giáo! Cho đến ngày nay, Giáo Hội vẫn không thể chấp nhận tính đa dạng về mặt tư tưởng trong thần học. (*5)

(*5)  Thần học gia nào có tư tưởng khác lạ thì lập tức bị khuyến cáo, cấm viết sách. Nếu vẫn kiên quyết với lập trường của mình thì có thể bị vạ tuyệt thông. Nếu bị vạ tuyệt thông mà vẫn tiếp tục kiên quyết với lập trường của mình thì trở thành ly giáo. Trong lịch sử Giáo Hội, có biết bao giáo phái ly giáo! Ngay cả những vị cột trụ về thần học của Giáo Hội như Karl Rahner, Yves Congar… cũng đã từng bị cấm giảng dạy, xuất bản sách…

3) Về tính đảng trị:

Nếu những xã hội kia là đảng trị, thì Giáo Hội là giáo sĩ trị. Trong những xã hội kia, muốn phục vụ xã hội một cách hữu hiệu, hoặc muốn ngoi lên trong bậc thang xã hội thì phải vào đảng; còn trong Giáo Hội, nếu muốn phục vụ Giáo Hội cách hữu hiệu hoặc muốn tiến thân trên những bậc thang của Giáo Hội thì nhất thiết phải gia nhập hàng giáo sĩ. Không là giáo sĩ mà chỉ là giáo dân thì dù có tài đức đến đâu, cũng chỉ cao lắm là làm trưởng một hội đoàn công giáo tiến hành thôi! Có làm được tới đấy thì cũng vẫn luôn luôn phải dưới quyền một số giáo sĩ, dù tài đức hay tầm nhìn của những giáo sĩ này kém hơn mình! Khi Giáo Hội cần những người lãnh đạo, thì tuyệt đối chỉ chọn người đã gia nhập hàng giáo sĩ. Cho dù hàng giáo sĩ có thiếu người tài đức để chọn đến đâu thì Giáo Hội cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện tuyển chọn trong hàng ngũ giáo dân! (*6)

(*6)  Thật ra đây cũng chẳng phải là truyền thống nguyên thủy của Giáo Hội, vì cho tới thế kỷ thứ 4, những người như thánh Ambrôsiô, thánh Augustinô, v.v… đều là người giáo dân được giáo dân bầu chọn và đưa thẳng lên làm giám mục, chẳng cần phải là giáo sĩ rồi mới được chọn. Giáo Hội đã bắt đầu bỏ truyền thống tốt đẹp này từ thế kỷ thứ 4 trở đi.

4) Về những đặc quyền đặc lợi mặc nhiên cho những người vào đảng:

Đảng viên có những đặc quyền đặc lợi một cách mặc nhiên, không nhất thiết phải tương xứng với tài đức, thì các giáo sĩ cũng tương tự như thế. Chẳng hạn về mặt kinh tế, những linh mục bình thường có thể kiếm tiền một cách dễ dàng hơn rất nhiều so với những giáo dân bình thường. Thử so sánh hai người có khả năng và đạo đức ngang nhau, sống trong cùng một phường hay quận, nhưng một người là linh mục, một người chỉ là giáo dân.

● Xét về thù lao cho công việc của hai người, ta thấy có một sự chênh lệch hết sức rõ ràng: một người phải vất vả lắm, phải làm việc cả ngày và suốt tháng mới kiếm được 3 triệu một tháng để nuôi cả gia đình (*7), còn người kia có thể kiếm được gấp đôi hoặc cả 10 triệu một cách ngon lành mà công việc thì chẳng đến nỗi nặng nhọc, và cũng chẳng phải nuôi nhiều người bằng một giáo dân.

(*7)  Bài này viết vào thời điểm trước năm 2000, lương tháng thời ấy là như vậy.

● Xét về trách nhiệm thì trách nhiệm của một linh mục được trải rộng trên nhiều người, nhưng trách nhiệm ấy chẳng đến nỗi cấp bách và nặng nề. Vả lại nặng nề hay không còn tùy thuộc vào lương tâm của mỗi người, và nói chung giáo sĩ được tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn để chu toàn trách nhiệm của mình. Còn trách nhiệm của một giáo dân thường chỉ trải trên một số nhỏ người thôi, nhưng lại rất cấp bách và nặng nhọc, ít được tạo điều kiện thuận lợi để chu toàn.

Khi làm việc ngoài xã hội, thì người giáo dân dường như luôn luôn được trả công. Còn khi làm việc cho Giáo Hội thì sao? Người giáo dân nào muốn góp phần xây dựng Giáo Hội thì phải tự nguyện làm theo kiểu «công quả», ít khi được xét đến để trả công tương xứng, cho dù được nhờ làm. Phải chăng chỉ có Chúa là người duy nhất trả công bội hậu cho họ ở đời sau? Còn linh mục thì hầu như luôn luôn được Giáo Hội hoặc giáo dân «thù lao» (*8) một cách cụ thể và khá bội hậu. Không biết Chúa có còn phải «thù lao» thêm nữa không, vì các vị đã nhận «thù lao» rồi? Có thể nói giáo dân không được tạo điều kiện để có thể tích cực góp phần vào việc xây dựng Giáo Hội. Họ ít được Giáo Hội quan tâm đào tạo, và có được đào tạo thì họ cũng không được tạo điều kiện để có thể dành nhiều thì giờ làm việc cho Giáo Hội như hàng giáo sĩ.

(*8)  Nói «trả công» thì có vẻ xúc phạm!

5) Về chỗ đứng ngoài xã hội hay trong Giáo Hội:

Vừa được thụ phong linh mục là linh mục được mọi giáo dân – dù là già cả, là đáng tuổi cha mình – gọi bằng «cha», được mọi người xưng là «con» với mình một cách thật ngọt ngào, và mặc nhiên được đối xử và kính trọng không khác gì cha thật của họ. Một giáo dân có tài đức cách mấy, có được tôn trọng cách mấy thì cũng chẳng bao giờ có được một hân hạnh như vậy! Vì thế, nhiều người trong các ngài nghĩ rằng mình xứng đáng được như vậy, hay ít ra cách đối xử với người khác của các ngài chứng tỏ các ngài đang nghĩ như vậy. (*9) 

(*9) Một số linh mục tự xưng mình là «cha» một cách rất tự nhiên, không phải chỉ với những kẻ nhỏ tuổi hơn mình, mà với cả những người lớn tuổi hơn mình, trí thức hơn mình! Cũng có những linh mục xưng hô «mày, tao» một cách cũng rất tự nhiên với cả những giáo dân lớn tuổi hơn mình, thậm chí bằng tuổi cha mình! (Tôi bảo đảm những điều này là rất thật!)

Vấn đề quan trọng không nằm ở chỗ các ngài được gọi bằng «cha», mà ở chỗ các ngài có đối xử với giáo dân đúng với tư cách «cha» của mình hay không?(*10)

(*10)  Một người cha dạy học cho con, dù là con đẻ hay con nuôi, không bao giờ lại đòi hỏi con mình phải trả thù lao cho mình thì mình mới dạy. Nếu đòi hỏi nó phải trả thù lao, ắt ông ta đã đối xử với con như một thầy giáo chứ không phải là cha! Thầy giáo mà lấy tiền học của học trò thì rất là chính danh, nhưng cha mà lấy tiền học của con thì chẳng chính danh chút nào! Thử hỏi một người cha đích thực khi lấy vợ lấy chồng cho con mình thì người cha ấy phải hy sinh thế nào, còn người «cha» làm linh mục khi người «con» là giáo dân lấy vợ lấy chồng thì ngài hy sinh cho người «con» ấy thế nào? Cách biểu lộ tình cảm thông thường của các linh mục trong những trường hợp giáo dân lập gia đình, hay chết có thật chính danh là «cha» của họ không? – Tôi nhận thấy thông thường, giáo dân xử sự với linh mục khá chính danh là người «con» của linh mục, nhưng cách xử sự của linh mục đối với giáo dân thì lại thường không chính danh là «cha» của họ chút nào.

Sau đây là một sự kiện không phải là hiếm xảy ra mà biết bao giáo dân phải đau lòng nhận thấy. Có những người khi còn là «thầy» – tức thầy đại chủng viện – thì cử chỉ rất khiêm nhu, tinh thần đầy tính phục vụ, cách xử sự rất dễ thương. Nhưng chỉ một vài tháng hay một vài năm sau, khi người ấy đã biến thành «cha» – nghĩa là đã được thụ phong linh mục – thì cũng vẫn con người ấy nhưng đã có sự thay đổi: cử chỉ thì kênh kiệu hơn, tinh thần thì đổi thành «thích được phục vụ» hơn, thậm chí đòi hỏi phải được phục vụ, cách xử sự thì không còn dễ thương như trước. Nhiều giáo dân rất thắc mắc về sự kiện này, vì họ thấy chức thánh mà vị giám mục truyền cho một số linh mục quả thật có khả năng biến đổi linh mục ấy, nhưng lại một theo chiều hướng khá… ngộ nghĩnh!

Sự biến đổi trong nội tâm ra sao khó mà thấy được, nhưng sự biến đổi bề ngoài thì rất rõ rệt: bớt thánh thiện đi, lãnh đạm với mọi người hơn, thích làm cao hơn, «cái tôi» lớn hơn, phân biệt đối xử hơn, v.v… Tất cả những hiện tượng ấy xảy ra phải chăng vì khi làm linh mục, thì mặc nhiên người ấy có một số đặc quyền đặc lợi nào đó, mặc nhiên được tôn trọng, mặc nhiên lời nói trở nên «nặng ký» hơn, v.v… Sự biến đổi nhanh chóng và dễ dàng ấy chứng tỏ rằng bản lãnh của những linh mục được đào tạo còn rất yếu, mới sử dụng quyền bính và được hưởng một số đặc quyền đặc lợi một chút mà đã bị tha hóa rồi!

6) Xét về cách tạo uy thế và sự kính trọng:

Các chế độ độc tài thường thần thánh hóa các lãnh tụ, tìm đủ cách đề cao những người lãnh đạo cao cấp trong xã hội. Trong những đất nước dân chủ, không có sự thần thánh hóa này: sự kính trọng của người dân đối với những người lãnh đạo ở mức vừa phải, hợp lý, tùy theo đức độ và tài năng của người lãnh đạo. Còn trong Giáo Hội, phải nói rằng trong Giáo Hội, việc thần thánh hóa hàng giáo sĩ là có thật và vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Chức linh mục được mặc nhiên coi là chức thánh, con người linh mục được mặc nhiên coi là con người thánh, cho dù có nhiều linh mục chẳng thánh một chút nào. Xúc phạm tới linh mục – nói xấu, đánh đập, v.v… – được mặc nhiên coi là một tội «phạm sự thánh». Còn cách nào đề cao các linh mục hơn như thế? (*11) Về phương diện này, các chế độ độc tài hẳn phải thua xa!

(*11)   Trong cuốn «Tôi làm linh mục» và «Con tôi làm linh mục» xuất bản trước 1975, có những đoạn đề cao linh mục: linh mục cao trọng hơn các thiên thần, thậm chí ở một khía cạnh nào đó hơn cả Đức Maria! Vì linh mục đọc lời truyền phép trong thánh lễ, thì Chúa cũng phải biến bánh và rượu thành chính Ngài, đó là điều mà Đức Maria và các thiên thần không làm được!

7) Xét về quyền:

Linh mục được ban cho rất nhiều quyền hơn người giáo dân. Và quyền này – trên bình diện xã hội hoặc Giáo Hội – một cách nào đó, được xây dựng trên «cơ chế xin-cho». Một đặc trưng trong cơ cấu của những xã hội độc tài kia là «cơ chế xin-cho», thì trong Giáo Hội cũng có một đặc trưng y như thế suốt bao thế kỷ nay. Người giáo dân cứ việc tự do chọn lựa giữa xin và không xin, còn giáo sĩ thì cũng tự do chọn lựa giữa cho phép và không cho phép, giữa đồng ý và không đồng ý.

Dường như không có những luật lệ nhất định, khách quan, rõ ràng và mang tính tất yếu buộc người giáo sĩ phải cho phép hoặc phải đồng ý khi người giáo dân có đủ những điều kiện nào đó, mà nếu không cho phép hay đồng ý, thì giáo sĩ ấy phải bị chế tài một cách nào đó cụ thể. Tôi vừa mới chứng kiến một trường hợp hôn nhân có hoàn cảnh hơi đặc biệt mà cha sở của họ thì từ chối, điều đó buộc đôi nam nữ phải xin làm đám cưới ở một xứ khác. Cha ở xứ khác ấy thì chấp nhận, còn chính cha sở thì không. Đương nhiên người giáo dân ấy cũng phải biết điều với cha sở đã cho phép. «Cơ chế xin-cho» mà! Xin rồi được cho thì phải biết ơn chứ! «Cơ chế xin-cho» này mặc nhiên biến giáo sĩ thành những kẻ ban ơn, và biến giáo dân thành những kẻ thụ ơn!

Giáo dân nào có tính bất khuất không chịu thụ ơn, không chấp nhận «cơ chế xin-cho» thì sẽ bị kẹt ngay về phần linh hồn, rất có thể bị nguy hiểm cho phần rỗi, vì sẽ chẳng được «ăn mày các phép»! Thanh niên Công giáo làm đám cưới mà không vào nhà thờ chịu phép hôn phối thì bị mọi người coi là phường vô đạo! Chết mà không được cha làm phép xức dầu hay làm lễ an táng trong nhà thờ thì thật là vô phúc! Muốn được mấy thứ ấy thì phải xin cha, và sau khi xin được thì phải biết ơn cha, phải tạ cha! (*12) Đó chính là «cơ chế xin-cho»!

(*12)ee Điều này đã trở thành một tập tục rất thông thường trong các xứ đạo, nhất là những xứ đạo người Bắc! Khiến cho ai không làm như thế thì cảm thấy hết sức ái ngại! Họ thắc mắc không biết khi họ không làm như thế thì vị linh mục có cảm thấy khó chịu, và coi đó là một sự bất thường không?

Nhiều cha sở cứ y như là một ông vua phong kiến ở trong xứ đạo của mình. Có rất nhiều trường hợp cha sở rất dễ dãi đối với loại người này, nhưng lại rất khó khăn đối với loại người kia. «Cơ chế xin-cho» đã biến cha sở thành một ông vua hay ông quan có nhiều quyền lực đối với giáo dân của mình. Có quyền lực là có thể có rất nhiều thứ khác. Một xã hội mà tạo nên hai hạng người – hạng người phải xin mới hy vọng được điều mình cần, và hạng người có quyền cho hay không cho – thì trong xã hội ấy lập tức phát sinh thái độ cầu cạnh, khúm núm, luồn cúi, nô lệ, nịnh nọt, hối lộ, tham nhũng, v.v… Thật là buồn cười khi nghĩ đến chuyện đã tới thiên niên kỷ thứ ba rồi mà điều đó vẫn còn tồn tại trong Giáo Hội Việt Nam hiện nay như một việc hết sức bình thường và tự nhiên. Có lẽ lương tâm của nhiều người không còn khả năng ngạc nhiên trước tình trạng này! Đó cũng lại là điều đáng ngạc nhiên nữa!

Ảnh hưởng của mô hình ấy
trên tâm thức những người
đang tiến tới chức linh mục hay giáo sĩ

Điều quan trọng và cần phải nghiêm túc xét tới là động cơ của những người đang muốn tiến tới chức linh mục hay tu sĩ. Khi linh mục hay tu sĩ được quá nhiều ưu đãi, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi trong xã hội và Giáo Hội so với người giáo dân, thì lập tức chức vụ đó sẽ hấp dẫn rất nhiều người đạt tới. Hiện nay, ở nước ta, ơn kêu gọi làm linh mục và tu sĩ phải nói là hết sức phong phú. Đó cũng là điều đáng mừng, nhưng cũng là điều đáng lo.

Nếu các thiếu niên hay thanh niên đi tu nhiều như thế chỉ với mục đích phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân, thì quả là «phúc bảy mươi đời» cho Giáo Hội và xã hội. Nhưng nếu đa số đi tu chủ yếu để có được một cơ hội tiến thân dễ dàng trong Giáo Hội hay xã hội, hơn là để phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân, thì điều ấy sớm muộn gì cũng sẽ trở thành một tai họa cho Giáo Hội. Hiện nay, tôi đã đích thân nghe một số bề trên hoặc giáo sư trong các chủng viện và dòng tu than phiền về chất lượng của các chủng sinh hay đệ tử của mình. Tai tôi cũng được nghe rất nhiều giáo dân than phiền về các linh mục của họ. Tôi không ngạc nhiên, vì cho đó là hậu quả tất yếu của một mô hình cơ cấu Giáo Hội đã lỗi thời, lỗi thời không khác gì những cơ cấu xã hội có những đặc tính tương tự.

Trong guồng máy giáo dục, «đầu vào» (input) không chất lượng thì «đầu ra» (output) làm sao có chất lượng được? Nhất là khả năng giáo dục trong các chủng viện và dòng tu hiện nay ở nước ta rất giới hạn, vì thiếu tự do trong việc tuyển chọn những người giáo dục. Người thích hợp nhất, có khả năng và đạo đức nhất, luôn thao thức và sẵn sàng dấn thân cống hiến đời mình cho việc giáo dục thì trong chế độ độc tài cộng sản hiện nay, các giám mục thường không bổ nhiệm họ được vào tu viện làm người giáo dục hay đào tạo chủng sinh, mà đành phải chấp nhận chọn những người kém hơn, ít thích hợp hơn (nhà cầm quyền thường dùng quyền veto để từ chối, «cơ chế xin-cho» của xã hội mà!)

Một trong những điều cụ thể đang bị các bề trên chủng viện hay dòng tu than phiền là các chủng sinh hay đệ tử không thành thật trong các kỳ thi mãn khóa hay mãn kỳ. Ngày xưa, trước 1975, bất kỳ một chủng sinh hay đệ tử nào gian lận trong các kỳ thi đều bị phạt ở mức độ nặng nhất (thường là buộc phải từ bỏ ơn gọi tu trì). Ngày nay, việc thi cử gian lận trong các trường đào tạo chủng sinh hay tu sĩ cũng khá phổ biến… Điều này cũng thật dễ hiểu nếu nghĩ đến động lực đã thúc đẩy các chủng sinh hay tu sĩ ấy đi tu. Đi tu để làm «quan đạo» thì cần gì phải thành thật như thế, nhỡ không đạt được mục đích thì sao?! Thật là một điều đáng lo ngại cho chất lượng của các linh mục và tu sĩ tương lai.

Một số đề nghị sửa đổi

Muốn những tình trạng trên không còn xảy ra, muốn cải tạo chất lượng của các chủng sinh, đệ tử, hay các linh mục được đào tạo, mà chỉ dùng những biện pháp này biện pháp kia thì chỉ là cải tạo cái ngọn. Cái gốc của sự băng hoại này nằm ở trong mô hình cơ chế của Giáo Hội. Muốn cải thiện thì phải cải thiện từ gốc, chứ cải thiện ở trên ngọn thì chỉ tốn công, vì sau cùng thì đâu lại vào đấy!

Sự cải thiện từ gốc thì chỉ có những bậc có trách nhiệm lớn nhất trong Giáo Hội toàn cầu hay Giáo Hội địa phương mới có khả năng làm nổi. Và có bắt đầu làm thì ít nhất cũng phải mấy thập niên mới có kết quả. Nhưng nếu không bắt đầu thì chỉ có nước chờ Giáo Hội trở thành một thứ «muối đã lạt, chỉ còn nước quăng ra ngoài cho người ta chà đạp» thôi (Mt 5,13). Các bề trên của các chủng viện hay dòng tu chỉ có thể góp ý lên các vị chủ chăn trong Giáo Hội để chính các vị cải thiện tận gốc mà thôi. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi một đáp ứng từ phía trên, các chủng viện và các dòng tu cần phải quan tâm tới việc «thanh lọc» và «thanh luyện» động cơ thúc đẩy các tu sinh tiến tới chức linh mục hay tiếp tục đời sống tu trì.

Phải «thanh lọc» đầu vào (input): chỉ nhận vào chủng viện và dòng tu những người có động lực phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân, đồng thời thật sự muốn dấn thân làm chứng nhân Tin Mừng cho mọi người. Phải tìm đủ mọi cách có thể để xác định được động lực của từng ứng viên. Hãy dứt khoát loại bỏ những người không có động lực ấy dù đạo đức hay khả năng cá nhân của họ có tốt hay giỏi đến đâu đi nữa. Trong tiêu chuẩn để nhận vào chủng viện hay dòng tu, phải coi động lực là yếu tố tối quan trọng chứ không phải là đạo đức hay khả năng cá nhân.

Phải «thanh luyện» động lực của những người đã được nhận vào: Luôn luôn phải củng cố tình yêu đối với Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân, tinh thần nhiệt thành với công việc tông đồ. Phải có một chuyên viên thật sự có khả năng về huấn luyện tâm linh để giúp các chủng sinh hay đệ tử loại bỏ những động lực trần tục trong việc tu trì. Phải coi yếu tố này là yếu tố chủ yếu trong việc đào tạo đạo đức và tâm linh. Cần nhấn mạnh nhiều hơn đến chức năng «làm chủ» (=vương đế), «làm chứng» (=ngôn sứ). Trước đây, Giáo Hội chủ huấn (Église enseignante) đã quá chú trọng tới chức năng «làm lễ» (=tư tế) mà coi nhẹ hai chức năng kia. Điều này củng cố «cơ chế xin-cho» trong Giáo Hội, tăng uy thế và tạo thêm đặc quyền đặc lợi cho hàng giáo sĩ. Điều ấy còn có phần nào làm tăng thêm độ giống nhau giữa các linh mục và những «thầy cúng» ở trong mấy tôn giáo khác, đồng thời cũng biến việc thờ phượng mang nhiều tính hình thức. Hãy xét lại xem Đức Giêsu thường chú trọng tới chức năng nào.

Chỉ nên chấp nhận cho làm linh mục những người chứng tỏ được lòng nhiệt thành với Giáo Hội và các linh hồn, hơn là dựa vào tiêu chuẩn đạo đức cá nhân. Linh mục là người của Giáo Hội và xã hội, chứ không phải là của bản thân mình, nên tính giáo hội (ecclesialité) và xã hội (sociabilité) phải rất cao.

Khá nhiều linh mục không có ý thức về xã hội, về trách nhiệm đối với xã hội, làm như làm linh mục thì chỉ có trách nhiệm đối với Giáo Hội chứ không còn trách nhiệm đối với xã hội nữa! Nhiều linh mục không có ý thức về công bằng xã hội: có những cha có thể để người khác nấu ăn cho mình suốt đời mà không hề nghĩ tới chuyện trả lương xứng đáng cho họ! Có những cha nhờ các soeurs làm đủ mọi việc: giúp dạy giáo lý, dọn đồ lễ, coi ca đoàn, thậm chí giặt quần áo cho mình, mà chẳng hề nghĩ đến công lao của họ một cách xứng đáng! Có những cha còn coi các soeurs như người ở của mình! Nhiều cha không trân trọng và đối xử công bằng cho đủ đối với những người cộng tác với mình, giúp mình thi hành tốt chức vụ linh mục! Cách đây mấy năm, tại Hố Nai, thuộc giáo phận Xuân Lộc, có một cha xứ bạt tai một nữ tu ngay trong nhà thờ, trước mặt giáo dân tới dự lễ hôm đó, chỉ vì một chuyện không đáng! Phải nói đó là một scandale trong Giáo Hội!

Thiết tưởng đã là Kitô hữu thì phải có một mức độ lịch sự tối thiểu buộc phải có đối với tha nhân, bất kỳ là ai, chưa nói tới tình thương hay bác ái. Thiết tưởng các linh mục cũng cần được nhắc nhở về những lịch sự tối thiểu này. Đây là một thực tế do chính tôi cảm nghiệm: tới nhà các giáo dân, tôi thường được mời ít nhất một ly nước trà hay nước lạnh, có người mời một điếu thuốc, họ coi đó như một cái gì tối thiểu phải làm để tỏ lòng tôn trọng hay quí mến khách. Nhưng tới nhà các linh mục, tôi thấy họa hiếm lắm mới có linh mục cho uống nước! Các giáo dân khác cho tôi biết họ cũng thấy như thế. Điều đó nói lên cái gì?

Một trong những điều dễ thấy nơi nhiều linh mục là không thích nghe ai góp ý, không thích nghe ai nói ngược với mình! Cái gì cha nói, cha nghĩ cũng đều đúng, không cần phải bàn lại! Khi xây nhà thờ, cha tỏ ra giỏi hơn cả kiến trúc sư! Trong nhiều lãnh vực, cha tỏ ra thông thạo hơn cả các nhà chuyên môn về những lãnh vực ấy! Đã giỏi hơn, thông thạo hơn, thì ắt chẳng cần phải nghe góp ý làm gì!

Mong chờ và hy vọng

Ý thức về dân chủ, tự do, bình đẳng trong xã hội đã bắt đầu từ thế kỷ 18 với Montesquieu (1689-1755), và càng ngày càng được thế giới nhìn nhận là những yếu tố nền tảng và căn bản để người dân sống hạnh phúc, để xã hội được thăng tiến. Các quốc gia trên thế giới ngày càng nỗ lực để thực hiện ý thức đó trong đất nước của mình. Những quốc gia không tôn trọng những yếu tố nền tảng ấy đều bị thế giới lên án.

Còn Giáo Hội thì sao? Ý thức về dân chủ, tự do, bình đẳng đã được nhấn mạnh và tôn trọng trong Giáo Hội chưa? Theo tinh thần Hiến chế Gaudium et Spes của Công Đồng Vatican II, Giáo Hội phải đồng hành với con người, phải hòa nhập và thích ứng với thế giới. Nhưng dường như Giáo Hội vẫn có phần nào là một ốc đảo. Những ý niệm về dân chủ, tự do, bình đẳng dường như vẫn là những ý niệm xa lạ với nhiều vị lãnh đạo trong Giáo Hội! Một cách nào đấy, Giáo Hội vẫn giống với một xã hội độc tài, đảng trị, và độc đảng, như đã nói trên. Điều ấy chắc chắn có hại cho sự phát triển của Giáo Hội, khiến Giáo Hội bị coi là tụt hậu, bảo thủ…

Rất mong Giáo Hội có một tinh thần khoáng đạt hơn, mạnh mẽ hơn, dấn thân hơn, chú trọng tới nội dung và tinh thần hơn hình thức và vật chất.

Trong ý thức về dân chủ, tự do, bình đẳng, rất mong Giáo Hội tạo điều kiện đồng đều cho mọi thành phần trong Giáo Hội có khả năng góp phần xây Giáo Hội, thay vì chỉ quan tâm tới một thành phần vốn được ưu đãi xưa nay…

Riêng về các linh mục và tu sĩ, rất mong những thế hệ linh mục và tu sĩ tương lai của Giáo Hội ngày càng có chất lượng hơn, về mọi mặt, tài năng, kiến thức, nhất là về mặt đạo đức và đời sống tâm linh. Chỉ như thế Giáo Hội mới hoàn thành được sứ mạng mà Đức Giêsu giao phó cho Giáo Hội.
Nguyễn Chính Kết
(Gò Vấp, 1998)
Share:

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019

Y-kien-ve-vu-cha-Tran-Dinh-Long



Kính gửi Đức Cha Giám Quản Giuse Đỗ Mạnh Hùng


Kính thưa Đức Cha Giám quản Giuse Đỗ Mạnh Hùng, Tổng giáo phận Sãi Gòn. Đức Cha đã cấm cha Giuse Trần Đình Long không được đặt tay trong thánh lễ, không được cho người lên làm chứng, không được đọc thư, không được phát đài, không được rảy nước thánh.
Thưa Đức Cha, hầu hết tất cả các cha đều đặt tay, nhiều Đức Cha cũng đặt tay. Nhưng tại sao Đức Cha lại cấm cha Long đặt tay? Nếu Đức Cha không tìm ra được điểm sai của cha Long trong việc đặt tay, và Đức Cha cấm như vậy, thì thưa thật với Đức Cha, Đức Cha cấm như vậy không đúng với ý Chúa. Linh mục là Chúa Ki tô thứ hai, Chúa Giê-su đặt tay, thì các linh mục cũng noi gương Chúa đặt tay.(Mc 16-17) Đức Cha cấm cha Long đặt tay, thì như là Đức Cha coi trọng các cha khác, và dùng quyền riêng của mình để ngăn cấm cha Long không được đặt tay. Đức Cha cấm cha Long đặt tay thì cùng đồng nghĩa là không cho cha Long thực thi lời Chúa dạy.
Tin Mừng thuật lại: “Khi ấy, Chúa Giê-su đang nói, thì có một kỳ mục đến lạy Người mà thưa: “Lạy Ngài, con gái tôi vừa mới chết, nhưng xin Ngài đến đặt tay, thì nó sẽ sống lại….” (Mt 9.18-26) Có những cha đặt tay mà giáo dân được chữa lành, nói ra thì Đức Cha không tin. Cha Px Nguyễn Đức Quang, giáo phận Phan Thiết, có một em bé đã chết, chuẩn bị để mai táng. Nhưng cha Quang đặt tay, và em đó đã được sống lại. Nhớ là chỉ có một em bé đó thôi. Linh mục đặt tay trên bất cứ người nào, bất cứ người đó là ai, nếu họ có niềm tin, thì không những được cả ơn phần hồn và cả ơn phần xác nữa. Đây là Chúa ban quyền cho các linh mục. Vì linh mục là Chúa Ki tô thứ hai. Một nguồn ân sủng lớn cả hồn cả xác nằm ở trong tay cha Long, nhưng tại sao Đức Cha lại cấm, không cho cha đặt tay? Có nhiều người cha Long đặt tay mà người ta khỏi ngay tại đó, Đức Cha không xem nên không biết.
Khi xưa ông Gia Cóp vật lộn với một người lạ mặt suốt đêm, nhưng không ai thắng. Đến khi người lạ đó nói với ông Gia Cóp rằng: “Hãy buông tôi ra, vì trời đã hừng đông rồi”. Ông Gia Cóp trả lời: “Tôi chỉ buông ông ra, khi nào ông chúc lành cho tôi”. (St 32.22-23) Gia Cóp không biết người lạ mặt đó là ai cả, cũng không biết đó là kẻ trộm cướp hay gian dâm hủ hóa, nhưng ông ta yêu cầu người lạ mặt đó phải chúc lành cho ông ta, khi đó ông Gia Cóp mới buông tay ra cho người lạ đó đi. Lời chúc lành đối với Gia Cóp thật quan trọng biết bao, mặc dầu Gia Cop không biết đó là người tốt hay người xấu. Nhưng cũng may cho Gia Cóp, người vật lộn với ông ta, đó chính là Thiên Chúa. Để nói lên rằng, lời chúc lành, dầu đó là lời của ai cũng nên tốt cho người được chúc phúc. Việc đặt tay, đó chính là chúc lành, là chúc bình an. Một linh mục là Chúa Ki tô thứ hai đặt tay trên mọi người mà chẳng sinh ích gì cho họ sao, lại còn cho đó là mê tín dị đoan nữa. Bởi vậy hầu hết các nhà thờ ngày nay, các cha đều đặt tay chúc chúc cho các em. Như thế Đức Cha Đỗ Mạnh Hùng cấm cha Long đặt tay là hoàn toàn không đúng với ý Chúa.
Rảy nước thánh, có thể rảy nhiều nơi và nhiều lúc. Nhưng rảy trong thánh lễ vẫn là ý nghĩa và quan trọng nhất. Khi rảy nước thánh có bài hát “Lạy Chúa xin dùng cành hương thảo mà rảy nước trên con thì con được sạch…..”. Khi rảy nước thánh chúng ta dục lòng ăn năn các tội nhẹ, thì đều được rửa sạch. Rảy nước thánh trong thánh lễ còn để xua đuổi ma quỷ, vì khi chúng ta làm việc lành, là khi ma quỷ đến cám giỗ chúng ta, và nếu rảy nước thánh thì ma quỷ sẻ chạy. Rảy nước thánh là nghi thức của Giáo Hội dạy, nhưng tại sao Đức Cha lại cấm cha Long không được rảy? Có những cha còn cho rảy nước thánh như là một phù phép. Nói mà không sợ tội chút nào cả, như vậy hoàn toàn phụ nhận việc Giáo Hội đã lập nên. Một là có ý xúc phạm cha Long nên mới nói như thế, hai là những cha đó chưa hiểu. Nước thánh đã được Thiên Chúa thánh hóa rồi, thì còn hơn cả phù phép nữa chớ, nếu ai có niềm tin. Có những người cả đời hầu như họ chỉ có uống chắc nước thánh, không uống thuốc gì, nhưng họ vẫn khỏe. Có người chuột cắn lúa, lấy nước thánh rảy lên, chuột không cắn lúa nữa. Có người lấy nước thánh rảy trên rầy, rảy cho kiến, cho dán. Như vậy những người đó là phù phép cả sao? Thưa Đức Cha, nếu không có niềm tin, thì cho dù có đổ hàng ngàn lít nước thánh vào ruộng lúa đi chăng nữa, thì chuột cắn lúa là vẫn cắn lúa. Nước thánh có nhiều công dụng lắm, nói ra thì dài quá.
Các thánh lễ An tôn ở giáo phận Vinh, thứ ba hàng tuần, các nhà thờ các cha đều rảy nước thánh trên lá cây, trên thuốc, trên nước, rảy trên các bà bầu. Vậy các cha rảy nước thánh như thế là phù phép cả sao? Cho nên Đức Cha cấm cha Long không được rảy nước thánh là không đúng với đường lối của Chúa, không đúng với đường lối của Giáo Hội.
Đức Cha cấm cha Long không được đưa người lên nói những việc Chúa đã làm nơi họ cho mọi người biết, và cấm đọc những lá thư kể về những gì Chúa đã làm cho họ. Nếu nói như thánh Gioan nói, thì tất cả mọi ơn chúng ta được đều là bởi ơn Chúa “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3.27). Thánh Gioan nói như vậy là nói với người có đức tin thôi, còn người không có hay yếu đức tin thì ngài nói như vậy ai tin cho. Có những người đi hết viện này đến viện kia, cũng không khỏi, nhưng đến khi được khỏi thì lên làm chứng, người kém đức tin người ta không tin đó là việc Chúa làm. Người ta nói bệnh đó không phải bởi ơn Chúa. Có những người khoan nhiều giếng mà không được, đến khi đi khấn xin về, khoan là có nước, người ta cho đó là ơn của Chúa. Và còn muôn vàn trường hợp khác nhờ khấn xin mà được như ý, những trường hợp đó lên làm chứng, thì Đức Cha lại cấm. Và còn rất nhiều sự việc khác người ta cho đó là ơn Chúa chứ không phải là bởi may rủi. 
Khi xưa Chúa Giê-su lấy bùn bôi vào mắt người mù từ mới bẩm sinh, và bảo anh ta đến hồ Si-lô-ác mà rửa thì được khỏi. Anh ta đến hồ Si-lô-ác rửa, thì mắt anh ta liền thấy được. Khi người mù được sáng mắt, thì anh ta đi đến đâu cũng khoe với mọi người là ông Giê-su đã chữa mắt cho anh ta được sáng. Trong khi người Do Thái lại cấm và trục xuất khỏi hội đường những ai loan truyền danh Chúa Giê-su. (Ga 9.1-23) Đức Cha cấm cha Long không cho người ta kể ra những việc Chúa đã làm, thì cũng không khác gì người Do Thái trục xuất những ai nói về Chúa Giê-su.
Đức Cha cấm cha Long không được phát đài. Đài cha Long là tiếng nói của Chúa, vì đó toàn là những bài giảng và là những chứng nhân nói về những việc Chúa đã làm cho họ. Có một cán bộ Đảng viên nói như thế này: “Nghe đài cha Long mà được khỏi bệnh”. Nếu Đức Cha muốn tìm hiểu sự thật, cho người về hỏi người đó. Đài cha Long không nói gì sai với đường lối của Chúa cả. Đức Cha cấm không cho nghe đài cha Long, thì cũng như cấm người ta không được nghe lời Chúa, vì đài cha Long chỉ có nói lời Chúa. Đức Cha cấm cha Long phát đài, thì cùng đồng nghĩa là phản đối việc làm của ĐTGM Giuse Nguyễn Chí Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngài đã phát đài cha Long cho giáo dân.
Thưa Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, ngài biết không, có những người Lương người ta đã tự bỏ tiền, mua đài cha Long về phát cho dân ngoại. Nhờ đài của cha Long mà rất nhiều người Lương được ơn trở lại. Nhờ đài của cha Long mà làm cho nhiều tội nhân được ơn trở về với Chúa. Xin Đức Cha hãy mau mau rút lại những gì Đức Cha đang cấm cha Long, vì e rằng gánh nặng của Chúa sẻ đè xuống trên đôi vài Đức Cha không có nhẹ. Và kính thưa Đức Cha Gioan Vũ Tất, trong sự việc ngăn cản phân phát đài cha Long cũng có bàn tay của Đức Cha trong đó. Ước gì Đức Cha nhìn lại sự việc này và may chăng Chúa có quên được không.
Có thể nói việc rao giảng Tin Mừng là việc cần thiết và cấp bách hơn so với mọi công việc khác. Thánh Phao lô nói: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9.16). Các cha hàng ngày thì cũng chỉ giảng cho được ít người Công giáo nghe thôi, vì lễ thường có nhiều nhà thờ chỉ được đôi người đi. Còn nói thật ra không có mấy cha mà nói lời Chúa cho dân ngoại được. Còn cha Long không phải nói lời Chúa cho ít người nghe nhưng cho trên một vạn người nghe mỗi ngày, trong đó có ngày người Lương đông hơn người Giáo. Rồi còn những người nghe lời Chúa trong đài cha Long và nghe trên mạng chưa nói. Nhiều người cả đời chưa bao giờ được nghe từ “Chúa” chưa bao giờ được nghe từ “Mẹ” chưa bao giờ được nghe từ “cha” chưa bao giờ nghe nói về “nhà thờ”. Bởi vì 100 người thì chưa được 7 người Công giáo, còn hơn 93 người là người Lương. Nhờ đài cha Long mà làm cho hàng vạn người nay được nghe từ “Chúa” nay được nghe từ “Mẹ” nay được nghe từ “người Công giáo”. Nhờ đài cha Long mà làm cho hàng vạn người Lương trong và ngoài nước biết đến đạo Chúa, nhờ đài cha Long mà từ trước tới nay đã có hàng vạn người Lương đến với giáo điểm Tin Mừng, trong đó có cả các tôn giáo bạn.
Có cha Jb Nguyễn Đình Thục, xứ Song Ngọc, giáo phận Vinh, cha phát rất nhiều đài cha Long cho cả Lương và Giáo. Có những vùng cha Thục phát đài cha Long cho họ, có nơi đi vào cha Long cả một ô tô toàn là người Lương. Xứ Song Ngọc chiều nào giáo dân cũng đều đến nhà thờ lần hạt và lần chuỗi Thương xót, chỉ trừ một giáo họ đang làm nhà thờ chưa xong. Tìm ra cho được một giáo xứ mà các giáo họ buổi chiều đi đọc kinh Thương xót đông như xứ Song Ngọc có lẽ không có. Xứ Song Ngọc đi đọc kinh buổi chiều đông như thế có lẽ cũng nhờ lòng đạo đức của cha Thục, vì cha Thục cũng đọc kinh chung với giáo dân. Nhờ chuỗi Thương xót mà Chúa đã hứa, chắc chắn Chúa sẻ đổ muôn hồng ân xuống cho mọi gia đình và mọi thành phần trong giáo xứ Song Ngọc, những người ở nhà cũng như những người xa quê. Công việc say mê nhất của cha Thục là quảng cáo lòng Thương xót Chúa bằng cách phát đài cha Long cho mọi người. Vì nhờ đài cha Long mà làm cho muôn vàn người được ơn trở lại, nhờ đài cha Long mà nhiều người dân ngoại được nghe tiếng Chúa. 
Trước khi Chúa Giê-su về trời Chúa không căn dặn điều gì cả, Chúa chỉ nói có một điều là: các con hãy đi khắp nơi mà nói cho mọi người biết về Chúa. Chúa chỉ nói có nấy thôi, không nói gì thêm nữa. Một chiếc đài cha Long có giá trị gấp nhiều lần so với mỗi một người chúng ta. Gần bảy triệu người Công giáo, nhưng có ai dám nói lời Chúa cho dân ngoại không? Thưa e rằng cũng chỉ được một vài người, còn đâu nữa là im re, không ai dám nói gì cả. Và nếu có nói người ta cũng chẳng nghe. Bởi vậy phân phát đài cha Long cho dân ngoại là cách tốt nhất để họ được nghe về Chúa. Cho họ sách Phúc Âm hay sách gì, có người lấy những chưa chắc đã đọc, còn hầu hết nữa cho người ta không cầm đâu. Nhưng phát đài cha Long hầu hết người ta đều nhận. Bởi vậy giáo xứ Song Ngọc cũng như các nhà hảo tâm xa gần nên tài trở ít nhiều cho cha Thục làm công việc cần hơn so với mọi công việc khác mà cha đang làm.
Ngày nay thì đài cha Long không có được như mọi khi. Bởi vậy những ai muốn mua nhiều đài cha Long thì cũng không khó gì, mua đài và thẻ nhớ ngoài chợ về, rồi cóp py vào. Làm đơn giản thôi mà.
Và mọi người chúng ta cũng nên học cha Thục và một số các cha khác là phát đài cha Long cho dân ngoại. Đến tòa phán xét Chúa hỏi con có đi truyền giáo cho ai được không? Có người trả lời: “Thưa Chúa, con không có khả năng”. Người khác trả lời: “Thưa Chúa, con cũng muốn đi truyền giáo nhưng vì không có ai làm cả”. Vậy Chúa hỏi tiếp: “Có phải hàng vạn người nhờ đài cha Long mà người ta biết Chúa có phải không?”. Người đó thưa: “Không phải hàng vạn đâu mà còn đông hơn thế nữa”. Chúa nói tiếp: “Vậy con đã phát đài cha Long cho người ngoại nào chưa?” Người đó trả lời: “Thưa Chúa, vì Đức Cha và một số cha phản đối cha Long nên con không phát”. Người đó nói tiếp: “Thưa Chúa, Chúa bây mới nói thì quá muộn rồi, Chúa nói phân phát đài cha Long là có lợi như thế, sao Chúa không nói với con khi con đang sống trên trần gian này đi, và nếu Chúa nói với con khi còn sống trên trần gian, thì không những con mà rất nhiều người cũng sẻ thì nhau phát đài cha Long cho dân ngoại”. Chúa nói tiếp: “Chúa không còn thời gian để nói chuyện nữa. Thôi đi đi!”. Không chỉ phân phát đài cha Long, nhưng đối với những ai đau khổ bất kể hoàn cảnh nào, thì mình cũng vì tình thương mà giới thiệu cho họ vào cha Long. Đối với dân Lương, những ai có niềm tin, họ vào cha Long không được cái này cũng được cái khác. Riêng đối với bệnh ung thư và một số bệnh nan giải khác, vào cha Long may chăng kéo dài ngày sống thôi, hay để bớt đau đớn hơn, còn để khỏi hẳn là không dám chắc.
Cha Jb Nguyễn Đình Thục, có lẽ nhờ cha say sưa làm mọi cách cho dân ngoại được biết về Chúa, nên Chúa đã gìn giữ ngài trong mọi nơi và mọi lúc nguy nan, ứng nghiệm như lời Chúa sau đây: “Gặp thấy nó giữ miền hoang vắng, giữa cảnh hỗn mang đầy tiếng rú rợn rùng. Chúa ấp ủ, Chúa lo dưỡng dục, Chúa luôn gìn giữ, chẳng khác nào như con ngươi nơi mắt Chúa” (Bài ca của Môi sen 32.10). 
Cha Jb Nguyễn Đình Thục, rất nhiều lần bị sự dữ tấn công, như thời ở Con Cuông và nhiều lần ở nơi khác. Có lần cha làm lễ ở trong nhà, bên ngoài toàn là súng đạn và gậy gộc đang chờ cha. Mặc dầu vậy nhưng cha vẫn bình tĩnh dâng lễ và không hề hấn gì cả. Có những lúc cha bị mang tiếng trước mặt người dân là như thế nọ thế kia, nhưng đi đến đâu chính quyền vẫn trọng và kính nể cha, vì họ thừa biết việc làm của cha là để mưu cầu ích lợi cho dân và cho nước, chứ cha không hề được một lợi lộc gì riêng cho cha cả. Chẳng qua người ta đối xử không đúng với cha Thục là vì cấp trên bắt phải làm. Và chính quyền tôn trọng cha Thục là vì chưa bao giờ cha Thục nói lời gì xúc phạm đến ai.
Đức Cha cấm những điều cha Long làm như trên là hoàn toàn không đúng trước mặt Chúa. Trong lúc biết bao là công trạng của cha Long, không thấy Đức Cha nói lên chút nào cả. Có những cha dùng ô tô đắt tiền, có cha thì hai chiếc. Cha Long thậm chí chưa có xe máy, đi đâu cũng phải đi xe ôm, sao Đức Cha không kể ra? Có những cha đi suốt, vắng lễ rất nhiều, còn cha Long ngày nào cũng như ngày nào, không dám đi đâu rời khỏi xứ, cha phải làm lễ cho trên một vạn người, công trạng cha Long như thế, sao không thấy Đức Cha nói lên? Có những cha ít giải tội, còn cha Long rảnh phút nào là giải tội phút đó, công trạng như thế sao không thấy Đức Cha nói lên? Có những cha hàng năm không biết đưa được mấy người tội lỗi trở về với Chúa, còn cha Long đưa được rất nhiều người bỏ Chúa lâu năm trở về. Đến với giáo điểm Tin Mừng, hầu như ngày nào cũng có những người bỏ Chúa hàng chục năm, có người 10 năm, có người 20 năm, có người 30 năm. Nhiều lúc phải chờ hàng giờ mới xưng được tội, vì quá đông người xưng. Công trạng cha Long như thế, sao không thấy Đức Cha kể ra? Cha nào cũng giải tội được, nhưng tại sao người ta không xưng cha xứ của họ nhưng lại phải vào cha Long mới xưng được sao? Các cha xứ cũng thường xuyên kêu gọi những con người bỏ Chúa trở về, có nhiều cha còn mời cha lạ đến để cho giáo dân xưng tội cho dễ, nhưng những người bỏ lâu năm, có mấy người xưng tội đâu. Đức Cha phải thấy được, cha xứ mà người ta không chịu xưng , phải vào cha Long mới xưng được, thì Đức Cha nên biết cho, chính Chúa đang dùng cha Long là một khí cụ trong tay Chúa. Nên những gì Đức Cha đang xúc phạm đến cha Long là đang xúc phạm đến chính Chúa.
Thưa Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên, Tổng Giám Mục Hà Nội có nói: “Tại sao một số tu sỹ, chủng sinh và linh mục thời nay say mê rượu chè, tiệc tùng, du lịch, hò hát, nhảy nhót, chơi xe, chơi cây, chơi đồ cổ, chơi động vật quý hiếm và nhiều thú vui phù phiếm phàm tục khác”. Những chủng sinh và các cha sai lỗi thì Đức Cha nên sửa dạy, còn cha Long cũng như hàng trăm cha khác đặt tay là để chúc lành cho họ, sao Đức Cha lại cấm cha Long đặt tay? Những cha nghiện rượu Đức Cha có biết không, có cha uống rượu đến nổi nôn ra ngay tại bàn thờ. Thưa Đức Cha, những cha uống rượu như thế Đức Cha có biết không, sao cha Long làm cho người ta nói lời Chúa cho mọi người nghe, cha Long đọc những việc Chúa đã làm thì Đức Cha lại cấm? Thường chúng ta đến cha xứ có người đưa két bia, có người đưa cho cha chai rượu quý hay cái gì đó. Nhưng cha Jb Hoàng Xuân Lập, giáo phận Vinh, cấm không được đưa rượu bia vào nhà xứ, để nói lên rằng làm linh mục là không nên động đến bia rượu, khi vui thì nên uống một ly gì đó thôi. Thật là buồn lắm, có không ít cha được giáo dân khen rằng: cha đó uống khỏe lắm, không ai địch nổi, uống cả chai vẫn bình thường. Những cha chơi xe, thay đổi xe thường xuyên, Đức Cha có biết được cha nào như thế không? Những cha chơi cây cảnh, chơi đồ cổ, Đức Cha đã gặp các cha đó chưa, còn cha Long đặt tay chúc lành cho mọi người thì Đức Cha lại cấm?
Những khuyết điểm của các chủng sinh và linh mục mà Đức Tổng Giuse Vũ Văn Thiên đã nêu trên. Thưa Đức Tổng Giuse Vũ Văn Thiên, có lẽ ngài nên trình lên Tòa Thánh để đem vào Luật những điều trên thì có lợi cho Chúa và cho người nhà Chúa lắm. Thời trước làm gì có vi tính, điện thoại… cũng vậy thời nay đã có những tội mới trong các tu sỹ và giáo sỹ thì cũng phải có Luật mới. Ví dụ, khấn đức khó nghèo mà dùng những đồ đắt tiền thì đã lỗi Luật rồi. Nhưng người ta biện hộ cho đó chỉ là phương tiện, Cho nên thưa Đức Tổng cần phải trình lên Tòa Thánh để đưa những điều Đức Tổng trình bày trên vào Luật càng sớm càng tốt.
Người ta thấy các cha sai lỗi rất nhiều, thậm chí Đức Cha cũng sai lỗi, nhưng không mấy linh mục dám nói đến tội của các cha. Không dám nói, có nghĩa là đồng tình, vì mình cũng có như vậy. Cha đã chơi xe đắt tiền, 100% cha không dám nói các cha khác mua xe đắt tiền được. Chẳng tội ai nặng bằng tội Phê-rô, tội Phao-lô, tội của thánh Madalena, cô gái mại dâm. Những tội đó Chúa không hề che dấu, bắt ghi vào sách vở, để mọi người phải học từ đời này qua đời khác. Cha Giuse Hồ Viết Sinh, dòng Đa Minh, nhiều lần cha giảng, cha không dấu diếm những khuyết điểm của các linh mục. Cha giảng như thế để giáo dân biết mà cầu nguyện cho các linh mục. Có thấy được tội, mới biết đàng mà cầu nguyện. Còn đa số giáo dân cứ nghĩ các cha như là thánh, vì người dân có được ăn học gì đâu. Giảng về khuyết điểm của các cha thì hầu như không cha nào thích cả, vì có tật thì giật mình. Nhưng không phải đâu, Chúa Thánh Thấn nói trực tiếp trong những bài giảng đó cả đó, không phải tự nhiên mà giảng như thế được đâu. Còn khen các cha cũng là điều tốt, nhưng phải thận trọng, có khi vì lời khen đó mà làm cho các cha không thể thấy về mình được, vì lời khen đó mà làm cho giáo dân hiểu không đúng về các cha. Còn nói thật nói đúng về những điều tốt của các cha là rất nên nói. Điều này không phải là khen.
Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã công bố đề tài Ngày Quốc Tế giới trẻ năm 2022 tại Lisboa, Bồ Đào Nha, là “Đức Maria đứng dậy và vội vã lên đường” (Lc 1.39) Ngày Quốc Tế giới trẻ lần trước, Đức Thánh Cha đã đưa ra câu: “Hởi người trẻ, tôi nói với anh, hãy đứng dậy!” (Lc 7.14) Chúa nói: đứng dậy để làm gì? Đứng dậy để đi nói lời Chúa cho những ai chưa biết. Cha Long phát hàng vạn chiếc đài, thay cho hàng vạn người đi nói lời Chúa cho dân ngoại, nhưng tại sao Đức Cha lại cấm cha Long không được phát đài? Đức Cha thấy không, gần 7 triệu người Công giáo có ai dám nói lời Chúa cho dân ngoại không, còn hàng vạn chiếc đài cha Long đã thay thế cho hàng vạn người Công giáo đi nói lời Chúa cho họ. Ngày Quốc Tế giới trẻ lần trước ĐTC còn đưa ra một câu nữa: “Hãy đứng lên, Ta đặt ngươi làm chứng nhân về những gì ngươi đã thấy” (Cv 26.16). 
Chúa nhủ là hãy làm chứng cho người ta biết những gì Chúa đã làm cho mình. Tại sao cha Long cho người lên làm chứng những gì Chúa đã làm cho họ cho mọi người biết, thì Đức Cha lại cấm, đọc thư cũng cấm? ĐTC còn nói tiếp: “Các bạn trẻ thân mến, các bạn được kêu gọi trở thành ánh sáng trong đêm đen của bao nhiêu người đồng lứa tuổi chưa được biết niềm vui của đời sống mới trong Chúa Ki tô”. Dân tộc Việt Nam một dân tộc đông dân, đứng thứ 15 trên toàn thế giớ, nhưng chỉ có gần 7 triệu người Công giáo, còn đâu nữa là chưa hề biết gì về Chúa Ki tô cả. Có những người gần hết đời người rồi mà chưa bào giờ trong đời được nghe nói từ “thiên đàng” từ “đạo Công giáo”. Nay nhờ cha Long và nhiều cha khác cũng một số giáo dân phát đài cho dân ngoại, để họ được nghe tiếng Chúa. Đài cha Long đi khắp mọi miền của Tổ quốc, kể cả vùng dân lộc. Cha Long phân phát đài cho người ta biết về Chúa, thì tại sao Đức Cha lại cấm?
Một điều mà Đức Cha đáng lẽ đã làm rồi nhưng tại sao Đức Cha chưa làm hay không làm. Ngày chầu lượt các xứ ở giáo phận Vinh, ít ra cũng có vài chục cha, có xứ đến bảy tám chục cha hoặc đông hơn. Cha Long mỗi buổi lễ ngày thường như thế còn đông hơn cả ngày chầu lượt, trên một vạn người. Đáng lẽ Đức Cha phải cho về Giáo Điểm Tin Mừng ít nhất là hai cha nữa. Ngày nay một xứ hai cha thì hầu như nơi nào cũng có, có xứ còn đến ba cha. Giáo Điểm Tin Mừng ngày nào người cũng đông như ngày lễ lớn, sao Đức Cha không cho thêm các cha về phục vụ với cha Long, để cha Long làm một mình như thế? Điều thứ hai cũng rất cần. Ngày nào cha Long cũng cấp ít nhất là hai hoặc ba chiếc xe lăn cho những người tàng tật và bại liệt, tính quân bình một năm cha phát trên một ngàn chiếc xe lăn. Không việc gì cần bằng việc cứu người cả. Bởi vậy Đức Cha nên đầu tư những sự cần thiết cho công trình của Chúa ở nơi cha Long.
Nhiều người phản đối cha Long, kể cả những người hiểu biết, còn người phản đối theo, không có văn hóa ta không bàn đến. Nếu họ giả tập làm như cha Long, thì 100% họ không dám phản đối cha Long nữa. Ta nói cha Long từ trước tới nay, cha đã làm cho hàng vạn người Lương đi lễ, và bây giờ ngày nào cũng có tới hàng ngàn người Lương đi lễ. Người bình thường thì không thể làm như cha Long được, nhưng ta nói ví dụ Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, ngài có thể làm cho mười người Lương đi lễ một vài ngày có được không? Chắc chắn không thể làm được. Cũng có thể làm được nếu Đức Cha nói đi lễ rồi Đức Cha cho tiền, nhưng có những người cho tiền người ta không lấy, sợ mang ơn, sợ lấy tiền là những kẻ thấp hèn. Qua đây ta mới thấy hàng vạn người Lương đến với Cha Long không phải là cha Long làm, nhưng chính Chúa đưa họ đến với cha Long. Bởi vậy chúng ta hãy cầu xin Chúa cứu những người xúc phạm đến cha Long đừng để họ mất linh hồn.
Để thực thi lời dạy của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô có dễ không? Không dễ chút nào, vì ĐTC lấy lời Chúa câu: “Hãy đứng lên! Ta đặt ngươi làm chứng nhân về những gì ngươi đã thấy” (Cv 26.16). Làm chững nhân thì phải nói lời Chúa cho người ta biết hay bằng một việc làm nào đó để người ta biết về Chúa. Còn làm chứng cho Chúa mà không có việc làm cũng không có lời nói thì làm sao mà làm chứng được? Khi làm chứng như thế thì người ta có nghe không? Người nghe cũng có, nhưng phần đa người ta chửi rủa, người ta mắng nhiếc, người ta khinh chê, người ta cho là chỉ có tôn giáo bay mới tốt mà thôi sao. Ra đi làm chứng mà bị như thế thì có nên làm chứng không? Khi đã bị như vậy thì phần đa người ta không dám làm chứng. Và cũng trong chính người nhà của mình sẻ phản đối những người ra đi làm chứng cho Chúa, họ nói vì những con người đó mà chúng tôi phải mang tiếng. Và nói thật may chăng được các nhà truyền giáo mới dám liều thân làm chứng cho Chúa thôi. Nếu thực hiện đúng như lời ĐTC Phan-xi-cô dạy là đứng lên ra đi làm chứng cho Chúa, thì không phải ai ai cũng dám làm đâu. Vì ĐGH nói: “Giáo Hội phải là một Giáo Hội chịu nhiều bầm giập và các thương tích”. 
Những người không chịu đựng được các bầm giập và các thương tích, thì chính họ lại phản đối những người ra đi làm chứng cho Chúa. Đi ngược lại với đường lối của ĐGH Phan-xi-cô là người ta chỉ mong có một Giáo Hội an nhàn thư thái, có nghĩa là không ai chạm đến mình, và mình cũng không chạm đến ai. Trên trần gian này từ trước và cho đến muôn đời có ai ra đi làm chứng cho Chúa mà không bị người ta chống đối không? Không có bao giờ, bất cứ những ai làm chứng cho Chúa đều bị người đời chống đối, rồi còn phải bắt bớ, tù đày, chém giết như Chúa đã phán cùng các Tông Đồ rằng: “Này, Thầy sai các con đi như những con chiên ở giữa sói rừng. Vậy các con hãy ở khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như chim bồ câu. Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẻ nộp các con cho công nghị, và sẻ đánh đập các con nơi hội đường của họ. Các con sẻ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết” (Mt 10.16-18). Bởi vậy khi ta ra đi làm chứng cho Chúa mà có bị ai đó nói gì hay chê trách, vì không được như ý muốn của họ, thì chúng ta cũng đừng có buồn. Nếu ta không ra đi làm chứng cho Chúa, thì làm sao họ biết Chúa? Có nhiều trường hợp đầu tiên họ chê trách ta, chỉ vì không được như ý họ cầu, nhưng sau này Chúa sẻ biến đổi những con người đó được nhận biết Chúa hay họ sẻ hiểu biết về Chúa nhiều hơn.
Trường hợp cha Giuse Trần Đình Long cũng thế, cũng có những người Lương đến với cha Long nhưng không được như ý họ xin, có thể họ không vui lắm, nhưng nhờ đó họ sẻ được hiểu biết về Chúa nhiều hơn, và chắc chắn từ nay về sau họ sẻ không hiểu sai về đạo Chúa như họ đã từng nghe đồn thổi như từ trước đến nay nữa. Bởi vì chính mắt họ đã được nhìn thấy đạo Chúa như thế nào, tay họ đã được sờ, được động đến đạo Chúa, được cảm nhận về đạo Chúa. Và từ nay trở đi cho dù ai đó có xuyên tạc về đạo Chúa như thế nào đi nữa, thì họ vẫn không hề tin. Một chục vạn người Lương đến với cha Long, thì ít ra cũng có tới năm mươi vạn người khác cũng hiểu đúng về đạo Chúa, vì người ta kể lại cho nhau nghe. Người ta hiểu đúng về đạo Chúa, thì đó là truyền giáo, đó là làm chứng nhân cho Chúa. Vậy trong lúc này không một ai có thể thực hiển được lời dạy của ĐGH Phan-xi-cô như cha Giuse Trần Đình Long, là ra đi làm chứng cho Chúa.
Cha Long có lẻ không biết nhục. Từ khi Đức Cha Đỗ Mạnh Hùng ngăn cấm cha Long không được làm những điều như trên, thì cha Long giống y như giậu bộ bìm leo. Từ đó đến nay có rất nhiều người xúc phạm đến cha Long mà không hề biết sợ tội. Có một cha viết trên Face rằng: “Có một xe đi cha Long về chết, nhưng người ta dấu nhẹm luôn”. Nếu chết như thế thì cứ cho đó cũng như là tai nạn máy bay chết lúc hàng trăm người đi, hay hàng năm đây đó cũng bị tai nạn ô tô, chết cả xe. Nhưng nhiều người vẫn tìm hiểu và hỏi thăm là xe ô tô đi cha Long về bị nạn rồi chết cả xe là ở đâu, xe đó thuộc giáo xứ, giáo phận nào, tỉnh nào, thì người ta vẫn chưa tìm ra. Nếu không có như thế nhưng vì cha đó nghe không chính xác rồi vội đem lên Face hay có ý dựng lên câu chuyện để ngăn cản người đi cha Long. Nếu cha đó có ý như vậy thì tội cha trước mặt Chúa thật là nặng lắm. Có cha tỉnh tâm cho một giáo hạt giảng rằng: “Cha Long rửa tội cho được mấy người rồi, đưa được mấy người về với Chúa rồi? Có đâu!” Nói đến cha Long thì một đứa con nít có khi cũng biết, cha này mà không biết cha Long sao? Ước gì cha này đừng biết gì về cha Long, khỏi cha mắc tội nặng lắm. Và nếu cha chưa biết gì về cha Long mà giảng như thế, cha cũng mắc tội. Nếu biết về cha Long mà cha giảng như thế là đồng nghĩa với việc làm chứng gian. Vì cha Long đã đưa được nhiều người về cho Chúa mà cha đó giảng là bảo chưa. Như vậy cha đó không phải làm chững gian hay sao? Xin Chúa cứu lấy linh hồn cha đó. Cha Long không đưa được người về cho Chúa, thì có cha nào mới đưa người về cho Chúa được. 
Có những người đã cắt xén bài giảng của cha Long rồi tung lên mạng để bêu xấu cha. Tại sao không dám đưa nguyên cả bài giảng của cha mà lại phải cắt xén? Giống y như người ta đã cắt xén bài nói của Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt. Mặc dầu vậy nhưng thấy cha Long vẫn vui như nghé, vẫn giảng dạy bình thường, vẫn làm cho mọi người vui vẻ như cha không hề có sự cố gì. Đáng lẽ Đức Cha cấm cha Long như thế thì sẽ không có người lui tới cha Long nữa, nhưng ta thấy Đức Cha cấm thì mặc Đức Cha cấm, còn người ta Lương Giáo cứ đến với cha Long không hề có giảm. Ai làm được như vậy? Chính Chúa làm. Nhưng khốn cho những người đã xúc phạm đến cha Long, như lời Kinh Thánh dạy: “Dưới chân con, chúng đã giăng lưới sẵn, cho con phải mắc vào. Trước mặt con, chúng đào hầm đào hố, chính chúng lại sa chân” (Tv 57.8).
Trong khi giảng dạy, cha Long vẫn có đôi sơ suất về lời nói hay sai về phong cách giảng dạy. Con người ta khi buồn quá cũng hay sai, vui quá cũng hay sai. Cha Long nhìn thấy hàng ngàn người Lương ngày nào cũng đến tham giữ thánh lễ, chẳng lẽ ngài không vui sướng trong tâm hồn hay sao? Vì quá vui sướng trong tâm hồn nên có thể sơ suất đôi chút trong khi giảng dạy, ta nên bỏ qua cho ngài. Và trong khi giảng dạy cha Long cũng nên nhớ cha là một nhà giảng thuyết, và còn hơn cả một nhà giảng thuyết nữa, vì cha là sứ giả của Chúa. Ma quỷ luôn luôn tấn công vào tài năng của bất cứ những ai đang có: người có tiền, có sắc đẹp, có chức quyền, thông minh… Trong khi đó có những cha nạt nổ giáo dân, có những cha đánh đập giáo dân, có những cha coi các cụ già bằng thằng. Có những cha trong khi giảng xúc phạm đến giáo dân hay nói giáo dân một cách nhục quá nên có người đã bỏ ra trong khi cha giảng, có người bỏ về luôn, có người thấy cha giảng như thế rồi một số đem nhau đi lễ xứ khác. Nếu ta đem so sánh như vậy, thì những sơ suất của cha Long cũng không nên bé xé thành to. Và nếu có nói thì phải nói những cha phạm tội nặng hơn nhiều lần so với cha Long trước đã, như vậy mới là người hiểu biết.
Những người đi cha Long về, ít nhất phải biết cầu nguyện với Chúa một đôi lời. Lương cũng như Giáo phải tập cho họ biết cách cầu nguyện ở mọi nơi và mọi lúc, vì nơi nào cũng có Chúa. Khi cầu nguyện kể cả Giáo và Lương phải nhìn thấy cho được Chúa đang hiện diện ngay trước mặt mình. Những cơn đau bệnh lên, lúc đó không còn cách nào khác là bằng những lời cầu nguyện từ đáy lòng. Không có một sức mạnh nào bằng lời cầu nguyện: lời cầu nguyện đã làm cho kẻ chết sống lại, lời cầu nguyện đã đóng cửa trời suốt 3 năm 6 tháng không hề có giọt mưa trên đất Do Thái, lời cầu nguyện đã làm cho trởi đổ mưa, lời cầu nguyện đã làm cho lửa từ trời xuống thiêu đốt của lễ trên bàn thờ. Và hầu hết những bệnh nhân đến với cha Long là đã đi khắp nơi, bệnh viện đã trả về. Cầu nguyện đọc to hay nói thầm thì cũng được. Khi cầu nguyện hãy nói: lạy Chúa, con tin thật Chúa đang hiện diện trước mặt con, xin Chúa tha tội tha vả cho con, xin Chúa giảm bớt cơn đau cho con. Lạy Chúa, xin tha tội tha vả cho mọi người trong gia đình con, xin Chúa giảm bớt cơn đau cho con. Đọc đi đọc lại nhiều lần trong lòng như thế, 100% bệnh sẻ giám. Còn những cơn đau đã lên, thì có thể nói, 99% là ước chết hơn là phải sống để mà chịu bệnh. Cách cầu nguyện khác: Lạy Chúa, con tin Chúa đang hiện diện trước mặt con, xin Chúa giúp con chịu đau khổ này cho đẹp lòng Chúa và đền vì tội lỗi con. Xin Chúa giúp con chịu đau khổ này để được kết hợp với của lễ Chúa Giế-su giờ này đang dâng trên bàn thờ, mà tạ ơn Thiên Chúa Cha, và cho được đền bù tội lỗi của con. Đọc đi đọc lại hàng trăm hàng ngàn lần như thế, 100% bệnh sẻ bớt, giảm bớt cơn đau đớn hay đủ sức để chịu đựng. Và trái lại bệnh tật sẻ trở thành nguồn ân sủng cho linh hồn chúng ta, và nhất là đưa ta đến gần Chúa hơn. Nếu cầu nguyện như thế thì người ta không còn sợ chết, và nếu họ chết thì chết một cách rất vui vẻ. Người nhà cũng không có cách nào hơn để giúp đỡ người ốm và duy nhất là chỉ có cách cầu nguyện như trên mới làm cho bệnh nhân được thuyển giám, và người nhà cũng cảm thấy rất bình an. Nếu bệnh nhân có chết người nhà cũng không buồn phiền lắm. Ơn bình an là ơn quan trọng và cần thiết nhất hơn mọi sự trên đời này. Các thánh tử đạo sặn sàng chết và chết một cách vui vẻ là vì các ngài có ơn bình an.
Để những người đi từ cha Long về biết cầu nguyện như trên, cha phải cho công đoàn lặp đi lặp lại nhiều lần khỏi quên, và mọi người mới có thể nhớ được lâu. Còn nếu không biết cách cầu nguyện, thì khi những cơn đau bệnh lên, lúc đó chỉ có kêu van, có người gào thét cho đỡ đau.
Mỗi ngày đêm cha Long có thể nhận hàng ngàn tin nhắn xin cha cầu nguyện từ trong và ngoài nước. Có người vừa nhắn tin xong thì họ được như ý họ xin hay bệnh được thuyên giảm, không biết cha Long đã kịp cầu nguyện cho họ hay chưa thì không biết. Nhưng chính cha nên dâng lên Chúa ít nhất là 3 lời cầu nguyện, và cộng đoàn đáp: xin Chúa nhậm lời chúng con. Làm như thế, để tất cả những tin nhắn trong điện thoại của cha được bay lên bàn thờ. Đồng thời cha cũng dâng tất cả mọi lời nguyện cầu của khách hàng hương về xin ơn, và cha cũng dâng tất cả mọi tội lỗi và mọi đau khổ của tất cả những người đã xin cha cầu nguyện cũng như tất cả những người có mặt hiện diện nơi đó. Vì có một vị thánh khi Chúa hiện đến bảo là con hãy dâng tội lỗi của con lên cho Ta để được tha thứ.
Có một điều mà các Đến Thánh phải học, và có lẽ tất cả các xứ cũng nên làm. Có một cha đề nghị như thế này: “Tại sao các cha không cho người lên làm chứng như cha Long?” Lời đề nghị của cha đó rất phù hợp với ý Chúa. Nhờ lời chứng mà mọi người xa gần đều biết về Chúa, còn không có lời chứng thì làm sao người ta biết được bao kỳ công Chúa đã làm. Biết để làm gì? Biết để cám ơn và cùng nhau chúc tụng Chúa. Như Chúa đã dạy: “Hãy tường thuật, tường thuật phép lạ Chúa giữa chư dân” (Tv 95). Chuyện lạ có thật, cách đây mấy năm có người kể lại: cha An tôn Nguyễn Đình Thăng giảng lễ ở Trãi Gáo, giáo phận Vinh. Cha kể: Có người Lương dân mất gần 2 kg vàng, nhưng họ đến khấn ông thánh An tôn. Vài ngày sau đó có người ở Trãi Gáo thấy một người bỏ cái gói gì đó ở nơi gốc cây xa xa. Bỏ xong rồi đi thẳng luôn và không nhìn lại. Người đó thấy vậy rồi chạy lại xem thử cái gì. Người đó mở gói đó ra thì thấy toàn là vàng, đồng thời có cả tên tuổi và địa chỉ của người có vàng. Người đó đưa số vàng đó vào cho cha Thăng. Câu chuyện nói mất gần hai cân vàng mà được trả lại có lẽ không ai tin, mà người ta sẻ cho đó là chuyện Tiếu Lâm thôi. Có thể nói, một ngàn lời cha giảng không thể bằng một chứng nhân như thế này. Bởi vậy, các nhà thờ và nhất là các Đền Thánh nên học cách cha Long mà cho người lên làm chứng hay đọc thư để mọi người xa gần được biết muôn vàn sự lạ Chúa đã và đang làm khắp mọi nơi.
Một điều nói ra đây không mấy ai nhất trí cả, nhưng nói ra để HĐGM Việt Nam tìm người lên làm Giám Mục ít sai hơn, hay nói cho đúng hơn là tìm đúng người được Chúa chọn. Có một Đức Cha chế nhạo người ăn chay ít nhất là ba lần, khi Đức Cha giảng trong nhà thờ. Ta thấy bây giờ một năm chỉ có hai ngày chay nhưng có những người vẫn không thể ăn chay được. Vậy người hay ăn chay đó là ai? Là các ông bà cụ hay một ít cha nào đó hay những người đạo đức. Lẽ ra Đức Cha đó phải động viên mọi người ăn chay để học theo gương Chúa Giê-su và các thánh chứ, sao Đức Cha không động viên nhưng còn đem việc ăn chay ra để chế nhạo?
Rồi một Đức Cha múa hát văn nghệ trên cung thánh với các em. Có một cha hát và múa nhảy trên cung thánh rồi đưa lên mạng, và nhiều người đã bình luận: “Cha đó phê rồi”. Có người nói: “Cha nhảy như điên”. Cung thánh được gọi là nơi cực thánh. Nơi cực thánh trước đây chỉ có các tư tế mới được vào, và nếu ai vào đó là bị phạt chết tươi. Nơi cực thánh khi xưa thì cũng chẳng có gì, chỉ là cục đá ghi 10 Điều Răn của Chúa thôi. Cung thánh ngày nay còn trọng hơn rất nhiều lần so với nơi cực thánh khi xưa. Nơi cực thánh ngày nay có Chúa Giê-su hiện diện trong nhà tạm, có Mẹ Maria, các thiên thấn và các thánh đang thờ lạy chung quanh, không phải như nơi cực thánh khi xưa chỉ một cục đá khắc mười Điều Răn trên đó. Vậy múa hát văn nghệ trên cung thánh hay trong nhà thờ là hoàn toàn sai, vì Chúa nói: “Nhà Ta là nhà cầu nguyện” (Lc 19.46). 
Có rất nhiều loại nhà: nhà hát, nhà ăn, nhà cầu, nhà giam, nhà thương, nhà chứa…. Nhà nào thì phải dùng đúng công việc của nhà đó. Nhà cầu nguyện thì chỉ để dùng vào việc cầu nguyện, sao có những xứ lại cho giới trẻ sinh hoạt trong đó hay là hội họp? Nếu ai đó đã một lần thấy giới trẻ sinh hoạt trong nhà thờ là sẻ biết, có những giáo xứ giới trẻ còn ồn ào hơn cả chợ nửa. Ta cứ nhớ rằng giới trẻ nhiều khi cha xứ nói mà không nghe, ban hành giáo nói không nghe, thì huynh trưởng là cái gì mà làm cho nó yên lặng được. Múa hát hò reo, hô hào phải làm ngoài nhà thờ. Cha Louis Nguyễn Văn Nga, giáo phận Vinh, cha luôn luôn nhắc nhở, nhà thờ là nơi thánh: “Ai phạm tội trong nhà thờ đều là phạm thánh”. Nơi thánh thì phải làm việc thánh, sao lại đưa múa hát, sinh hoạt trêu ghẹo nhau trong nơi thánh được? Ước gì các cha cũng nhắc nhở với giáo dân câu nói của cha Nga thường xuyên, để mọi người biết được điều đó là tội, thì người ta sẻ không dám phạm hay ít phạm hơn. Nhiều nhà thờ nam nữ ngồi với nhau nói chuyện trong nhà thờ mà không biết đó là tội, nhất là những đôi đang yêu nhau. Nhà thờ đã phân chia nam một bên, nữ một bên sao các cha một số nơi lại để cho ngồi lộn với nhau trong nhà thờ như thế? Nếu bên nam có thừa nơi thì cũng không được ngồi chung với nhau. Kể cả đứng ngoài nhà thờ, nam đứng bên nam, nữ đứng bên nữ. 
Ngày nay nhà thờ có những nơi đã biến thành nơi cho nam nữ tán tỉnh nhau. Nhiều xứ cho giới trẻ sinh hoạt ngay trong nhà thờ. Một số cha bắt những em không muốn vào cũng phải vào đoàn thể, cho nên những em đó vào là nó phá. Vô phép nhất là nó tán tỉnh, trêu ghẹo nhau trong nhà thờ ngay khi đang sinh hoạt, có những hành động sờ chạm vào người nhau trong nhà thờ. Ta biết ngày nay có những em học sinh cấp hai đã mang thai, có em đã phá thai, cấp một cũng đã biết yêu. Cho nên tuyệt đối không được cho thiếu nhi sinh hoạt trong nhà thờ, nếu cần sinh hoạt vì trời mưa to, thì cha xứ phải đứng đó mà canh gác, còn không chúng nó phạm tội trong nhà thờ là cha xứ phải chịu hoàn toàn, và những nhà thờ như thế có lẽ phải làm phép tẩy uế.
Rồi một Đức Cha khác đã bắt phải giải tán bốn nhà dòng hay phải sát nhập với các cộng đoàn khác.
Rồi một thời cha Px Trần An ở dòng Thiên An, Huế, Chúa cho cha Px Trần An có ơn thu hút, lôi cuốn được những người bụi đời, những người nghiện ngập, những người bất hạnh về ở với cha để được cha hoán cải. Nhưng có một thời gian ngài bị trục trặc với dòng Thiên An, tìm hiểu ra thì cũng do tác động của một Đức Cha, Đức Cha đó không thuộc về giáo Phận Huế. Ước gì trong tương lai dòng Thiên An Huế cùng kết hợp với cha Trần An để làm việc cho Chúa, thì thực sự hai bên đều có lợi. Đến với cơ sở của cha An là một nơi rất thực tế để thực tập cho các cha, cho các thầy được có cơ hội sống trực tiếp trên những con người tội lỗi, những con người bị xã hội ruồng bỏ, những tội nhân bỏ Chúa lâu năm. Và cũng rất đúng với lời Chúa dạy: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10.45). Ngoài xứ con có một em, gia đình bất lực, giáo họ và các ban ngành cũng không thể dạy được, em này phạm khá nhiều tội. Cám ơn cha Phao lô Hồ Văn Trường đã đưa đường chỉ lối cho gia đình gửi em đó vào cha An. Nay em ấy khá lên rồi. Bất kể ai chấp nhận ở với cha An thì đều được biến đổi. Qua đây các cha xứ nên thông báo cho các bà con biết, những đứa con nào cha mẹ không thể dạy được, thì nên gửi vào cha An càng sớm càng tốt. Vào ở với cha An là được cả hồn cả xác. Cơ sở của cha An đang nằm trên đất của giáo phận Huế, có lẽ giáo phận nên đầu tư kinh phí vào cho cha An, vì đó là công trình đặc biệt của Chúa. Tất nhiên không đầu tư thì Chúa cũng lo cho cha cả, nhưng để biết cái gì cần lo hơn cái gì.
Rồi lúc này thì Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng đã cấm cha Long như thế, Đức Cha Gioan Vũ Tất cũng ngăn cản việc cha Long phân phát đài cho mọi người. Có những người cho rằng các Đức Cha không thể sai như thế được. Cha Giuse Maria Lê Quốc Thăng Tổng Thư ký, Ủy Ban Công Lý Hòa bình HĐGM Việt Nam chia sẻ rằng: “Bình thường Đức Giáo Hoàng cũng sai, ngài chỉ không sai khi Đức Giáo Hoàng có ơn bất khả ngộ khi mà ngài nhân danh quyền Tòa Thánh, quyền Phề-rô công bố về một vấn đề phải tin về những vấn đề đức tin và luân lý”. Cho nên xét qua lời Chúa sau đây có thể là không sai: “Những đứa con mà Chúa đã sinh ra không tì ố lại lỗi đạo với Người” (Bài ca của ông Môi sen 32.5).
Kính thưa HĐGM Việt Nam và toàn thể cộng đồng dân Chúa. Chúng ta chỉ được phép vâng lời đúng những gì Chúa và Hội Thánh dạy, còn những điều đi ngược với Luật Chúa và Hội Thánh dạy thì không được vâng lời. Trong quá khứ có không ít những trường hợp vì vâng lời bề trên mà đã xẩy ra những hậu quả không lường được... Như đạo Tin Lành, bây giờ đã hàng trăm triệu người, đi ngược lại với Giáo Hội Chúa, là chỉ vì các cha và giáo dân thời đó đã vâng lời Đức Cha Luther. Nếu các cha và giáo dân thời đó không vâng lời Đức Cha Luther, thì 100% ngày nay đã không có đạo Tin Lành. Như trường hợp thánh Gioan Thánh Giá nếu ngài vâng lời bề trên, thì ngài được có chức tước trong dòng, được bề trên và mọi người yêu mến. Và nếu ngài vâng lời bề trên, thì đã không bao giờ có thánh Gioan Thánh Giá như ngày hôm nay
Vậy, căn cứ trên lời Chúa đã truyền dạy và đã được chứng minh trên: “Chúa đã thực hiện bao kỳ công, điều đó, phải cho cả địa cầu được biết. Vĩ nghiệp của Người loan báo giữa muôn dân, và nhắc nhở: danh Người siêu việt” (Tv). Căn cứ trên lời của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, ngài cũng đã lấy lại lời Chúa là: “Hãy đứng lên! Ta đặt ngươi làm chứng nhân về những gì ngươi đã thấy” (Cv 26.16). Căn cứ trên việc làm của Đức Tổng Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngài đã phân phát đài cha Long cho giáo dân. Căn cứ trên hàng vạn người Lương từ khắp mọi miền của đất nước từ trước đến nay đã đến với cha Long, họ đã được biết về Chúa, được học hỏi về Chúa. Căn cứ vào qua đời ĐTGM Phao lô Bùi Văn Đọc, Chủ Tịch HĐMG Việt Nam ngài đã không ngừng khích lễ động viên công trình Lòng Thương xót của cha Long. Qua những bằng chứng trên, thì việc Đức Cha Giuse Đỗ Mạng Hùng cấm cha Long như thế là trái ngược hoàn toàn với lời Chúa và Hôi Thánh dạy. Amen.
Share: