Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

TN34b - Thiên Chúa phán xét theo tiêu chuẩn duy nhất: tình yêu đối với tha nhân



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 34 Thường Niên
Lễ Chúa Kitô Vua


(26-11-2017)

Bài đào sâu

Thiên Chúa phán xét theo tiêu chuẩn duy nhất:
tình yêu đối với tha nhân



  TIN MỪNG: Mt 25,31-46

Cuộc Phán Xét chung



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Ngày phán xét, Vua Vũ Trụ sẽ phán xét con người dựa trên tiêu chuẩn nào? Ngài đã báo trước tiêu chuẩn ấy trong Tin Mừng chưa? 
2.   Ngài chỉ phán xét theo tiêu chuẩn duy nhất ấy thì có hợp lý không? Ta phải sống thế nào để trở nên công chính trong ngày phán xét ấy?


Suy tư gợi ý:

1. Phải tôn vinh Đức Giêsu là Vua của bản thân ta trước đã

Chúng ta tôn vinh Đức Giêsu là Vua Vũ Trụ, điều đó thật chính đáng. Nhưng nếu Ngài chỉ là Vua vũ trụ, chứ không phải là vua chính bản thân ta, mà vua của bản thân ta luôn luôn là «cái tôi» của ta, là những tham vọng của ta, thì việc tôn vinh ấy ích lợi gì? Ngài muốn được thật sự làm Vua của lòng ta, hơn là muốn ta tôn vinh, thờ phượng Ngài như là Chúa Tể của những gì không phải là ta. 

Chỉ khi nào Ngài thật sự là Vua của lòng ta, thì việc ta tôn vinh Ngài là Chúa Tể vũ trụ mới có ý nghĩa. Chỉ khi ấy, bản thân ta mới trở thành Nước Trời: «Nước Trời ở trong anh em» (Lc 17,21). Chính bản thân mỗi người có trở thành Nước Trời, thì gia đình, đoàn thể, Giáo Hội và thế giới mới trở thành Nước Trời được. Vậy, để xây dựng Nước Trời, ta phải bắt đầu từ chính bản thân ta đã, tương tự như lộ trình mà Khổng Tử đã đề ra: «tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ».

Vậy, điều trước tiên ta phải làm là nhận Đức Giêsu là Vua của chính bản thân mình đã. Nghĩa là trong mọi tình huống cuộc đời, ta phải coi Ngài quan trọng hơn chính bản thân và tất cả mọi thứ khác, coi thánh ý của Ngài quan trọng hơn ý riêng của ta hay của bất kỳ ai, nghĩa là hoàn toàn quy phục Ngài, tuân theo thánh ý Ngài được biểu lộ qua những đòi hỏi của tình yêu trong lòng ta. 

Vì bản chất của Ngài là tình yêu, nên nhận Ngài làm Vua của lòng mình, trong thực tế là luôn luôn làm theo đòi hỏi của tình yêu trong lòng mình. Đó cũng chính là nội dung giới luật yêu thương của Ngài, và cũng là tiêu chuẩn chính yếu nhất và duy nhất để vào được Nước của Ngài. Làm sao ta vào được Nước của Ngài khi ta chưa nhận Ngài là Vua của bản thân ta, khi tình yêu đối với Ngài chưa thật sự thống trị lòng ta?



2. Ngày phán xét, Thiên Chúa phán xét theo tiêu chuẩn nào?

Bài Tin Mừng hôm nay mặc khải cho ta biết vào ngày phán xét, Ngài xét đoán mọi người theo tiêu chuẩn nào. Bài Tin Mừng cho thấy Thiên Chúa chỉ phán xét theo một tiêu chuẩn duy nhất, đó là mỗi người đã yêu thương tha nhân, đặc biệt những người nghèo hèn bé mọn như thế nào. Bài Tin Mừng không nói đến việc Ngài xét về chuyện ta đã thờ phượng Thiên Chúa ra sao, đã cầu nguyện nhiều hay ít, có siêng năng tham dự hay cử hành các nghi thức tôn giáo hay không, có góp phần xây dựng thánh đường, Giáo Hội không, có vào hội đoàn nào hay không…

Tất cả những sinh hoạt tôn giáo ấy đều chỉ là những phương tiện nhằm giúp con người đạt được mục đích duy nhất là trở nên giống Thiên Chúa, Đấng mà bản chất là tình yêu. Nhờ đó con người trở nên yêu thương nhiều hơn, tốt hơn, cao thượng hơn, từ đó mạnh mẽ hơn, bình an và hạnh phúc hơn. 

Nếu thực hiện những sinh hoạt tôn giáo mà không đạt được mục đích ấy, thì ích lợi gì? Có được những chiếc xe tuyệt hảo, tối tân, đắt tiền để đi đến một nơi cần thiết nào đó, nhưng cuối cùng chẳng tới được nơi ấy, thì đâu ích lợi bằng một người đi bộ mà đến được đích. 

Nếu không đạt được tình yêu chân thật trong lòng, điều ấy có nghĩa là có một điều gì đó không ổn trong những sinh hoạt tôn giáo của ta. Có thể ta chưa nắm rõ mục đích của những sinh hoạt ấy, hoặc ta đã thực hiện chúng với tâm tình vị kỷ, vụ lợi, hoặc chưa thật sự gặp gỡ được Thiên Chúa trong những sinh hoạt ấy…

Để vào Nước Trời, Nước của Tình Yêu, điều kiện tất yếu không có không được, đó là tình yêu chân thực đối với Thiên Chúa, được thể hiện thành tình yêu đối với tha nhân. Vì không ai có thể vào được Nước của Thiên Chúa, nếu người ấy không giống Thiên Chúa. Mà bản chất của Thiên Chúa là tình yêu (x. 1Ga 4,8.16), do đó, giống Thiên Chúa có nghĩa là có tình yêu, hay nói đúng hơn, là trở nên hiện thân của tình yêu.


3.   Tiêu chuẩn duy nhất để phán xét là tình yêu đối với tha nhân

Ngày phán xét, Thiên Chúa chỉ xét theo tiêu chuẩn duy nhất là tình yêu thì thật là hợp lý. Vì khi Đức Giêsu xuống trần gian để thành lập Nước Trời, Ngài chỉ ban cho con người một giới răn duy nhất, đó là: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34). Nếu Ngài còn đưa ra nhiều giới răn khác, thì khi phán xét, Ngài sẽ phải xét theo nhiều tiêu chuẩn khác nữa. Nhưng Ngài đã chỉ đưa ra một giới răn duy nhất, nên khi phán xét, Ngài không thể xét theo một tiêu chuẩn nào khác với giới răn duy nhất Ngài đã ra. Thật là vô lý khi chỉ yêu cầu mọi người tuân giữ một điều duy nhất, rồi đến khi phán xét lại xét theo nhiều tiêu chuẩn khác ngoài điều duy nhất ấy!

Đức Giêsu đã nhấn mạnh đến giới răn này và nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đến nỗi không hề đưa ra một giới răn nào khác, để những người theo Ngài tập trung nỗ lực vào điều duy nhất ấy, không quá phân tâm vào những chuyện phụ thuộc khác. Bài Tin Mừng này rõ ràng lại nhấn mạnh thêm một lần nữa điều quan trọng ấy. 

Nhưng thật lạ lùng và buồn cười thay, nhiều Kitô hữu lại chẳng quan tâm đến điều Ngài đã nhấn mạnh rõ ràng đến như thế, mà lại cứ quan tâm những chuyện phụ thuộc khác! Vì thế, công giữ đạo của họ cuối cùng hóa ra «công cốc», đúng như câu: «Dã tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì»! Ngài đã từng trách những người Pharisêu biết bao nhiêu lần, là cứ đặt quá nặng những điều phụ thuộc, còn điều chính yếu thì lại coi quá nhẹ, lại còn dạy người ta như thế nữa: «Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng chân thành» (Mt 23,23; x. 23,16-22). Vì thế, Ngài đã gọi họ là «quân dẫn đường mù quáng!» (Mt 23,16.24; x. 15,14). Thế mà lạ lùng thay, ta lại cứ đi vào vết xe đã đổ của họ!



4.   Đừng để mình phải ngạc nhiên trong ngày phán xét

Điều đáng ta suy nghĩ và quan tâm là sự ngạc nhiên của cả người được chúc phúc và người bị chúc dữ. Cả hai loại đều hỏi Chúa hai câu tương tự nhau: «Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà (không) cho ăn, khát mà (không) cho uống; v.v…» (Mt 25,37-39.44). Rất có thể vào ngày đó, chính chúng ta cũng ngạc nhiên như vậy, cho dù Ngài đã từng báo trước rất rõ ràng trong các sách Tin Mừng rằng Ngài sẽ phán xét theo tiêu chuẩn duy nhất ấy, và Ngài tự đồng hóa Ngài với tha nhân của ta.

Suốt cuộc đời ta, chẳng bao giờ ta thấy Ngài hiện ra trước mặt để ta có thể làm một điều tốt lành nào đó cho Ngài cả. Thế thì tại sao Ngài lại khen những người bên phải là đã làm cho Ngài đủ chuyện, và trách những người bên trái là đã chẳng làm cho Ngài điều gì? 

Thật ra, Ngài luôn luôn hiện thân thành những tha nhân bên cạnh ta: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè, hàng xóm, người cùng sở làm… Và hiện thân cụ thể nhất của Ngài chính là những người nghèo khổ, ốm đau, bị áp bức, tù đày… Tất cả những gì ta làm cho họ là làm cho chính Ngài, và sở dĩ ta trở nên công chính là do chính ta đã thể hiện tình thương với họ. Tất cả những gì ta không làm cho họ, cũng là không làm cho chính Ngài, và ta trở nên người bị chúc dữ chính vì ta đã không thể hiện tình thương với họ.

Nhưng theo thói thường, ta chỉ tỏ ra yêu thương và đối xử tốt với những người mà ta hy vọng có thể đem lại cho ta lợi lộc, chức quyền, danh vọng: những kẻ giàu có, quyền thế, có địa vị… Thật ra, khi đối xử tốt với những người này, là ta đối xử tốt với chính ta chứ không phải với Thiên Chúa. Đức Giêsu khuyên: «Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc» (Lc 14,12-14). Nói chung, chỉ khi nào ta làm điều gì cho người khác vì tình yêu, một cách vô vị lợi, không nhằm ích lợi gì cho mình về sau, thì mới là làm cho chính Thiên Chúa.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con muốn nhận Đức Giêsu là Vua của cõi lòng con. Ngài chính là Tình Yêu. Xin cho cõi lòng con trở nên Nước Trời, Nước của Tình Yêu, để Tình Yêu thống trị lòng con, chi phối mọi ý tưởng, lời nói và hành vi của con suốt cuộc đời.


Share:

TN34a - Tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa ắt phải thể hiện thành tình yêu đối với tha nhân



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 34 Thường Niên
Lễ Chúa Kitô Vua


(26-11-2017)


Tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa
ắt phải thể hiện thành tình yêu đối với tha nhân




ĐỌC LỜI CHÚA

  Ed 34,11-12.15-17: (11) Chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm. (12) Như mục tử kiểm điểm đàn vật của mình vào ngày nó ở giữa đàn chiên bị tản mác thế nào, thì Ta cũng sẽ kiểm điểm chiên của Ta như vậy.

  1Cr 15,20-26.28: (22) Như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Ðức Kitô cũng được Thiên Chúa cho sống.


  TIN MỪNG: Mt 25,31-46

Cuộc Phán Xét chung

(31) Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. (32) Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. (33) Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái.

(34) Bấy giờ Ðức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. (35) Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; (36) Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han. (37) Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; (38) có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? (39) Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu? (40) Ðức Vua sẽ đáp lại rằng: Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.

(41) Rồi Ðức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. (42) Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; (43) Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng. (44) Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu? (45) Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy. (46) Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Người đời chúng ta dựa vào tiêu chuẩn nào để phân biệt người tốt kẻ xấu? Khi Thiên Chúa phán xét nhân loại, Ngài có phân biệt theo kiểu của chúng ta không? Ngài có mạc khải về những tiêu chuẩn phân biệt của Ngài không? 
2.   Thiên Chúa phân biệt kẻ xấu với người tốt dựa trên tiêu chuẩn nào? Tại sao vậy? Phân biệt theo tiêu chuẩn ấy có hợp lý không? 
3.   Qua bài Tin Mừng này, bạn có rút ra được bài học gì mới cho việc nên thánh của bạn không? Quan niệm về nên thánh của bạn có gì thay đổi không?

Suy tư gợi ý:

1.   Viễn cảnh cánh chung: phân biệt chiên và dê

Bài Tin Mừng cho thấy một viễn cảnh sẽ xảy ra vào ngày cánh chung, nghĩa là vào thời điểm tận cùng của thời gian, cũng là của trần thế này. Ngày ấy, Thiên Chúa sẽ phân mọi người trên trần gian thành hai loại: một bên là những kẻ thật sự tin theo Ngài, bên kia là những kẻ không tin, hay những kẻ tự xưng là tin Ngài bằng lời nói, nhưng qua hành động lại tỏ ra không tin. 

Ðể ám chỉ hai hạng người này, bài Tin Mừng dùng hình ảnh chiên và dê, là hình ảnh mà ngôn sứ Êdêkien đã dùng (x. Ed 34,17-24). Vì chiên và dê là hai loài thú cùng được chăn nuôi chung trong một đồng cỏ, ở chung với nhau trong một ràn. Chỉ đến thời kỳ xén lông thì người ta mới phân rẽ chúng theo loại. 

Dụ ngôn lúa và cỏ lùng (x. Mt 13,24-30) cũng cho thấy hai loại cây cùng sống chung với nhau - không phân biệt được - trên cùng một thửa ruộng. Cả hai cùng lớn lên bên cạnh nhau cho tới mùa gặt, chỉ tới lúc đó chúng mới bị phân rẽ: cỏ lùng thì bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì thu vào kho lẫm (13,30). 

Tương tự, chỉ tới ngày cánh chung, kẻ tin và không tin, kẻ thật sự tin và kẻ có vẻ tin, mới được phân chia và tách biệt. Chúng ta hãy thử tự xét xem, vào ngày đó, mình thuộc loại nào?



2.   Tiêu chuẩn để phân loại

Chỉ có Thiên Chúa, với trí tuệ sáng suốt vô cùng, nhìn thấu suốt tâm can con người, mới có thể xét từng người để xếp họ vào loại nào. Tin Mừng cho ta thấy:

● Ngày ấy, toàn nhân loại chỉ được phân ra thành hai loại: chiên và dê, tượng trưng cho người hiền và người dữ, kẻ tin và không tin Thiên Chúa, chứ không có loại thứ ba.

● Ngày ấy, Thiên Chúa phán xét theo «cái tâm» của mỗi người: «cái tâm» ấy là tâm vị tha hay ích kỷ, «cái tâm» ấy là tâm yêu thương hay tâm ganh ghét, tị hiềm. 

Nếu «cái tâm» đó là tâm yêu thương, vị tha thì nó đã tự nhiên và tự động phát sinh ra những hành động yêu thương. Chỉ những hành động do yêu thương mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Đương nhiên, có những hành động bên ngoài rất tốt đẹp, thậm chí vĩ đại nữa, nhưng không phát xuất từ «cái tâm» yêu thương đó −chẳng hạn như làm để được khen, để đạt được một uy tín để có một địa vị nào đó, v.v...− những hành động này không có giá trị trước mặt Thiên Chúa (x. 1Cr 13,1-3).

● Ngày ấy, Thiên Chúa chỉ phán xét và phân loại dựa theo một tiêu chuẩn duy nhất: cách mỗi người đối xử với tha nhân chung quanh mình có tình thương hay không.

Dường như không có một tiêu chuẩn nào khác: Thiên Chúa không phân biệt ai là giáo hoàng, ai là giám mục, ai là linh mục, ai là giáo dân; không cần biết ai giàu ai nghèo, ai có địa vị ai là thường dân; thậm chí không cần biết ai đi lễ nhiều, ai đọc kinh nhiều, ai lần chuỗi nhiều, ai hành hương nhiều, ai cúng vào nhà thờ nhiều, v.v... 

Ngài chỉ xét có một điều: mỗi người đã làm gì và không làm gì cho tha nhân. Như thế, chính hành động của chúng ta - chứ không phải lời nói hay cái gì khác - quyết định chúng ta thuộc loại này hay loại kia.



3.   Ðó là tiêu chuẩn thực tế để phán xét ai tin và ai không tin

a)  Tin vào Ðức Giêsu là điều kiện để được cứu độ

Trên nguyên tắc, ai tin vào Ðức Giêsu thì sẽ được cứu độ (x. Cv 16,31; Rm 10,9; 10,13), và người ta được nên công chính là nhờ đức tin (x. Rm 1,17; 3,22.26.30; 9,30; 10,4) chứ không phải nhờ việc làm (x. Rm 3,28; 9,32; Gl 2,16; 3,11). Thật vậy, người ta không trở nên công chính nhờ vào việc làm, hay nhờ việc tuân giữ nghiêm chỉnh các điều luật dạy. 

Thật vậy, rất nhiều người có những hành động rất tốt, rất thiện hảo, thậm chí rất vĩ đại, nhưng không phát xuất từ đức tin hay từ tình yêu thương, mà từ một động lực vị kỷ, nhằm lợi lộc cho mình. Nhiều nhà tỉ phú bỏ tiền ra xây bệnh viện, trường học để phục vụ người nghèo với điều kiện là bệnh viện hay trường học đó phải mang tên mình, để mình được lưu danh muôn thuở là người đạo đức, biết yêu thương người nghèo. Hành động bố thí như thế không làm cho người ấy nên công chính, vì không phát xuất từ đức tin hay tình thương.

b)  Ðức tin ấy phải đích thực, được chứng tỏ bằng việc làm

Người ta chỉ trở nên công chính nhờ đức tin. Nhưng đức tin làm cho người ta nên công chính phải là đức tin đích thực: «Quả thế, có tin thật trong lòng mới được nên công chính» (Rm 10,10). Ðức tin đích thực không phải là loại đức tin rẻ tiền, thứ đức tin chỉ được tuyên xưng mạnh mẽ ngoài môi miệng mà không đi vào cuộc sống, không được chứng tỏ bằng việc làm hay hành động. Hàng rẻ tiền thường là hàng giả. 

Ðức tin đích thực phải là thứ đức tin đắt giá, được chứng tỏ bằng hành động, bằng những hy sinh cụ thể theo sự đòi hỏi của đức tin. Ðức tin luôn luôn đòi hỏi một thái độ, một sự lựa chọn thích hợp. Vì không thể vừa tin, mà lại vừa có đời sống trụy lạc, hèn nhát, tham lam, ích kỷ. Thánh Giacôbê xác định: «Ðức tin không việc làm là đức tin chết» (Gc 2,14.17).

c)   Việc làm của đức tin là việc làm gì?

Tin ở đây là tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Giêsu. Mà bản chất của Thiên Chúa chính là Tình Yêu, và Ðức Giêsu chính là hiện thân của Tình Yêu Thiên Chúa giữa nhân loại. Do đó, những ai thật sự tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Giêsu, ắt phải yêu mến Ngài và trở nên giống Ngài, nghĩa là trở nên một hiện thân của tình yêu giữa những người chung quanh, gần gũi với mình nhất, đặc biệt với những người đau khổ, túng thiếu, bị áp bức, bất công, cần lòng thương xót. 

Như vậy, muốn biết ai tin vào Ngài, thì cứ xem cách người ấy cư xử với những người chung quanh, những người gần gũi nhất (vợ con, cha mẹ, anh chị em ruột thịt, bạn bè thân thiết), và những người nghèo khổ cần được cứu giúp. Nếu tin Thiên Chúa đích thực, người ấy ắt sẽ phải cư xử với họ bằng tình thương, cụ thể qua sự hy sinh, chấp nhận mất mát đau khổ vì họ.

Vả lại, những người chung quanh ta, đặc biệt những người đang đau khổ cần được ta nâng đỡ, cứu giúp, chính là hiện thân của Thiên Chúa hay của Ðức Giêsu bên cạnh chúng ta. Ðức Giêsu xác định rõ điều ấy trong bài Tin Mừng hôm nay. Vì thế, yêu Ngài thì ắt nhiên cũng phải yêu những hiện thân của Ngài bên cạnh chúng ta. Do đó, tới ngày phán xét, Ngài chỉ cần dùng một tiêu chuẩn để xét xem chúng ta có tin vào Ngài không, là dựa vào cách cư xử của chúng ta với tha nhân.

Ðể tóm gọn lại cách nên thánh cho chúng ta, Ðức Giêsu nói: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13,34-35). Tóm lại, yêu thương tha nhân chính là tiêu chuẩn để phân biệt giữa môn đệ đích thực của Ðức Giêsu với những người khác, giữa chiên và dê trong ngày phán xét cuối cùng.



CẦU NGUYỆN

Tôi nghe Ðức Giêsu nói với tôi: «Anh tin Thầy và sống đạo của Thầy thế nào, Thầy chỉ cần dựa vào cách anh đối xử với những người chung quanh anh là Thầy biết ngay. Chắc chắn anh không thể tin Thầy đích thực khi anh đối xử với những người chung quanh anh không ra gì. Họ chính là hiện thân của Thầy bên cạnh anh. Anh đối xử với họ thế nào là đối xử với chính Thầy như vậy. Anh yêu họ chính là anh yêu Thầy. Anh làm điều gì cho họ, chính là anh làm điều đó cho Thầy».       


Share:

Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017

TN33b - Cần ý thức trách nhiệm về những thuận lợi của mình




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 33 Thường Niên

(19-11-2017)

Bài đào sâu

Cần ý thức trách nhiệm
về những thuận lợi của mình




  TIN MỪNG: Mt 25,14-30

Dụ ngôn những yến bạc



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Trên đời, kẻ được Thiên Chúa ban cho rất nhiều thuận lợi, kẻ lại bị Ngài cho gặp rất nhiều nghịch cảnh. Vậy Ngài có phải là một Thiên Chúa bất công không? Nếu không bất công thì phải giải thích sự bất bình đẳng này ra sao? 
2.   Người được nhiều thuận lợi có trách nhiệm gì về những thuận lợi của mình không? Trách nhiệm thế nào? 
3.   Thiên Chúa phán xét con người dựa trên những thành quả, mức độ hoàn hảo mà con người đạt được, hay dựa trên mức độ nỗ lực mà con người đã làm để trở nên hoàn hảo hơn?

Suy tư gợi ý:

1.   Trên đời, sự phân phối những điều tốt đẹp không đồng đều

Không ai có thể chối cãi điều này: trên đời, người ta khác nhau về đủ mọi phương diện: tính tình, khuynh hướng, khả năng, quan niệm, tư tưởng, đạo đức, sức khỏe, v.v... Ðúng như cổ nhân nói: «Bá nhân bá tánh», «chín người mười ý». Và ngay trong từng phương diện, người ta cũng khác nhau về mức độ, chẳng ai tuyệt đối bằng ai, y hệt như: «Bàn tay ngón thấp ngón cao». Ðiều đó tạo nên sự phong phú đa dạng trong thế giới con người. 

Trong những lãnh vực khác của thiên nhiên vạn vật cũng có sự đa dạng y như thế. Như vậy, phải chăng Thiên Chúa bất công? Phải chăng những người có tài đức hơn người, có nhiều điều kiện phát triển hơn người, giàu có hơn người, thì được lợi hơn những người khác?



2. Ai nhận được nhiều thì bị đòi hỏi nhiều

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: Thiên Chúa cho ai nhiều, thì Ngài đòi hỏi người ấy nhiều. Ngược lại Ngài cho ai ít, thì lại đòi hỏi người ấy ít. Ðức Giê-su đã từng nói: «Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn» (Lc 12,48b). Người được Thiên Chúa ban nhiều ân huệ mà không làm những ân huệ ấy sinh lợi cho Thiên Chúa, cho bản thân, cho tha nhân, thì ân huệ ấy trở thành án phạt cho mình. Cho nên ân huệ nhiều thì trách nhiệm cũng nhiều. 

Vậy ai nhận được nhiều thì cũng nên lo lắng về trách nhiệm của mình. Còn ai nhận được ít thì cũng nên tự an ủi vì trách nhiệm của mình cũng ít. Như vậy kẻ nhận được nhiều không hẳn đã hay, và kẻ nhận được ít không hẳn đã dở. Mới nghĩ thì thấy Thiên Chúa không công bằng, nhưng nghĩ cho kỹ thì thấy Ngài tuy chủ trương đa dạng, kẻ hơn người kém, nhưng lại rất công bằng.

Những ân huệ ta nhận được cũng như món tiền ta vay của ngân hàng, phải trả tiền lời theo định kỳ, mỗi tháng hoặc mỗi năm. Do đó, vay càng nhiều tiền thì càng phải sinh lợi ra nhiều để có thể trả số lời tương ứng với số tiền mình vay. Giả như lãi suất là 10% một năm (tức 0,83% một tháng), thì trong 10 năm, tiền lời sẽ lên cao bằng tiền vay ban đầu. Nếu vay trong 20 năm, tiền lời thành gấp đôi tiền vay ban đầu. Nếu vay nhiều mà không đủ khả năng sinh lợi ra nhiều, thì sẽ không có tiền để trả lãi, và vay càng lâu thì tiền lời càng cao, nếu không sinh lợi thì càng nguy hiểm. Vì tới kỳ hạn cuối cùng, phải thanh toán cả vốn lẫn lời, nếu không có khả năng trả hết thì có nguy hiểm phải ngồi tù. 

Do đó, nếu không có khả năng làm ăn sinh lợi, thì vay được nhiều không phải là điều tốt đẹp, mà trái lại có thể là nguyên nhân gây ra tai họa. Vay càng nhiều, họa càng lớn. Tương tự như vậy, được Thiên Chúa ban nhiều thuận lợi chớ vội mừng hay tự hào, vì nếu không làm cho chúng sinh lợi thì rất có thể những thuận lợi ấy lại trở thành tai họa.



3. Hãy ý thức trách nhiệm về những thuận lợi mình đang hưởng

Vậy chúng ta hãy tự xét xem chúng ta được Thiên Chúa ban cho những thuận lợi nào: khỏe mạnh, thông minh, được giáo dục tử tế, có văn hóa, nhà giàu có, nhiều tài năng, v.v... Chúng ta thường hãnh diện, tự hào với mọi người về những thuận lợi đó, mà rất ít khi nghĩ đến trách nhiệm vì mình được nhiều thuận lợi hơn những người đó. Thiết tưởng, khi nhiều thuận lợi hơn người, người Kitô hữu phải nghĩ đến trách nhiệm hơn là tự hào về chúng. 

Những thuận lợi đó phải được đem ra làm ích lợi cho Thiên Chúa, cho bản thân, và cho tha nhân. Nếu thuận lợi ta được quá nhiều, mà ích lợi ta làm ra được từ những thuận lợi đó lại quá ít, ắt nhiên ta không thể tránh được hình phạt của Thiên Chúa. 

Ðược quá nhiều thuận lợi mà không sinh lợi cho ai, điều ấy chứng tỏ ta không có tình yêu, và như thế là ta không có Thiên Chúa trong chúng ta. Thật vậy, thánh Gioan viết: «Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?» (1Ga 3,17). Thật vậy, nếu về mặt vật chất mà Thiên Chúa còn đòi buộc chúng ta «ai có hai áo, hãy chia cho người không có; ai có gì ăn, cũng hãy làm như vậy» (Lc 3,11), thì về mặt tinh thần, Ngài còn đòi hỏi chúng ta phải chia sẻ hơn vậy rất nhiều. Vì sự chia sẻ vật chất thì rất giới hạn, còn chia sẻ tinh thần thì ít giới hạn hơn rất nhiều.



4. Ðừng vội tự hào hay kiêu hãnh về những thuận lợi của mình

Vậy khi xét xử, Thiên Chúa không xét theo mức độ đạo đức, theo những thành quả tâm linh mà chúng ta đang có hay đã đạt được, mà xét theo mức độ cố gắng của chúng ta để nên hoàn thiện hơn. Nếu Thiên Chúa ban cho ta 5 yến bạc, mà ta chẳng làm lợi ra được yến nào, nghĩa là ta không phát huy được những thuận lợi của ta, không dùng những thuận lợi ấy để làm ích cho ai, thì ta sẽ không được Ngài kể là công chính bằng một người chỉ được Ngài ban một yến, nhưng đã làm lợi ra được gấp 3, thành 3 yến. Tuy cuối cùng người ấy chỉ có 3 yến, nghĩa là kém ta tới 2 yến, nhưng người ấy được Thiên Chúa coi là công chính hơn ta rất nhiều. Có như thế, Ngài mới là một Thiên Chúa công bằng thật sự.

Vì thế, đừng tưởng ta làm được nhiều việc tốt lành hơn người mà nghĩ rằng ta công chính hơn người. Coi chừng kẻo lầm to. Thánh Phaolô viết: «Ai tưởng mình đang đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12). Vì không thể so sánh thấy kết quả của mình hơn người khác mà kết luận mình công chính hơn họ. Phải so sánh những thành quả mình làm được với những thuận lợi ban đầu Thiên Chúa ban cho, xem đã tương xứng chưa. Thánh Phaolô viết: «Mỗi người hãy xem xét việc làm của chính mình, bấy giờ sẽ có lý do để hãnh diện vì chính mình, chứ không phải vì so sánh với người khác» (Gl 6,4).

Ði vào cụ thể, ta thử so sánh hai người sau đây: Một người sinh ra từ một cha mẹ trộm cướp hay đĩ điếm, không được giáo dục đầy đủ, nhưng anh đã cố gắng hết sức mình để vượt ra khỏi vòng tội lỗi do cha mẹ mình để lại. Anh nỗ lực vươn lên sự thiện suốt cả cuộc đời, và anh đã trở thành một người khá lương thiện. 

Còn người kia được sinh ra từ một cha mẹ đức hạnh, được giáo dục đầy đủ, vì thế, dù anh chẳng cố gắng hay nỗ lực nhiều, anh vẫn được mọi người coi là rất tốt, và nhờ đó có một địa vị khá cao trong xã hội hay Giáo Hội. 

Như vậy, trước mặt người đời, người thứ hai chắc chắn được đánh giá là công chính hơn người thứ nhất. Nhưng rất có thể trước mặt Thiên Chúa, Ngài thấy nỗ lực vươn lên của người thứ nhất lớn hơn gấp nhiều lần nỗ lực của người thứ hai. Như thế chắc chắn phần thưởng Thiên Chúa dành cho người thứ nhất sẽ phải lớn hơn phần thưởng cho người thứ hai.

Quả thật cách phán xét của Thiên Chúa khác hẳn với cách phán đoán của người đời. Ngài đã từng nói với các các thượng tế và kỳ mục trong dân, vốn là những người được dân chúng tôn trọng và cho là đạo đức, rằng: «Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31). Tại sao? Có thể vì những người tội lỗi ấy đã cố gắng vươn lên sự thiện nhiều hơn cả những bậc được coi là đạo đức kia! Nên khi Gioan Tẩy giả và Ðức Giêsu đến, những người bị coi là tội lỗi ấy đã sám hối và tin theo ngay, còn những người kia thì không!



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi con vui mừng vì được Cha ban cho rất nhiều thuận lợi trong đời sống. Và con đã hãnh diện và tự hào với những người kém may mắn hơn con. Qua bài Tin Mừng này, con thấy mình thật dại dột, vì nếu con không dùng những thuận lợi ấy để bù đắp lại cho những người kém may mắn hơn con, thì vào ngày Cha phán xét, chính những thuận lợi ấy lại trở thành những gì gây bất lợi cho con. Xin cho con ý thức được trách nhiệm của con đối với họ.



Share:

TN33a - Đạo đức không chỉ là tránh điều ác.




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 33 Thường Niên

(19-11-2017)

Đạo đức không chỉ là tránh điều ác



ĐỌC LỜI CHÚA

  Cn 31,10-13.19-20.30-31: (10) Tìm đâu ra một người vợ đảm đang? Nàng quý giá vượt xa châu ngọc. (11) Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng, chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc. (12) Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc chứ không gây tai hoạ cho chồng. (20) Nàng rộng tay giúp người nghèo khổ và đưa tay cứu kẻ khốn cùng.

  1Tx 5,1-6: (2) Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm. (3) Khi người ta nói: «Bình an biết bao, yên ổn biết bao!», thì lúc ấy tai hoạ sẽ thình lình ập xuống, tựa cơn đau chuyển bụng đến với người đàn bà có thai, và sẽ chẳng có ai trốn thoát được.

  TIN MỪNG: Mt 25,14-30

Dụ ngôn những yến bạc

(14) Quả thế, cũng như có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. (15) Ông cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi. Lập tức, (16) người đã lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác. (17) Cũng vậy, người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác. (18) Còn người đã lãnh một yến thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ.

(19) Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ. (20) Người đã lãnh năm yến tiến lại gần, đưa năm yến khác, và nói: «Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm yến, tôi đã gây lời được năm yến khác đây». (21) Ông chủ nói với người ấy: «Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!» (22) Người đã lãnh hai yến cũng tiến lại gần và nói: «Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai yến, tôi đã gây lời được hai yến khác đây». (23) Ông chủ nói với người ấy: «Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!» (24) Rồi người đã lãnh một yến cũng tiến lại gần và nói: «Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. (25) Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy!» (26) Ông chủ đáp: «Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, (27) thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! (28) Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. (29) Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. (30) Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng».



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Người có một yến bạc đem chôn giấu đi, có làm điều gì thiệt hại cho ông chủ, hay làm điều gì gian ác đối với ông không? Tại sao người ấy bị phạt? Lý do bị phạt là gì? 
2.   Người chỉ cố gắng tránh điều ác chứ không nỗ lực làm điều thiện, có được gọi là người đạo đức, tốt lành chưa? Quan niệm của Đức Giêsu về vấn đề này thế nào? 
3.   Tài năng Thiên Chúa ban cho ta là để ta hãnh diện với mọi người hay là để ta đem ra phục vụ mọi người? Ta có trách nhiệm gì khi được Thiên Chúa ban cho nhiều ơn huệ hơn mọi người không?


Suy tư gợi ý:

1.   Trách nhiệm đối với những ân huệ Thiên Chúa ban

Dụ ngôn trên nói lên một sự thật đang xảy ra trong thực tế đời sống hằng ngày của ta. Thiên Chúa ban cho chúng ta nhiều ơn huệ khác nhau: sức khỏe, trí khôn, tài giỏi, năng khiếu, thì giờ, nhà cửa, tiền bạc, nghề nghiệp, cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè, v.v… kẻ ít người nhiều, người được ân này kẻ được ân khác. Đó là những yến bạc mà Thiên Chúa ban cho mỗi người cách khác nhau. 

Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là mỗi người đều có trách nhiệm đối với những ân huệ đã nhận được. Chúng ta phải sử dụng ân huệ ấy đúng ý Thiên Chúa, phải dùng những ân huệ ấy để sinh lợi ích cho Ngài, cho tha nhân bên cạnh chúng ta. Người được Ngài ban cho nhiều thì cũng bị Ngài đòi hỏi nhiều, người được ban ít thì bị đòi hỏi ít. Và chúng ta ai nấy đều phải trả lẽ trước mặt Ngài về những ích lợi mình làm ra được từ những ân huệ ấy.

Như vậy, những ân huệ Ngài ban, ta có nhiệm vụ quản lý chúng hơn là làm chủ chúng. Nghĩa là ta không nên sử dụng chúng theo ý riêng ta, mà theo ý của Ngài. Do đó, đừng vội mừng vì được Ngài ban cho nhiều, và cũng đừng vội buồn vì được Ngài ban cho ít. Được ban nhiều thì đòi hỏi cũng nhiều, được ban ít thì đòi hỏi cũng ít. Thế mới công bằng! Dù nhiều hay ít, ai cũng phải sử dụng những ân huệ Ngài ban để tạo ích lợi cho Ngài, cho Giáo Hội Ngài, cho tha nhân.



2.   Quan niệm về đạo đức theo dụ ngôn những yến bạc

Điều chúng ta cần lưu tâm là người được một nén tuy không hề làm điều gì ác, không làm mất mát hay thiệt hại gì cho ông chủ, thế mà bị ông chủ phạt, bị «quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 25,30). Anh ta bị phạt vì đã được chủ giao cho một yến bạc, nhưng không làm lợi ra được thành một yến khác vì đã cất kỹ nó vào một chỗ. 

Suy nghĩ về dụ ngôn này này khiến chúng ta phải thay đổi ít nhiều quan niệm về đạo đức. Chúng ta thường tưởng rằng hễ mình không làm điều gì ác thì mình là người vô tội, công chính. Nhưng không phải thế. Theo tinh thần của dụ ngôn, một khi đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa mà ta lại không dùng ân huệ đó để tạo lợi ích cho Thiên Chúa và tha nhân, thì ta trở thành kẻ có tội, cho dù ta không hề làm một điều gì thất đức cả. Đó là ý nghĩa của cụm từ «những điều thiếu sót» trong kinh Cáo Mình: «Tôi đã phạm tội nhiều, trong tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều thiếu sót». 

Ít ai quan tâm tới tội phạm do thiếu sót. Nhưng rất có thể trong cuộc đời ta, những tội lớn nhất, nhiều nhất của ta và vì đó mà ta bị luận phạt nhiều nhất lại là thứ tội này. Dù là tội gì, thì căn bản của tội vẫn là do thiếu tình yêu.



3. Đạo đức không chỉ là trách điều ác

Cũng vậy, trong bài Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng, những kẻ bị kết án không phải chỉ là những người đã từng làm điều ác, mà còn là biết bao người không hề làm một điều gì ác. Lý do khiến họ bị kết án chính là: «Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng» (Mt 25,42-43). 

Chữ «Ta» trong câu này chính là Đức Giêsu được hiện thân thành tha nhân của ta, nhất là những kẻ nghèo hèn bé mọn. Như vậy, theo Đức Giêsu, người không làm điều gì ác chưa phải là người đạo đức, tốt lành, giống như biết bao Kitô hữu đang quan niệm. Thật vậy, nhiều Kitô hữu, kể cả trí thức, người dạy giáo lý, hễ cảm thấy mình không làm điều ác thì liền nghĩ mình vô tội, thậm chí còn tự hào mình đạo đức nữa.

Nguyên tắc đạo đức chung của con người là «tránh ác, hành thiện». Nếu ta chỉ tránh điều ác nhưng không cố gắng làm điều thiện, thì ta mới thực hiện được một phần rất nhỏ của nguyên tắc ấy thôi. Vì tránh ác thì tương đối dễ, còn hành thiện trong những trường hợp mà lương tâm đòi buộc thì đòi hỏi phải hy sinh, vất vả hơn rất nhiều. 

Tránh ác hay không làm ác thì không cần nhiều khả năng, không phải hy sinh nhiều, vì làm một điều gì đó thì mới cần tới khả năng và hy sinh, chứ không làm thì cần gì khả năng, cvần gì phải hy sinh? Thật vậy, một trẻ nhỏ, một con vật, có khả năng gì đâu, nên chúng có thể không làm điều gì ác cả. Nhưng không thể nói chúng là đạo đức. Như thế, rõ ràng là không bao giờ làm điều ác, chưa thể nói là người đạo đức được.

Thiên Chúa đã ban cho ta mỗi người một số khả năng là để ta làm điều thiện, nhất là để làm theo những đòi hỏi của tình yêu trong lòng ta. Nếu khả năng Thiên Chúa ban cho ta mà ta không chịu dùng để làm những điều ích lợi, thì ta sẽ chịu trách nhiệm trước mặt Ngài. Do đó, nhiều khi ta tưởng mình vô tội, tưởng mình đạo đức khi thấy mình chưa hề nhúng tay làm điều gì ác. Nhưng rất có thể Thiên Chúa vẫn kết án ta là tội lỗi, chỉ vì ta đã không làm những gì mình phải làm. Tuy nhiên, hai người cùng ít làm điều thiện y như nhau, người nào có nhiều khả năng hơn thì tội người ấy lớn hơn.



4.   Càng nhiều khả năng, trách nhiệm càng lớn

Vì thế, người có nhiều khả năng, nhiều điều kiện để làm điều thiện, thì càng phải ý thức trách nhiệm của mình. Thông thường, càng nhiều khả năng, nhiều tài, nhiều của, càng có địa vị cao, chức vụ lớn, càng trí thức, càng giỏi giang, càng được suy tôn, thì ta càng cảm thấy sung sướng và hãnh diện trước mặt người đời, nhất là trước những người kém cỏi hơn mình. Nhưng khi đọc dụ ngôn này, ta càng cảm thấy run sợ trước trách nhiệm của ta. Trong quá khứ, có biết bao trường hợp ta phải ra tay, phải hành động, phải can thiệp, phải cứu giúp, phải lên tiếng bênh vực, phải nói lên sự thật, phải minh oan, phải khuyên can… mà ta đã không làm gì cả, đang khi ta có thể làm những điều ấy tốt hơn và hữu hiệu hơn ai hết. Thậm chí ta có sứ mạng hay trách nhiệm hành động hay can thiệp. Tệ hơn nữa, ta không hề cảm thấy mình có lỗi gì cả, vẫn cứ tự hào mình vô tội, mình đạo đức, và chẳng thấy cần hối hận điều gì. Chỉ vì ta thấy mình không hề làm điều gì gian ác! Dụ ngôn này cho thấy quan niệm như thế là sai lầm!

Điều ngăn trở khiến ta không muốn làm điều thiện, điều cần thiết hoặc ích lợi cho tha nhân, cho xã hội, đó chính là ta thiếu tình yêu. Tình yêu chính là yếu tố thiết yếu nhất của đạo đức, của sự thánh thiện. Chính tình yêu làm ta nên giống Thiên Chúa hơn bất kỳ điều gì khác, vì bản chất của Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8.16). 

Nhưng rất nhiều Kitô hữu lại quan niệm cốt yếu của đạo đức hay thánh thiện là ở một điều gì khác: kẻ thì bảo hệ tại việc giữ luật lệ cho hoàn hảo, người cho rằng hệ tại việc cầu nguyện cho nhiều, kẻ khác cho rằng hệ tại việc thực hành chăm chỉ các nghi thức tôn giáo, kẻ khác nữa cho rằng hệ tại làm điều tốt này việc tốt kia… Thật ra, tất cả những chuyện ấy đều tốt, nhưng chúng chỉ là phương tiện để giúp ta hình thành hay củng cố tình yêu trong lòng ta. Nếu chúng không nhắm hay không đạt được mục đích ấy thì chúng đều trở thành vô ích. Thánh Phaolô xác định điều ấy: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,3)



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con được Cha ban cho biết bao ơn huệ, thậm chí hơn rất nhiều người. Thế mà con chỉ biết cám ơn Cha, ca tụng tình yêu thương của Cha, chứ không hề nghĩ đến trách nhiệm phải sử dụng những ơn huệ ấy để làm ích lợi cho Cha, cho Giáo Hội, cho xã hội và tha nhân chung quanh con. Biết bao lần lương tâm và tình yêu trong con đòi buộc con phải ra tay cứu giúp, bênh vực, minh oan cho người khác, nhưng con đã không làm. Xin giúp con nhận ra đó là tội lỗi. Con chưa hề có ý thức tội lỗi về những việc phải làm mà không làm. Xin tha thứ cho con. Con cảm thấy cần phải sám hối và thay đổi lại quan niệm của con.



Share:

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

TN32b - Hai thứ đức tin, hai thứ tình yêu




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên

(12-11-2017)

Bài đào sâu

Hai thứ đức tin, hai thứ tình yêu



  TIN MỪNG: Mt 25, 1-13

Dụ ngôn mười trinh nữ


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Chúng ta là những người đang lữ hành tiến về Quê Trời, nhưng có bao giờ chúng ta đặt vấn đề về điều kiện không có không được để về được Quê Trời là gì không? Nếu không có điều kiện cần thiết ấy thì việc lữ hành vất vả của ta có ích lợi gì không? Vấn đề quan trọng như thế tại sao ta lại không quan tâm? 
2.   Nếu Thiên Chúa cho cả những người không có tình yêu, vẫn còn ích kỷ, ghen ghét, hận thù. vào Thiên Ðàng, thì Thiên Ðàng ấy có hạnh phúc được không? Thiên đàng ấy có khác gì trần gian không? 
3.   Ðức tin hay tình yêu là vé để vào Nước Trời. Nhưng thứ đức tin không việc làm, chỉ được tuyên xưng ngoài miệng, thứ tình yêu không cụ thể, chỉ nói ngoài môi miệng, có thể dùng làm vé vào Nước Trời được không? Tại sao?


Suy tư gợi ý:

1.   Mô tả lại dụ ngôn

Theo phong tục của các dân tộc, khi cô dâu về nhà chồng, cô thường kêu thêm những cô gái đồng trang lứa làm phù dâu, để cùng tiễn đưa cô về nhà chồng cho có bạn. Theo phong tục Do Thái, những cô phù dâu này ngoài việc trang điểm và mặc quần áo đẹp còn phải mang theo đèn, vì chàng rể thường đến đón dâu vào buổi tối, là đầu ngày (ngày của Do Thái bắt đầu từ 6 giờ tối). Các cô phù dâu sẽ cùng cô dâu đi về nhà chồng để dự tiệc cưới. Khi chàng rể đến, các cô sẽ cầm đèn thắp sáng trong suốt hành trình đi đến chỗ dự tiệc. Vì thế, đúng ra các cô hễ đã mang đèn thì phải lo liệu mang dầu đi. 

Khi nghe báo tin chàng rể đến, mấy cô không đem theo dầu mới khám phá ra đèn mình không có dầu, và phải ra tiệm mua dầu. Trong khi các cô ra đi thì chàng rể đến, năm cô đã sẵn sàng theo chú rể đi dự tiệc cưới. Khi các cô kia mua dầu về thì đã quá trễ. Các cô tới chỗ dự tiệc thì cửa đã đóng, không vào được nữa. 

Sự thường mà nói, mấy cô này quả thật là khờ dại: chỉ vì không biết lo liệu mà lỡ chuyện của mình. Công trang điểm, mặc quần áo đẹp, chờ đợi, trở thành công cốc!



2.   Ý nghĩa dụ ngôn

Dụ ngôn trên là một minh họa nói về những người đang thực hiện một mục đích nào đó, nhưng không hề ý thức về những gì mà mục đích ấy đòi hỏi, nên cuối cùng trở thành «sôi hỏng bỏng không», «nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì». Dụ ngôn trên có khác gì chuyện một học sinh chuẩn bị đi thi mà không hề nghĩ tới chuyện phải chăm lo học hành, nên khi vào phòng thi chẳng có một kiến thức nào trong bụng. Hay như một người chuẩn bị nấu cơm mà không hề nghĩ đến chuyện phải có gạo mới nấu được, chỉ biết lo tìm củi lửa, nồi nấu, để rồi tới lúc phải nấu thì chẳng có gạo để nấu. Hay như người sắp lên máy bay để đi du hành mới khám phá ra mình quên mua vé. Dụ ngôn hay các minh họa trên có thể áp dụng cho việc nên thánh hay cho cuộc lữ hành về Nước Trời của chúng ta.

Rất nhiều Kitô hữu lúc nào cũng ngưỡng vọng về hạnh phúc đời sau, và thường cầu xin cho mình được «ái mộ những sự trên trời» (Kinh Môi Khôi). Họ khá ý thức rằng mình đang trên đường lữ hành về Quê Trời. Nhưng trong số những Kitô hữu ấy có được bao nhiêu người tự hỏi xem những điều kiện cốt yếu nhất để vào Nước Trời là gì, để rồi thực hiện cho bằng được những điều kiện ấy, hầu chắc chắn đạt được mục đích mình nhắm tới? 

Vì quả thật, có biết bao Kitô hữu đang cố gắng thực hiện đủ mọi thứ chuyện chẳng đâu vào đâu hầu vào được Nước Trời, mà chuyện cốt yếu nhất để có thể vào đấy thì lại chẳng làm! Họ có thể là những Kitô hữu được tiếng là đạo đức, vì họ ngày nào cũng đi dự thánh lễ, sáng tối nào cũng đọc kinh cầu nguyện, hội đoàn nào cũng tham gia, thậm chí họ bỏ cả bổn phận chính yếu nhất của mình để thực hiện những điều ấy! 

Vì thế, rất có thể vào ngày phán xét họ sẽ bật ngửa vì ngạc nhiên khi nghe Chúa phán: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,23). Ðể tránh tình trạng đáng tiếc này xảy ra cho mình, chúng ta cần phải nắm thật vững những điều kiện cốt yếu không thể thiếu để vào Nước Trời là gì.



3.  Nước Trời là một nơi hoàn toàn hạnh phúc chỉ dành cho những người biết yêu thương, sống vị tha

Nước Trời hay Thiên Ðàng được định nghĩa là một tình trạng vĩnh cửu, hoàn toàn hạnh phúc, một nơi không còn đau khổ, được dành cho những người biết thật sự yêu thương: yêu Chúa thương người

Ðịnh nghĩa ấy rất hợp lý. Ðể hiểu sâu xa điều ấy, ta thử đặt vấn đề: khi về nơi lý tưởng ấy, liệu người ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với những người ích kỷ, không biết yêu thương không? Nếu những người trên thiên đàng vẫn còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì họ có thể hoàn toàn hạnh phúc và làm cho những người chung quanh họ cũng hoàn toàn hạnh phúc cho đến đời đời, không hề gây ra một chút đau khổ nào không? 

Chưa hoàn hảo, chưa đủ khả năng yêu thương mà đã vào Thiên Ðàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền - không vương chút đau khổ - của Thiên Ðàng rồi, và biến Thiên Ðàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Ðàng nữa. Do đó, Thiên Ðàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn vị tha, tràn đầy tình thương, sẵn sàng hy sinh cho tha nhân. Nếu còn chút gì là ích kỷ, ghen ghét, hận thù, thì chưa thể vào được, và cần phải được thanh luyện ở luyện ngục cho đến khi nào trở nên hoàn toàn vị tha, tràn đầy tình yêu thương với mọi người mới vào được Nước Trời.



3.   Ðức tin đắt giá và đức tin rẻ tiền

Theo Kinh Thánh, để vào được Nước Trời thì phải là người công chính. Mà người công chính là người có đức tin, vì «người ta được trở nên công chính nhờ đức tin» (Rm 3,22); «Ápraham đã tin Thiên Chúa, và vì thế được kể là người công chính» (4,3). Chúng ta, những Kitô hữu, đều được coi là đã tin vào Thiên Chúa, vậy có phải chúng ta đều là những người công chính không? Thưa không chắc, vì có hai loại đức tin. Theo thánh Giacôbê thì đó là đức tin có việc làmđức tin không việc làm. Còn theo nhà thần học D. Bonhoeffer, thì đó là đức tin đắt giáđức tin rẻ tiền.

Ðức tin đắt giá là đức tin được chứng tỏ bằng hành động, là đức tin có việc làm. Ðây mới chính là đức tin đích thực, mới làm cho người ta nên công chính. Gọi là đắt giá là vì để có được đức tin ấy, người ta phải trả một giá rất đắt là sự hy sinh bản thân, chấp nhận mất mát, không chỉ thời giờ, của cải hay những thứ ngoài mình, mà thậm chí cả mạng sống, hay bản thân mình nữa. 

Còn đức tin rẻ tiền là đức tin không phải trả giá bằng hành động, bằng việc làm, bằng sự hy sinh. Ðó là thứ đức tin chỉ được tuyên xưng ngoài miệng, có thể được tuyên xưng hết sức mạnh mẽ, có vẻ như đầy xác tín, nhưng lại không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể. Thánh Giacôbê nói về hai loại đức tin này như sau: «Có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Ðức tin có thể cứu người ấy được chăng? Ðức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,14.17). «Ðức tin không có hành động là đức tin vô dụng» (2,20).

Ðức tin đích thực phải được thể hiện thành tình yêu, thành những hành động yêu thương. Ngay cả tình yêu cũng có hai loại: tình yêu đắt giátình yêu rẻ tiền, nói cách khác: tình yêu có việc làm và tình yêu ngoài môi miệng. Thánh Giacôbê cũng nói về thứ tình yêu đãi bôi: «Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?» (Gc 2,15-16). Nhiều người thấy kẻ khác khốn khổ thì hết sức mủi lòng, thậm chí phát khóc, nhưng cuối cùng chẳng có một quyết định hay hành động nào cứu giúp người ấy. Tình cảm ấy, sự xúc động hay mủi lòng ấy không phải là tình thương.

Tóm lại, để vào được Nước Trời, chúng ta cần tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Giêsu Kitô, nhưng phải tin bằng thứ đức tin đích thực, được chứng tỏ bằng việc làm, tức thứ đức tin đắt giá. Mà hễ đã là đức tin đích thực, tất nhiên nó sẽ phải được thể hiện thành tình yêu thương thật sự, bằng những hành động yêu thương cụ thể. Chính vì thế, tới ngày phán xét cuối cùng, Thiên Chúa chỉ phán xét về tình yêu đích thực của ta đối với tha nhân mà thôi (x. Mt 25,31-46). Vì tình yêu đích thực hay tình yêu được trả giá đắt đó chứng tỏ một đức tin đích thực. Không ai có thể thật sự tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Giêsu mà lại sống không có tình thương. Tại sao? vì kẻ tin Ngài thì ắt phải giống như Ngài, mà Ngài, tự bản chất, chính là tình yêu (x. 1Ga 4,8.16a).

Vậy cái vé cần thiết đến mức không có không được để vào Nước Trời chính là tình yêu đích thực. Không có tình yêu đích thực, chúng ta đừng mong vào được Nước Trời. Ðó chính là đèn có dầu để chúng ta - những cô phù dâu - thắp sáng lên khi đón chàng rể - là Ðức Kitô - vào tiệc cưới Nước Trời.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha chính là Tình Yêu. Vì thế, để kết hiệp với Cha, con cũng phải là tình yêu, phải là hiện thân của tình yêu, đặc biệt giữa những người sống chung quanh con. Nếu con không thể hiệp nhất với họ bằng tình yêu, làm sao con có thể hiệp nhất với Cha được? Nếu những người cùng bản chất với con mà con không hiệp nhất với họ được, làm sao con có thể hiệp nhất với Cha được? Xin Cha hãy tăng cường tình yêu nơi con, để con hiệp nhất được với mọi người. Amen.      


Share:

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

TN32a - Phải biết chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên

(12-11-2017)

Phải biết chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu



ĐỌC LỜI CHÚA

  Kn 6,12-16: (12) Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan cho gặp. (16) Những ai xứng đáng với Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan rảo quanh tìm kiếm. Trên các nẻo đường họ đi, Đức Khôn Ngoan niềm nở xuất hiện. Mỗi khi họ suy tưởng điều gì, Đức Khôn Ngoan đều đến với họ

  1 Tx 4,13-18: (14) Nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu.

  TIN MỪNG: Mt 25, 1-13

Dụ ngôn mười trinh nữ

(1) Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. (2) Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. (3) Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. (4) Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. (5) Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. (6) Nửa đêm, có tiếng la lên: «Chú rể kia rồi, ra đón đi!» (7) Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. (8) Các cô dại nói với các cô khôn rằng: «Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!» (9) Các cô khôn đáp: «Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn». (10) Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. (11) Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: «Thưa Ngài, thưa Ngài! mở cửa cho chúng tôi với!» (12) Nhưng Người đáp: «Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!» (13) Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Mấy cô phụ dâu nếu quên không đem dầu đi thì nên làm gì khi chàng rể chưa tới? Họ đã làm gì? Hậu quả thế nào? Ta có thể rút ra bài học gì? 
2.   Có việc gì trên đời muốn thành công mà không cần phải chuẩn bị không? Việc quan trọng nhất trong cuộc đời ta là gì? Nếu ta không chuẩn bị, chờ «nước đến chân mới nhảy» thì có thành công được không? Hậu quả thế nào? 
3.   Dầu để đốt đèn trong dụ ngôn trên ám chỉ điều gì đối với việc chuẩn bị cho sự sống đời đời? Có cần xác định điều quan trọng nhất mà ta phải chuẩn bị cho cuộc sống đời đời mai hậu là gì không? Nếu không xác định được điều ấy thì sao? Tai hại thế nào?


Suy tư gợi ý:

1.   Phong tục rước dâu trong xã hội Do Thái xưa

Trong đám cưới, phong tục của người Do Thái xưa là bên đằng trai, gồm chàng rể cùng bà con, bạn bè của chàng cùng đến nhà cô dâu để xin rước nàng về nhà mình. Cùng đi với cô dâu về nhà chàng rể, có một số cô phụ dâu. Việc rước dâu thường tổ chức vào ban tối. Theo cách tính ngày của người Do Thái, ngày mới bắt đầu tính từ 6g00 chiều, khi mặt trời đã lặn. Nên việc rước dâu được tổ chức vào đầu một ngày mới, tượng trưng sự khởi đầu một cuộc đời mới. Vì là ban tối, nên theo nghi thức, các cô phụ dâu ngoài trang phục thật đẹp, mỗi người còn phải mang theo một cây đèn đốt bằng dầu cho thêm phần trang trọng. Khi phải mang đèn đi như thế, các cô phụ dâu phải mang theo dầu để đốt đèn, và thường thì mỗi người chỉ mang đủ dầu cho mình thôi.

Đúng ra, cô nào không mang dầu theo thì nên tranh thủ đi mua dầu trong khi chờ đợi chàng rể đến. Nhưng các cô lại không nghĩ đến chuyện ấy. Họ cứ ngủ một cách vô tư. Khi chàng rể đến, phải đốt đèn lên, lúc ấy năm cô khờ dại mới nhận ra đèn của mình không có dầu. Những cô kia chỉ đủ dầu cho bản thân thôi, nên không thể chia sẻ được. Những cô khờ dại bấy giờ mới nghĩ đến chuyện mua dầu. Đúng là «nước đến chân mới nhảy»! Khi mua dầu về thì chàng rể đã đến. Nghi thức rước dâu đã bắt đầu. Những cô phụ dâu đến trễ không thể nhập cuộc được, vì như thế sẽ làm cho nghi thức rước dâu nên lộn xộn, mất trang nghiêm, một điều tối kỵ trong nghi thức đám cưới. Thế là mấy cô khờ dại bị lỡ cơ hội tham dự tiệc cưới phải buồn bã ra về. Tất cả đều do không biết chuẩn bị hay lo liệu trước.

Đức Giêsu cũng như bao người Do Thái khác đã chứng kiến những cảnh như thế xảy ra trong các đám cưới. Vì thế, Ngài đã dùng hình ảnh này để cảnh báo những người không biết chuẩn bị cho ngày giờ Thiên Chúa đến. Nếu không chuẩn bị trước những gì cần thiết cho ngày vô cùng quan trọng ấy, thì họ sẽ bị lỡ cơ hội duy nhất cho hạnh phúc vĩnh cửu của họ. Sự mất mát vô cùng to lớn này không bao giờ bù đắp hay lấy lại được!



2.   Muốn thành công, phải biết lo xa và chuẩn bị

Phàm việc gì muốn thành công cũng phải biết chuẩn bị, lo liệu trước. Một học sinh giỏi và thành công trong học vấn phải là một học sinh biết lo lắng sắp xếp giờ học, không thể cứ chơi đùa đợi gần đến kỳ thi mới bắt đầu lo học. Lúc đó mới lo học thì không kịp và điểm thi ắt phải kém. Một nhà doanh nghiệp giỏi luôn biết nhìn xa tính trước, chuẩn bị trước mọi chuyện. Người kinh doanh áo lạnh để bán vào mùa đông thì ngay mùa hè đã phải sản xuất áo lạnh, cho dù chẳng ai mặc áo lạnh vào lúc đó. Người trồng lúa phải biết để dành giống lúa tốt từ vụ mùa trước cho vụ mùa sau. 

Nói chung, trong biết cứ ngành nghề hay công việc nào, không biết lo xa, tính trước thì rất khó thành công. Người khôn ngoan không bao giờ bỏ lỡ những cơ hội tốt, nhất là những cơ hội lớn và hiếm có trong đời. Muốn thế, họ phải luôn luôn chuẩn bị để khi thời cơ đến là chụp bắt ngay. Những việc nhỏ đem lại lợi ích hữu hạn mà còn phải chuẩn bị, huống gì những việc lớn lao. Việc lớn lao nhất của hiện hữu con người là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau, lẽ nào người khôn lại thờ ơ không chuẩn bị cho nó. Đợi đến lúc chết mới chuẩn bị thì làm sao mà kịp?!



3. Đời sau có thể đến với ta rất bất ngờ, không ai biết trước được 

Nếu đời sau đến với ta vào một thời điểm nhất định mà ta biết trước thì chắc chắn ta sẽ dành ra một vài năm trước đó để chuẩn bị cho thật chu đáo. Nhưng khốn thay ta không thể biết trước nó đến vào ngày giờ nào. Có thể 20, 30, hay 50 năm nữa, mà cũng có thể năm sau, tháng sau, tuần sau, hay chốc lát nữa. Cái chết có thể đến rất bất ngờ, nhiều khi không một dấu hiệu báo trước. 

Cách đây một hai năm, những người chết ở Nam Dương vì nạn sóng thần, tại Trung Tâm Thương Mại Sàigòn vì bị cháy, ở New York trong hai tòa nhà chọc trời vì bị khủng bố… trước khi tai nạn xảy ra một giờ, đâu ai ngờ được chỉ một giờ sau là mình đã hóa thành người thiên cổ! Những kinh nghiệm đó cho ta thấy: không ai dám quả quyết chắc chắn 100% rằng giờ sau hay ngày mai mình vẫn còn sống. Chỉ một làn gió, một tai nạn bất ngờ, một vụ đụng xe, có thể đưa ta về bên kia thế giới! (x. Tv 103,15-16). Biết bao người đã về bên kia thế giới vì những lý do rất đơn giản ấy. 

Hãy tự hỏi giả như giờ sau ta chết, thì số phận vĩnh cửu của ta sẽ ra sao? Ta đã chuẩn bị tình huống ấy chưa? Nếu vì quá lo toan những chuyện nhỏ nhặt, chóng qua của cuộc đời tạm gửi này nên ta chưa chuẩn bị khiến ta bị lỡ mất cơ hội lớn nhất, duy nhất, vô cùng quan trọng và cần thiết ấy, thì sao? Ta dại hay khôn?



4. Hãy đặt lên bàn cân…

Đức Giêsu nói: «Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì?» (Mt 16,26). Hãy thử đặt linh hồn của mình lên một dĩa cân, và đặt trên dĩa bên kia tất cả những gì ta đang mong muốn có được, đang cố gắng đạt cho bằng được, bên nào nặng hơn? Lý trí của ta phán định bên nào nặng hơn? Ta phải chọn bên nào? Phải thú nhận rằng rất nhiều khi ta sẵn sàng chọn bên kém giá trị hơn và hy sinh bên nhiều giá trị hơn, thậm chí nhiều hơn gấp bội lần. Đôi khi đó lại chính là thái độ của ta suốt cuộc đời! Quả là dại dột!

Đức tin cho ta biết: linh hồn hay sự sống vĩnh cửu của ta giá trị gấp hàng triệu lần tất cả những gì chóng qua ta có thể đạt được ở trần gian. Hạnh phúc vĩnh cửu thì kéo dài vô tận, còn những gì thỏa mãn danh, lợi, thú của ta thì rất tạm thời, chỉ hưởng được một thời gian. Nếu tổng số những hạnh phúc chóng qua này ta định giá trị là một triệu, thì hạnh phúc vĩnh cửu phải giá trị bằng hàng tỷ trở lên. Vì một đằng hữu hạn, một đằng vô hạn. 

Có ai dại dột đến nỗi chỉ quan tâm đến thứ đáng giá có một triệu mà không thèm ngó ngàng đến thứ đáng giá cả hàng tỷ nằm trong tầm tay mình không? Người ta thường nói «bỏ con sin sít, bắt con cá rô», lẽ nào ta lại «bỏ con cá rô để bắt con sin sít»? Nhiều khi ta rất tinh khôn trong những chuyện chóng qua ở đời này, nhưng lại hành xử thật ngu muội trong chuyện đại sự nhất, chuyện lâu dài nhất của đời ta.



5. Chất dầu để đốt trong dụ ngôn ám chỉ điều gì?

Cuộc đời ta hiện nay giống như những cô phụ dâu trong dụ ngôn trên đang chờ đợi chàng rể đến. Nếu không có dầu hay không đủ dầu để đốt khi chàng rể đến thì phải lo đi mua dầu sớm chừng nào có thể, để khi chàng rể đến, có thể rất bất ngờ, thì có dầu mà đốt. Nếu không như vậy, mình sẽ phải bỏ lỡ tiệc cưới.

Dầu ở đây tượng trưng cho cái gì đối với sự sống đời đời? Kinh Thánh cho ta biết điều cần thiết nhất để một người có thể hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Thiên Chúa, để kết hợp với Thiên Chúa, đó là tình yêu. Vì không thể kết hợp hay sống bên «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16), nếu ta không có tình yêu, không là tình yêu như bản chất của Ngài. Không có tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân, ta không thể vào Nước Trời, hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Thiên Chúa. 

Rất nhiều Kitô hữu không lo chuẩn bị điều cần thiết này mà cứ lo những thứ phụ thuộc khác mà họ tưởng là cần thiết! Họ giống như người muốn trồng lúa mà cứ lo đi mua phân bón, mua thuốc diệt cỏ, lo dẫn nước vào ruộng, mà không nghĩ gì đến hạt giống! Những thứ kia tuy rất cần thiết, nhưng chưa phải là chuyện quan trọng nhất! Muốn trồng lúa, điều tối quan trọng là phải có hạt giống. Cũng vậy, muốn vào Nước Trời, điều tối quan trọng là phải có tình yêu chân thực! Thật thế, thánh Phaolô viết: «Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến» (1Cr 13,13).



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, rất nhiều khi con thật dại dột. Điều quan trọng và cần thiết nhất đời con, con lại không quan tâm tới bao nhiêu, mà cứ tập trung năng lực vào những điều không đáng! Điều có giá trị vĩnh cửu thì con coi thường, nhưng lại coi trọng những giá trị tạm thời, chóng qua. Vì thế, con đã không quan tâm chuẩn bị cho việc quan trọng nhất ấy! Chỉ đến khi bị mất nó vĩnh viễn, con mới biết mình vô cùng dại dột. Xin ban cho con sự khôn ngoan để biết điều nào quan trọng nhất để con dành thì giờ và năng lực tương xứng hầu chuẩn bị cho nó.



Share: