Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2019

BaNgoib - Ba Ngôi, mẫu gương yêu thương, hiệp nhất trong khác biệt và đa dạng




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi

(16-6-2019)


Ba Ngôi, mẫu gương yêu thương, hiệp nhất 
trong khác biệt và đa dạng


  TIN MỪNG: Ga 16,12-15

Khi Thần Khí sự thật đến


Câu hỏi gợi ý:
1. Có phải tất cả những gì có thể nói về Thiên Chúa đều đã được mạc khải qua Đức Giêsu Kitô, và không còn gì để nói về Thiên Chúa ngoài những mạc khải ấy?

2. Theo Đức Kitô, «Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn» (Ga 16,13). Thần Khí sự thật đã đến chưa, và Ngài đã mạc khải sự thật về Thiên Chúa như thế nào?

3. Có thể có nhiều cách nhìn khác nhau về Thiên Chúa không? Các cách nhìn ấy có thể mỗi cách đều có giá trị riêng của nó không? Tại sao?

4. Ba Ngôi Thiên Chúa có khác biệt nhau không? Sự khác biệt ấy làm cho Ba Ngôi hợp nhất hay chia rẽ? Sự khác biệt giữa mọi loài, mọi vật, mọi tôn giáo trên thế giới, có nằm trong ý muốn của Thiên Chúa không?

Suy tư gợi ý:

1.  Còn nhiều điều phải nói về Thiên Chúa hơn những điều đã nói ra

Đức Giêsu đến thế gian để mạc khải cho con người biết về Thiên Chúa, nhưng đời Ngài quá ngắn ngủi (33 năm), mà trong đó Ngài chỉ dành một phần thời gian rất nhỏ (3 năm) để giảng dạy. Làm sao Ngài có thể nói hết về Thiên Chúa, Đấng vô cùng vô tận? 

Thế giới này là hữu hạn, thế mà con người nghiên cứu hết đời này đến đời khác, thế kỷ này đến thế kỷ khác, và đã có hàng tỷ cuốn sách viết ra về thế giới, thế mà vẫn không hết. Con người lúc nào, thời nào cũng vẫn khám phá ra cái mới về thế giới, vũ trụ. Thế giới hữu hạn mà còn vậy, Thiên Chúa là Đấng vô hạn, lẽ nào Đức Giêsu lại chỉ cần nói trong 3 năm mà hết được? 

Giả như Đức Giêsu có dành ra 100 hay 1000 năm để nói về Thiên Chúa, thì cũng không nói hết được, vì Ngài là Đấng vô biên và phong phú khôn lường! Vì thế, trước khi từ giã các môn đệ để về cùng Chúa Cha, Ngài nói: «Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi» (Ga 16,12). Nghĩa là về Thiên Chúa thì còn nhiều điều phải nói lắm, nhưng có nói thêm thì các tông đồ lúc ấy chẳng lãnh hội được!

«Không có sức chịu nổi» (Ga 16,12)chân lý về Thiên Chúa thì quá cao siêu, mà khả năng hiểu biết của con người thì quá hạn hẹp, nông cạn, làm sao trong một thời gian quá ngắn con người hiểu biết được. Những môn học dành cho cấp 3, thì học sinh cấp 2 không thể lãnh hội được. Cũng vậy, Đức Giêsu không thể nói cho các môn đệ những điều về Thiên Chúa vượt quá khả năng lãnh hội của họ lúc đó được, vì nói mà họ không hiểu thì vô ích. Ngài chỉ nói trong khả năng lãnh hội hạn hẹp của họ mà thôi. Phải chờ trình độ hiểu biết, suy tư và tâm linh của họ cao hơn, thì mới có thể nói những điều cao siêu, khó hiểu hơn.

Vì thế, chúng ta đừng quá ảo tưởng về những điều đã được mạc khải qua Đức Giêsu, cho đó là trọn vẹn, là gồm đầy đủ tất cả những gì có thể nói về Thiên Chúa. Chẳng lẽ Thiên Chúa của chúng ta lại quá hữu hạn như thế sao?



2.  Thần Khí sự thật sẽ tiếp tục mạc khải

Con người có nhu cầu hiểu biết về Thiên Chúa. Vì thế, việc mạc khải về Thiên Chúa vẫn được tiếp tục mạc khải qua lịch sử con người bởi Thánh Thần, như Đức Giêsu đã hứa: «Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn» (Ga 16,13). Thánh Thần đã hiện xuống trên các tông đồ ngày lễ Ngũ Tuần, nhưng Ngài không nói gì cả. Và chắc chắn trong suốt chiều dài lịch sử con người, Ngài còn xuống trên rất nhiều người khác nữa, thuộc tất cả mọi thời đại

Cách mạc khải của Thánh Thần không phải theo kiểu của Đức Giêsu: nhập thể thành một người để nói với một số người. Mà theo kiểu ngôn sứ Giôen đã báo trước: «Thiên Chúa phán: "Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm, con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, thanh niên sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ được báo mộng. Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ Thần Khí Ta, cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ"» (Cv 2,17-18; xem Ge 3,1-2).

Nếu tất cả những gì Đức Giêsu nói không phải là tất cả những gì có thể nói được về Thiên Chúa vô hạn, thì chắc chắn còn nhiều điều được mạc khải về Thiên Chúa là do Thánh Thần của Ngài, ngoài những gì Đức Giêsu đã nói. Theo ngôn sứ Giôen được Phêrô nhắc lại trong sách Công vụ tông đồ, thì trong lịch sử con người, Thần Khí đã được đổ xuống trên rất nhiều người, để họ nói lên những chân lý về Thiên Chúa, và đó chính là mạc khải của Thánh Thần. Những mạc khải ấy ở đâu? là gì? Đó là điều chúng ta cần suy nghĩ, và rất có thể nhờ đó, ta thấy được chỗ đứng của các tôn giáo trong chương trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa.

Vì khi Ngài là chủ tể điều khiển lịch sử, thì việc xuất hiện các tôn giáo lớn trên thế giới không thể là ngoài thánh ý của Ngài. Nhất là khi Ngài lại để cho các tôn giáo ấy xuất hiện và phát triển trước Kitô giáo. Chẳng hạn tại châu Á, đang khi các tôn giáo khác xuất hiện từ những thế kỷ đầu công nguyên, thì mãi đến thế kỷ 15, Thiên Chúa mới cho Kitô giáo được truyền bá một cách có qui mô tại châu Á

Tại sao Thiên Chúa lại để Kitô giáo đến trễ như vậy? Ngài có muốn Kitô giáo cạnh tranh với các tôn giáo khác không? - Chúng ta phải nhận ra ý muốn của Ngài qua việc Ngài đã làm trong lịch sử, chứ không phải là đoán ý của Ngài qua sự mong muốn của chúng ta! Trời cao hơn đất bao nhiêu thì thánh ý Ngài cao hơn ý chúng ta như vậy! (xem Is 55,8-9)



3.  Muôn loài vạn vật đều đa dạng và đa diện

Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn loài vạn vật đa hình đa dạng, và vật nào cũng đều đa diện. Vật nào cũng đều có thể có nhiều cách nhìn khác nhau, do nhiều người khác nhau nhìn từ nhiều vị trí khác nhau. Cùng một vấn đề, nhưng người nhìn thấy thế này, kẻ nhìn thế khác: một bác sĩ khó có thể có cùng một cách nhìn với một kỹ sư, và lại càng khác xa cách nhìn của một bác nông dân. Chẳng ai dám kết luận là cách nhìn này đúng, cách nhìn kia sai, mà chỉ có thể kết luận rằng chúng khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. 

Thiên Chúa vẫn luôn luôn thích có sự đa dạng trong vũ trụ. Chẳng hạn đối với loài hoa, Ngài đã dựng nên hàng triệu loại khác nhau, trong đó mỗi loại đẹp mỗi vẻ. Chắc chắn Ngài và bất kỳ ai trong chúng ta, chẳng ai muốn dẹp đi mọi loại hoa, chỉ để tồn tại một loài mà ta nghĩ là đẹp nhất mà thôi. Như thế, thế giới này sẽ bớt phong phú, sẽ trở nên buồn tẻ hơn. 

Cũng thế, chắc hẳn Ngài cũng không thích trên thế giới này chỉ tồn tại một cách nhìn duy nhất về Ngài, một cách thờ phượng duy nhất dành cho Ngài theo kiểu một tôn giáo nào đó, vì như thế, thế giới sẽ trở nên đơn điệu, buồn tẻ. Chính vì thế, Ngài đã cho lập nên nhiều tôn giáo, nhiều ý thức hệ khác nhau, không phải để nhân loại chia rẽ nhau, mâu thuẫn nhau, mà để bổ túc cho nhau.

Thiên Chúa muốn người ta hợp tác với nhau, yêu thương nhau, chấp nhận sự khác biệt của nhau, hơn cả sự hoàn hảo cá nhân của họ. Chính vì thế, Ngài đã không dựng nên những con người hoàn hảo, có khả năng tự độc lập. Mà Ngài đã dựng nên những con người không hoàn hảo: người được mặt này mất mặt kia, kẻ được mặt kia nhưng lại mất mặt này, để con người cần lẫn nhau, nương nhau mà tồn tại, hầu nhờ đó họ cộng tác với nhau, yêu thương nhau. Cũng như người nam và người nữ nhờ khác nhau, nhờ không hoàn hảo (người được mặt này kẻ được mặt kia), mà họ yêu thương và kết hợp với nhau thành vợ chồng.



4.  Hãy bắt chước Ba Ngôi Thiên Chúa của chúng ta

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa Ba Ngôi: Ba Ngôi khác biệt nhau, mỗi Ngôi một vẻ. Nhờ vậy, Ba Ngôi yêu thương nhau, hợp với nhau thành một Thiên Chúa duy nhất. Ba Ngôi tuy khác biệt nhau, nhưng lại chấp nhận nhau, cần lẫn nhau, hợp tác với nhau, yêu thương nhau, sống chung hòa bình với nhau. Ba Ngôi không bao giờ muốn tiêu diệt nhau để chỉ còn một Ngôi tồn tại. Ba Ngôi đều bằng nhau, tôn trọng nhau, tôn trọng cả sự bình đẳng giữa nhau, không Ngôi nào muốn vượt trội hơn để thống trị Hai Ngôi kia.

Mọi người, mọi gia đình, mọi tập thể, mọi tôn giáo, cần bắt chước Ba Ngôi trong những khía cạnh ấy. Đừng ai mong mình vượt trội hơn những người khác, muốn thống trị những người khác, muốn chiếm địa vị độc tôn, độc quyền. Ba Ngôi của chúng ta là một Ba Ngôi hợp nhất, nhưng hợp nhất ở đây là thứ hợp nhất trong đa dạng, chứ không phải hợp nhất trong đồng nhất. Mọi tập thể, mọi gia đình, mọi tôn giáo, cần phải chống lại cơn cám dỗ muốn hợp nhất bằng cách làm mọi sự thành đồng nhất: muốn mọi người chỉ còn một cách nhìn, một cách suy nghĩ duy nhất là cách của mình. Trái lại, cần phải tôn trọng sự khác biệt và bình đẳng, thì nhân loại mới có nhiều khả năng yêu thương nhau, và sống chung hòa bình với nhau được.

Mọi chia rẽ, chiến tranh trong gia đình, trong tập thể đều phát xuất từ ý của một người nào đó muốn áp đặt ý của mình lên người khác, muốn thống trị, muốn trổi vượt, muốn độc tôn. Và cái ý ngông nghênh ấy cuối cùng chỉ là những hình thức thể hiện tính kiêu ngạo, ích kỷ, muốn tự đề cao mình.



CẦU NGUYỆN

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, xin cho mọi người, mọi tập thể trên trần gian, trong đó có Giáo Hội của chúng con, biết bắt chước tinh thần yêu thương hợp tác của Ba Ngôi: biết yêu thương nhau, biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của nhau, không áp đặt lẫn nhau, ép người khác trở nên giống mình, nghĩ như mình, nhưng muốn cho nhau cùng tồn tại, để cùng xây dựng một thế giới hòa bình, yêu thương và hợp nhất với nhau. Đó cũng chính là Nước Trời mà Đức Giêsu muốn xây dựng cho trần gian.    


Nguyễn Chính Kết




Share:

BaNgoia - Phải tiếp nhận Thần Khí Sự Thật thế nào?



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi

(16-6-2019)


Phải tiếp nhận Thần Khí Sự Thật thế nào?



ĐỌC LỜI CHÚA

  Cn 8,22-31: (30) Ngày ngày Ta là niềm vui của Người, trước mặt Người, Ta không ngớt vui chơi, (31) vui chơi trên mặt đất, Ta đùa vui với con cái loài người. (Từ «Ta» trong câu trên, là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa).

  Rm 5,1-5: (5) Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.

  TIN MỪNG: Ga 16,12-15

Khi Thần Khí sự thật đến

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ: (2) «Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. (13) Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. (14) Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. (15) Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói : Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em».



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Nhân loại đã biết về thế giới hữu hạn này thế nào? Biết đủ chưa? Những điều đã biết so với những điều chưa biết, cái nào nhiều hơn? Muốn biết và khám phá thêm thì con người phải có thái độ nào?

2.  Nhân loại –cụ thể là Giáo Hội– đã biết về Thiên Chúa vô hạn thế nào? Đã đủ chưa? Những điều đã biết so với những điều chưa biết, cái nào nhiều hơn? Muốn biết và khám phá thêm về Thiên Chúa thì người Kitô hữu nên có thái độ nào?

3.  Hiện nay, Thiên Chúa có còn tiếp tục mặc khải về Ngài không? Bằng cách nào? Qua ai? Muốn nhận được mặc khải, Giáo Hội cần có thái độ nào?


Suy tư gợi ý:

1. Những gì con người biết về Thiên Chúa là vô cùng ít so với những gì họ không biết về Ngài

Qua dòng lịch sử, ta thấy con người ngày càng hiểu biết nhiều hơn về đủ mọi phương diện. Nhưng càng biết nhiều, con người càng khám phá ra sự bao la của những gì mình chưa biết. Những người ham tìm hiểu thường nhận ra là: «Càng biết nhiều, càng thấy mình dốt». Nghĩa là sao? Thưa: Những gì con người đã biết giống như diện tích bên trong một vòng tròn, còn những gì chưa biết giống như diện tích bao la bên ngoài vòng tròn. Vòng tròn càng nhỏ thì phần tiếp xúc với bên ngoài vòng tròn càng nhỏ, vòng tròn càng lớn thì phần tiếp xúc với bên ngoài vòng tròn càng lớn. Tương tự, người ta khi biết ít thì thấy những điều mình chưa biết cũng ít, nhưng càng biết nhiều thì khám phá ra những điều mình chưa biết càng nhiều lên.

Thế giới vật chất tuy hữu hạn, nhưng con người khám phá suốt mấy chục thế kỷ mà vẫn không hết. Trái lại, càng khám phá thì càng nhận ra những điều mình chưa biết nhiều lên gấp bội. Thế thì những gì con người biết về Thiên Chúa, Đấng vô hạn, lại càng nhỏ bé gấp triệu triệu lần hơn nữa khi so với những điều họ chưa biết về Ngài! Tuy nhiên, Ngài vẫn tiếp tục cho con người biết về Ngài. Ngài đã tự mặc khải cho con người qua vũ trụ, qua các ngôn sứ, qua Đức Giêsu, và hiện nay vẫn tiếp tục qua Thánh Thần của Ngài. 

Nhưng nhiều khi con người tự mãn về những hiểu biết của mình về Ngài, nên con người đã không biết thêm về Ngài được bao nhiêu so với những gì con người biết về thế giới vật chất.



2. Thiên Chúa mặc khải về Ngài một cách rất tiệm tiến

Nếu kiến thức về vật chất hữu hạn này mà con người không thể tiếp thu một lúc mà phải tiếp thu dần dần qua thời gian mấy chục thế kỷ, thì những kiến thức về Thiên Chúa vô hạn cũng thế: con người chỉ có thể tiếp thu dần dần qua thời gian. Vì thế, trước khi từ giã các tông đồ, Đức Giêsu nói: «Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi» (Ga 16,12). Có lẽ Ngài cũng muốn nói như Đức Phật: Điều ta đã nói ra so với điều ta biết chỉ như nắm lá trong tay so với lá của cả khu rừng.

Khi mặc khải cho con người, Đức Giêsu tương tự như một thầy dạy toán cho học sinh cấp một, ông không thể nhồi nhét hết kiến thức toán học trong đầu ông cho các em trong một hai năm được. Ông phải chờ các em tiêu hóa hết những điều mình đã dạy rồi mới dạy tiếp những kiến thức khác. Và thường là ông phải nhường cho những ông thầy khác dạy tiếp cho các em trong những năm sau. 

Đức Giêsu cũng vậy, Ngài còn rất nhiều điều phải nói về Thiên Chúa cho các tông đồ, cho con người, nhưng không thể nói hết được, vì các tông đồ cũng như con người «không có sức chịu nổi» (Ga 16,12), nghĩa là không thể tiếp thu hết được. Nay Ngài không thể tiếp tục ở trần thế để mặc khải về Thiên Chúa cho con người, Ngài phải nhờ người khác tiếp nối công việc ấy. Người ấy chính là Thánh Thần.

Ngài nói: «Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn» (Ga 16,13). Nhưng Thánh Thần không mặc khải cho con người bằng lời nói rõ ràng như Đức Giêsu, mà theo cách riêng của Ngài, là linh hứng cho con người. Con người phải thích ứng với cách của Ngài.



3. Thái độ cần có để tiến bộ trong hiểu biết

Để tiếp nhận thêm kiến thức, người học trò cần phải nhận ra rằng mình còn rất nhiều điều chưa biết. Ai nghĩ rằng những điều mình đã học là tất cả, là đầy đủ rồi, thì không thể hiểu biết thêm được nữa. Cũng vậy, nếu con người cho rằng những gì mình biết về Thiên Chúa đã quá đầy đủ rồi, không cần biết thêm, thì con người sẽ tự mãn và dậm chân tại chỗ về mặt tâm linh. Nếu con người hay Giáo Hội cho rằng hình thái mà mình đang có là hoàn hảo rồi, không cần phải đổi mới gì hết, thì Thánh Thần dù có muốn đổi mới và thăng tiến Giáo Hội cũng gặp rất nhiều khó khăn.

Người học trò cấp một được thầy dạy rằng không được lấy số nhỏ trừ số lớn; điều đó thật hợp lý với khối óc nhỏ bé của em. Nhưng khi lên cấp hai, nếu em cứ nhất định rằng không thể lấy số nhỏ trừ số lớn, thì em không thể học lên cao được, vì ở cấp hai người ta bắt đầu dùng số âm. Cũng vậy, tại cấp hai, thầy giáo dạy rằng không được để số âm trong căn hiệu bậc chẵn, vì điều đó là phi lý. Nhưng khi học giải tích về số ảo, thì số âm trong căn hiệu bậc chẵn là điều bình thường và hữu lý. Nếu học sinh cứ nhất định cho những gì mình đã biết là chân lý không thể thay đổi, thì em không thể tiến cao hơn được. Việc hiểu biết về sự vật hữu hạn mà còn đòi hỏi phải «phá chấp» như vậy mới tiến bộ được, chẳng lẽ muốn tiến bộ trong việc hiểu biết Thiên Chúa vô hạn lại chẳng phải «phá chấp»?



4. Không nên tự mãn về những gì đã biết hay đã có

Nhìn vào sự tiến triển về vật chất, chúng ta có thể nhận ra mình cần phải làm gì để tiến bộ về tâm linh. Khi con người có được chiếc xe đạp, nếu họ tự mãn rằng thế là đủ rồi, và cho đó là hết cỡ rồi, thì sẽ không bao giờ họ phát minh được xe gắn máy hay xe hơi. Muốn tiến triển, con người phải cải thiện không ngừng về kiến thức. Rất nhiều điều con người thế hệ trước cho là đúng và khó có thể khác được, thì thế hệ sau không còn cho là đúng nữa. Nhiều định luật mới đã phủ định hoặc bổ túc những định luật cũ, các giả thuyết cũ cũng được hoàn chỉnh bằng những giả thuyết mới. Chính nhờ ý thức mình còn thiếu, còn phải thay đổi mà con người tiến bộ. Nếu cứ khư khư giữ những quan niệm cũ, cho đó là những chân lý không thể thay đổi, thì con người ngày nay làm sao có được những máy vi tính, những điện thoại di động, những mạng lưới điện toán (internet), những phương tiện di chuyển tối tân?

Nhân loại phát triển và tiến bộ được là do có những người dám xét lại những quan niệm cũ mà mọi người đều đã cho là đúng. Nhờ đó họ đã đưa ra được những quan niệm mới đúng hơn. Những người đó nhiều khi phải trả giá rất mắc cho sự đổi mới táo bạo ấy. Họ thường bị người đồng thời kết án là phá hoại. Nhưng nếu không có những con người táo bạo ấy, con người sẽ dậm chân tại chỗ, và sẽ không có tiến bộ.



5. Luật của Chúa nhưng lại được lập ra cho con người

Hiện nay, trong Giáo Hội, có những điều mà rất nhiều người cho là những chân lý bất biến, là luật của Thiên Chúa, là truyền thống của Giáo Hội, là tông truyền… nên không bao giờ được thay đổi. Họ rất có lý. Nhưng thiết tưởng cần phải phân biệt giữa chân lýcách hiểu hay cách diễn tả chân lý. Chân lý thì bất biến, nhưng cách hiểu hay cách diễn tả chân lý thì thay đổi tùy theo trình độ hiểu biết của con người. Tương tự như bản chất của sự vật thì không hề thay đổi, nhưng cách hiểu và diễn tả của con người về sự vật thì mỗi thời mỗi khác.

Nếu đọc Thánh Kinh, ta sẽ thấy có những điều mà con người nghĩ rằng không bao giờ thay đổi, nhưng rồi cuối cùng cũng đã thay đổi. Quả thật, luật của Môsê được người Do Thái quan niệm là luật của Thiên Chúa, nên họ tưởng luật đó sẽ được áp dụng cho cả nhân loại đến muôn đời. Nhưng thật ra, luật đó chỉ được áp dụng khoảng 1300 năm cho người Do Thái, nghĩa là tính từ khi có Môsê đến thời các tông đồ. Vì đến thời các tông đồ, chính các tông đồ được Thánh Thần soi sáng đã tuyên bố bãi bỏ luật Môsê (x. Cv 15,1-29). Vì thế, hiện nay, người Kitô hữu trong Giáo Hội đâu phải tuân giữ luật Môsê, mà chỉ tuân giữ luật yêu thương của Đức Giêsu và luật Giáo Hội thôi. Nếu luật Môsê là luật của Thiên Chúa mà con người, dưới tác động của Thánh Thần, đã từng thay đổi, thì còn luật nào trên thế giới này lại tuyệt đối không thể thay đổi?

Vả lại, luật của Thiên Chúa, cho dù do Thiên Chúa lập ra, thì cũng lập ra cho con người: «Ngày sabát được dựng nên cho con người, chứ không phải con người được dựng nên cho ngày sabát» (Mc 2,27). Mà con người thì luôn luôn biến đổi, nên luật cho con người cũng phải biến đổi mới có thể phù hợp với con người từng thời đại

Quan niệm về Thiên Chúa cũng vậy. Nếu quan niệm thời Cựu ước về Thiên Chúa đã bị thay đổi, thì liệu quan niệm của chúng ta hiện nay về Thiên Chúa có thể không thay đổi chăng?

Khi con người cố chấp vào một điều nào đó mà không chịu lắng nghe Thánh Thần, thì con người sẽ không theo kịp Thánh Thần, và có nguy cơ chống lại Thánh Thần. Các tư tế, kinh sư Do Thái xưa chính vì quá cố chấp vào lề luật, vào những điều họ cho là chân lý bất biến, nên họ đã không theo kịp và không tiếp nhận được những đổi mới của Thánh Thần qua Đức Giêsu và các tông đồ. Cuối cùng họ đã giết chết các Ngài. Họ đã cản trở những đổi mới của Thánh Thần. Họ đã phạm đến Thánh Thần: «Ai phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau» (Mt 12,32).

Nhiều khi chúng ta phải hồi tâm tự hỏi xem: sự phát triển của Giáo Hội về chất lượng cũng như số lượng trong những thế kỷ qua có khả quan không? Chúng ta có thể hài lòng về sự phát triển ấy không? Có phát triển như lòng Thiên Chúa hay Thánh Thần mong muốn không? Nếu không thì tại sao? Giáo Hội có cần phải thay đổi để phát triển hơn nữa không?



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Thánh Thần của Cha thì luôn luôn đổi mới, nhưng con người lại cứ cố chấp vào cái cũ, vào những gì mình đã biết. Vì thế, họ không thích ứng được với những đòi hỏi của Thánh Thần trong hoàn cảnh mới mà vẫn cứ tưởng làm như thế là phụng sự và bảo vệ Thiên Chúa (x. Ga 16,2). Xin Cha giúp con biết lắng nghe Thánh Thần trong lòng con, để con theo kịp được những đổi mới mà Ngài muốn thực hiện nơi con.


Share:

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2019

Hien-Xuongb - Bình an là quà tặng của Thiên Chúa




CHIA SẺ TIN MỪNG

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

(09-06-2019)


Bài đào sâu

Bình an là quà tặng của Thiên Chúa


  TIN MỪNG: Ga 20,19-23

Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ


Câu hỏi gợi ý:
1. Có thể hạnh phúc khi không có bình an không?

2. Có mấy thứ bình an? Trong bài Tin Mừng, thứ bình an mà Đức Giêsu ban cho các tông đồ là thứ nào?

3.  Muốn được thứ bình an của Thiên Chúa thì ta phải làm gì? Điều quan trọng nhất để được thứ bình an ấy là gì?


Suy tư gợi ý:

1. Bình an là một yếu tố cần thiết trong cuộc đời

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chúc bình an cho các tông đồ tới hai lần. Một lần trước khi cho các ông chứng nghiệm thật rõ ràng và chắc chắn rằng Ngài đã sống lại thật. Một lần trước khi trao sứ mạng, ban Thánh Thần và ban quyền «cởi buộc» cho các ông. Điều đó có ý nghĩa là sự bình an trong tâm hồn là một yếu tố cần thiết để có kinh nghiệm về Thiên Chúa, để nhận lãnh Thánh Thần, để đón nhận và thi hành sứ mạng tông đồ, và để phán xét khi thực thi quyền tháo cởi hay cầm buộc.

Thật vậy, bình an là điều kiện nền tảng của hạnh phúc, của sự khôn ngoan sáng suốt, của đời sống tâm linh. Thiếu bình an, ta không thể sống hạnh phúc, ta sẽ mất khôn ngoan sáng suốt. Thường xuyên mất bình an trong tâm hồn chứng tỏ một đời sống tâm linh còn non kém. Vì thế, bình an là một yếu tố rất quan trọng trong cuộc đời.



2.  Hai thứ bình an

hai thứ bình an: bình an bên ngoài và bình an bên trong.

a) Bình an bên ngoài: là thứ bình an bị lệ thuộc vào hoàn cảnh hay những hay điều kiện ngoài mình. Ta được thứ bình an này khi gặp hoàn cảnh thuận lợi, dễ dàng, không bị đe dọa, không có nguy hiểm, không gặp khó khăn, được vừa ý mọi chuyện… Thứ bình an này người khác có thể ban tặng hay tạo ra cho ta, mà cũng có thể làm ta mất đi.

b) Bình an bên trong: là thứ bình an không bị lệ thuộc ngoại cảnh mà tùy thuộc tình trạng hay thái độ nội tâm. Một người có nội tâm vững vàng vẫn có thể cảm thấy tâm hồn mình bình an cho dù gặp nghịch cảnh, bị đe dọa, gặp nguy hiểm, khó khăn, hay gặp chuyện không vừa ý. Thứ bình an này, ngoài Thiên Chúa ra, không ai có thể ban hay tạo cho ta, và cũng không dễ dàng lấy mất đi của ta.

Một người được bình an bên ngoài nhưng không có bình an bên trong thì không cảm thấy hạnh phúc. Nhưng người có bình an bên trong thì dù không có bình an bên ngoài vẫn có thể hạnh phúc. Nhiều vị thánh sống rất thiếu thốn, gặp toàn nghịch cảnh, thậm chí đang phải sống giữa những nguy hiểm, nhưng tâm hồn vẫn có thể bình an và tràn đầy niềm vui.



3.  Bình an là món quà quí báu của Thiên Chúa

Đức Giêsu đã từng nói về hai thứ bình an trên: «Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian» (Ga 14,27). Bình an mà Đức Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay không phải là thứ bình an bên ngoài, mà là bình an bên trong, một khi đã có thì không ai lấy mất được, trừ khi chính ta làm mất nó. Nó là nền tảng cho những niềm vui nội tâm cũng không ai lấy mất được (x. Ga 16,22). Bình an và niềm vui ấy được xây dựng trên những lý do siêu nhiên, khác với bình an và niềm vui dựa trên những lý do tự nhiên hay ngoại cảnh: «Anh em chớ vui mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy vui mừng vì tên của anh em đã được ghi trên trời» (Lc 10,20).

Bình an nội tâm ấy chính là hoa quả của Thánh Thần (x. Gl 5,22; Rm 8,6; 14,17), và xuất phát từ Thiên Chúa (x. Rm 15,33; 16,20; 2Cr 13,11; Pl 4,9), vượt lên trên mọi hiểu biết của con người (x. Pl 4,7). Nhưng để đạt được sự bình an này thì điều quan trọng là phải có đức tin (x. Rm 15,13). Không đức tin, hoặc đức tin kém cỏi, ta không thể nhận được bình an của Thiên Chúa.



4.  Đức tin là điều kiện quan trọng để nhận được bình an của Thiên Chúa

Để có được bình an nội tâm, thứ bình an tự tại, không bị lệ thuộc vào những điều kiện hay hoàn cảnh bên ngoài, điều quan trọng là phải có một đức tin vững mạnh. Một người thật sự tin vững mạnh nơi Thiên Chúa, tin vào tình thương vô bờ bến và quyền năng vô biên của Ngài, người ấy luôn sống trong bình an.

Chẳng hạn, một trong những điều khiến ta dễ dàng mất bình an là sự bấp bênh của cuộc sống. Chúng ta lo sợ bị mất việc làm, bị thất bại trong công việc làm ăn, bị lừa đảo, bị kẻ ác hãm hại, v.v… Tất cả những điều chúng ta lo sợ ấy rất có thể xảy ra cho chính chúng ta. Chúng ta thường tưởng tượng rằng nếu những bất lợi ấy xảy ra, chúng ta sẽ lâm vào cảnh bất hạnh ngay. Chúng ta không muốn bị bất hạnh, bị lâm vào cảnh khổ. Vì thế, dù những điều đó chưa xảy ra, tâm hồn chúng ta vẫn canh cánh những nỗi lo âu sợ sệt, nhất là khi thấy xác xuất xảy ra khá lớn.

Nhưng nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa đầy quyền năng, Ngài quan phòng mọi sự, không gì xảy ra được ngoài thánh ý của Ngài, và Ngài cũng không bao giờ muốn điều xấu xảy ra cho chúng ta, thì chúng ta sẽ luôn vững dạ an tâm.

Niềm tin ấy rất có nền tảng trong Kinh Thánh. Đức Giêsu nói: «Nếu hoa cỏ ngoài đồng nay còn mai đã quẳng vào lò mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó» (Mt 6,30-32). Chuyện nhỏ nhất xảy ra dưới trần cũng không xảy ra ngoài thánh ý của Thiên Chúa: «Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ» (Mt 10,29-31).

Thiếu niềm tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa khiến chúng ta luôn sống trong lo âu. Nhiều khi chúng ta không dám làm những điều lương tâm đòi buộc, vì nghĩ rằng khi làm những điều ấy thì sẽ có nguy cơ bị lâm vào cảnh khổ, bị tù đày, bị hãm hại. Vì thế, chúng ta ưu tiên lo cho sự an nguy của ta hơn là lo thực hiện thánh ý của Ngài. Nhưng Đức Giêsu bảo: «Hãy lo tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người trước đã, còn mọi sự khác Người sẽ thêm cho sau» (Mt 6,33).



5.  Tin rằng thánh ý Thiên Chúa luôn luôn đem lại lợi ích và hạnh phúc nhiều nhất cho ta, thì sẽ được bình an

Đương nhiên người tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng gặp những thuận cảnh, hay luôn luôn gặp bình an bên ngoài. Rất có thể Thiên Chúa phải thử thách chúng ta để chúng ta nên hoàn thiện hơn, và nhờ đó hạnh phúc hơn. Chính Thiên Chúa cũng đã làm cho «Đức Giêsu phải trải qua gian khổ để trở nên vị lãnh đạo thập toàn» (Dt 2,10). Ngài cũng đối xử như thế với những người mà Ngài yêu thương và tuyển chọn: «Những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính» (Rm 8,30), và cách Ngài làm cho họ nên công chính là thử thách họ bằng đau khổ: «Anh em là những kẻ phải chịu khổ ít lâu, vì Thiên Chúa muốn anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường» (1Pr 5,10)

Nói chung, tất cả những đau khổ mà Thiên Chúa gửi đến đều nhằm ích lợi cho ta: «Thiên Chúa làm cho mọi sự phối hợp lại đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28). Tương tự như cha mẹ bắt con phải uống thuốc đắng, phải bị chích thuốc hay phải chịu giải phẫu đau đớn, chính là để tránh cho chúng những đau khổ lớn hơn, hoặc để chúng hạnh phúc vì có sức khỏe.

Trong cuộc đời, không ai tránh được đau khổ. Rất nhiều khi tránh đau khổ này thì ta lại gặp phải đau khổ khác lớn hơn. Người đời vẫn nói: «Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa», «Ghét của nào Trời trao của ấy». 

Kinh nghiệm cho tôi thấy rằng khi tôi sẵn sàng đón nhận những đau khổ mà Thiên Chúa muốn tôi chịu, thì đó là cách tốt nhất để cuộc đời tôi chịu ít đau khổ nhất, và được hạnh phúc nhiều nhất. Tôi thấy những ai tìm đủ mọi cách để tránh đau khổ dẫu phải làm những điều trái lương tâm, và không chấp nhận những đau khổ Chúa gửi đến, thì cuối cùng người ấy phải chịu nhiều đau khổ hơn gấp bội so với người sẵn sàng đón nhận đau khổ Ngài gửi đến. Chính sự sẵn sàng đón nhận những đau khổ Chúa gửi đến làm cho tâm hồn ta luôn bình an.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, bình an Cha ban còn tùy thuộc vào thái độ nội tâm của con rất nhiều. Cha không thể ban thứ bình an của Cha cho con khi tâm hồn con đầy nghi ngờ về tình thương và quyền năng của Cha. Cha không thể ban bình an cho con khi lúc nào con cũng muốn tránh tất cả mọi đau khổ, không muốn chấp nhận một đau khổ nào dẫu là đau khổ Cha muốn con chịu. Vậy, xin Cha hãy củng cố đức tin và lòng mến của con đối với Cha, để con nhận được sự bình an của Cha, của Thánh Thần Cha.


Share:

Hien-Xuonga - Tại sao Giáo Hội hiện nay kém phát triển về số lượng?





CHIA SẺ TIN MỪNG

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

(09-06-2019)

Tại sao Giáo Hội hiện nay 
kém phát triển về số lượng?


ĐỌC LỜI CHÚA

  Cv 2,1-11: (4) Ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.

  1Cr 12,3b-7.12-13: (6) Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. (13) Tất cả chúng ta đều được đầy tràn một Thần Khí duy nhất.

  TIN MỪNG: Ga 20,19-23

Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ

(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: «Bình an cho anh em!» (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: «Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em». (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: «Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ».



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.      Ngày nay, tại sao Giáo Hội lại kém phát triển về số lượng, chưa nói tới chất lượng? Có phải vì cách loan báo Tin Mừng của chúng ta không phù hợp với thời đại? Người thời đại mong mỏi Giáo Hội làm gì cho xã hội, thế giới?

2.      Con người thời đại, nhất là người nghèo, người bị áp bức, cần chúng ta thể hiện tình thương đối với họ qua sự chăm sóc, giúp đỡ, nâng họ lên, hay họ cần chúng ta rao giảng Đức Kitô cho họ? Họ cần chân lý hay tình thương?


Suy tư gợi ý:

1.  Thánh Thần tạo biến đổi lạ lùng nơi các tông đồ

So sánh tâm lý của các tông đồ trong bài Tin Mừng và trong bài đọc I hôm nay (x. Cv 2,1-11) ta thấy có sự biến đổi hết sức lạ lùng trong một thời gian hết sức ngắn: chỉ hơn một tháng

Sau khi Thầy mình bị giết, các ông sợ hãi người Do Thái đến độ phải ở chung với nhau cho đỡ sợ, và phải đóng kín cửa. Thế mà ngay sau khi Thánh Thần hiện xuống, các ông trở nên hết sức dạn dĩ: dám công khai biểu lộ và làm chứng niềm tin của mình vào Đức Giêsu Kitô và sự sống lại của Ngài, bất chấp bị bắt bớ, tù đày và cả cái chết lúc nào cũng sẵn sàng đến với các ông. Bị tù nhiều lần, nhưng lần nào cũng như lần nấy, vừa ở tù ra là các ông lại tiếp tục rao giảng Đức Kitô một cách công khai, không lén lút. Chính vì thế, hầu hết các tông đồ đã bị giết một cách thê thảm vì danh Đức Giêsu.

Tâm lý con người ai cũng ham sống sợ chết, ham sướng sợ khổ, ham giàu sợ nghèo, ham vinh sợ nhục. Nhưng tình yêu đối với Thiên Chúa và nhân loại, cùng với ơn biến đổi của Thánh Thần, đã làm các tông đồ và rất nhiều Kitô hữu vượt lên những nỗi sợ đó, để dám làm những gì lý tưởng và lương tâm mình đòi buộc: «Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm» (Cv 5,29).



2.  Thánh Thần biến đổi là để thi hành sứ mạng

Bài Tin Mừng cho ta thấy lời chúc bình an, lời sai đi, và việc lãnh nhận Thánh Thần đi chung với nhau. Đức Giêsu nói: «Chúc anh em được bình an! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần» (Ga 20,21-22). Như vậy, việc lãnh nhận Thánh Thần là để thực hiện sứ mạng mà Đức Giêsu sai chúng ta làm, với tâm hồn bình an, không sợ sệt lo lắng

Thánh Thần làm cho tâm hồn các tông đồ bình an, và có bình an trong tâm hồn, các ông mới đủ can đảm để công khai làm chứng cho Đức Giêsu. Do đó, để lãnh nhận Thánh Thần và ơn bình an, chúng ta phải có lý tưởng là sẵn sàng làm chứng cho Đức Giêsu Kitô, cho Thiên Chúa, cho chân lý, cho công lý, cho hòa bình giữa mọi người. Thánh Thần không ban ơn của Ngài cho những người không có lý tưởng, không có tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Vì giả như có được ơn Thánh Thần, họ cũng chẳng ích lợi gì cho ai, mà thậm chí gây hại, vì khi không có tình yêu và lý tưởng, họ sẽ lạm dụng những ơn ấy.



3.  Sứ mạng của người Kitô hữu

Ngày nay, tỷ lệ Kitô hữu tại châu Âu bị suy giảm trầm trọng, và có vẻ như không tăng lên tại châu Á và tại Việt Nam. Điều ấy khiến mọi Kitô hữu phải suy nghĩ và đặt lại vấn đề cách thức loan báo Tin Mừng của mình, có thể nó không hợp với nhu cầu hay đòi hỏi của thời đại. Con người thời đại này đã thay đổi rất nhiều so với cách đây 50 năm. Hoàn cảnh (văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật, nhu cầu con người, v.v.) đã thay đổi, khiến não trạng, cách nhìn, cách suy nghĩ, lối sống của con người không còn như xưa. Vì thế, nếu chúng ta vẫn giữ cách thức loan báo Tin Mừng như thời tổ tiên ta, e rằng việc loan báo không còn hợp thời và hữu hiệu nữa.

Người thời nay chịu ảnh hưởng não trạng khoa học thực nghiệm rất nhiều. Họ không thể tin vào lời nói xuông như cha ông họ cách đây 50 hay 100 năm. Họ cần thực chứng, vì đầu óc của họ thực tế hơn xưa rất nhiều. Ngày nay, người ta không thể tin được một Kitô hữu miệng thì luôn luôn nói về tình thương, mà cách sống thì tỏ ra chẳng tình nghĩa với ai

Giới trẻ thời nay đã chán ngấy cái cảnh cha mẹ mình hằng ngày đi lễ, rước lễ, xin Chúa xót thương ban cho mình đủ thứ ơn lành, nhưng lại luôn luôn tỏ ra ích kỷ, bảo thủ quyền lợi, và lãnh đạm trước sự đau khổ hay nhu cầu cấp bách của người chung quanh. Não trạng thực tế khiến người thời đại nhìn thấy rất rõ sự tương phản giữa lời rao giảng và cách sống của những người chuyên loan báo Tin Mừng. Lời rao giảng dù có hay, hùng hồn, hấp dẫn, nhưng không được minh chứng bằng đời sống thực tế của người rao giảng, thì chẳng lôi cuốn được ai!

Ngày nay, khắp nơi trên thế giới, chỗ nào cũng có những bất công, đàn áp, người nghèo bị khinh miệt và càng ngày càng nghèo hơn, người bị gạt ra ngoài lề xã hội ngày càng nhiều, sự bóc lột giữa người với người ngày càng tinh vi, sự chênh lệch giữa người giầu và người nghèo, giữa nước giầu với nước nghèo ngày càng lớn, và biết bao thảm trạng khác. Nhưng thử hỏi: mỗi người Kitô hữu chúng ta đã làm gì trước tình trạng xấu ác đó? 

Biết bao Kitô hữu không hề quan tâm, đến nỗi không ý thức gì về tình trạng ấy! Biết bao Kitô hữu biết nhưng mặc kệ, ai ra sao thì ra, miễn đời sống mình bình an đầy đủ là được rồi! Biết bao Kitô hữu đã im lặng vì muốn an thân, không muốn bị liên lụy, cho dù sự lên tiếng của mình có thể cải thiện được tình trạng không nhiều thì ít! Biết bao Kitô hữu chẳng những không lên tiếng, mà còn thỏa hiệp hay hùa theo sự ác, chỉ vì quyền lợi của mình! 

Bất chấp và mặc kệ cho sự ác, sự khổ, bất công, nghèo đói hoành hoành, nhiều Kitô hữu vẫn an tâm rao giảng thứ Tin Mừng giải phóng, là Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, cho kẻ bị giam cầm được tha, cho người mù được sáng mắt, cho kẻ bị áp bức được tự do, v.v. (x. Mt 4,18). Làm sao người thời nay với não trạng khoa học thực nghiệm có thể tin vào lời của những ngôn sứ không hề có những hành động nào đích thực là ngôn sứ? Những người nghèo khổ, những người bị áp bức, những người bị bất công đang chờ đợi hay mong mỏi chúng ta làm gì? Họ mong chúng ta cứu họ thoát khổ, lên tiếng chống lại áp bức bất công, hay họ mong chúng ta rao giảng Đức Giêsu Kitô cho họ, hoặc cho họ biết rằng Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất? Họ cần chúng ta cụ thể hóa tình thương của ta đối với họ, hay họ cần chúng ta rao giảng chân lý? Chúng ta đã làm gì?

Đã từ lâu, chúng ta quá hăng say rao giảng chân lý, mà quên mất hoặc không để ý đến những nhu cầu cụ thể và thực tế của dân chúng. Họ cần tình thương, nhưng chúng ta chỉ cho họ chân lý! nói đúng hơn là cho họ một mớ lý thuyết về chân lý! Đạo của chúng ta mà như thế thì còn hấp dẫn được ai? Vì thế, đừng lấy làm lạ tự hỏi tại sao Kitô giáo lại bị giảm sút tại châu Âu và không phát triển được tại châu Á. 

Người Kitô hữu hãy yêu nhau và yêu tất cả mọi người trước đã, đừng quan tâm tới việc rao giảng vội! Chính đời sống yêu thương của người Kitô hữu mới là lời giảng hùng hồn và hữu hiệu nhất cho thời đại khoa học thực nghiệm hiện nay. Người Kitô hữu cứ sống yêu thương và thực hiện hay làm chứng cho công lý trước đã, toàn thế giới sẽ tự động trở nên Kitô hữu sau. Còn hăng say rao giảng mà không yêu thương, mà coi nhẹ công lý, thì mọi lời rao giảng đều chẳng khác gì «thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng» (1Cr 13,1), hoàn toàn vô ích!


4.  Cần có sự biến đổi

Giáo Hội hiện nay cần Thánh Thần biến đổi hơn bao giờ hết. Biến đổi trước hết là não trạng loan báo Tin Mừng. Chúng ta chỉ thích loan báo bằng lời nói, chứ không phải bằng đời sống, bằng việc làm cụ thể. Cần phải thay đổi não trạng đó nếu muốn Giáo Hội tồn tại và phát triển. Sứ mạng của Giáo Hội là sống và thực hành yêu thương hơn là rao giảng chân lý

Tôi không có ý coi nhẹ việc rao giảng chân lý, nhưng phải coi việc sống yêu thương là quan trọng hơn, và quan trọng hơn rất nhiều. Và chỉ có tình thương đích thực mới làm chúng ta mạnh dạn, can đảm như các tông đồ, dám coi thường tất cả (bắt bớ, tù đày, chết chóc) để nói lên tiếng nói ngôn sứ của mình. Cũng như chỉ có tình thương đối với con mình mới có thể thúc đẩy người cha hay người mẹ xông vào hiểm nguy để cứu lấy con mình. Ơn Thánh Thần mà Giáo Hội và mọi Kitô hữu rất cần hiện nay là tình yêu thương.




CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Thánh Thần, xin đổ ơn của Ngài xuống trên từng người chúng con, đặc biệt ơn biết yêu thương, biết hy sinh vì người khác, để chúng con loan báo Tin Mừng một cách hữu hiệu bằng chính đời sống yêu thương được biểu hiện bằng những hành động cụ thể như Đức Giêsu đã dạy, chứ không chỉ loan báo bằng lời nói xuông. Amen.

Nguyễn Chính Kết




Share:

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2019

Mỹ đã phóng vệ tinh cung cấp internet toàn cầu, mở ra kỷ nguyên tự do thông tin



Mỹ đã phóng vệ tinh 
cung cấp internet toàn cầu, 
mở ra kỷ nguyên tự do thông tin





Phóng thành công tên lửa Falcon 9 mang 60 vệ tinh từ Cape Canaveral ở Florida tối thứ Năm, 23/5. Fox News, VOA cho hay.

Độc giả Đào Tuấn Sơn bày tỏ niềm thích thú: «Vậy thì các quốc gia độc tài không thể ngăn chặn, bưng bít thông tin được nữa rồi! Thích quá.»

Các vệ tinh – có mục đích đưa internet băng thông rộng đến các cộng đồng thiếu thốn, thiệt thòi – đã được đưa vào quỹ đạo quanh Trái đất ở tầng thấp một giờ sau đó, theo bản tin của Space News.

Đây là vụ phóng vệ tinh đầu tiên trong số nhiều vụ phóng trong chương trình của SpaceX nhằm tạo ra một đại mạng lưới phát sóng internet toàn cầu với công suất cho người sử dụng lên đến 1 terabit mỗi giây, vẫn theo Space News.

SpaceX có kế hoạch thực hiện từ 3 đến 7 vụ phóng trong năm nay với mục tiêu cuối cùng sẽ phóng tới 12.000 vệ tinh trong vài năm tới, theo Space News. Dân Mẽo chơi quá cao tay! Vậy là từ nay dẹp hết những đài truyền hình truyền thanh mị dân, dẹp luôn tất cả công-ty truyền thông giả dối.

Các nhà mạng Việt Nam như Viettel, Mobiphone đang lắp đặt các phần mềm tường lửa để chặn truy cập đối với các trang tin lề dân tới đây cũng không thể chặn được nữa. Người dùng sẽ bỏ Viettel, Mobiphone để dùng mạng toàn cầu, từ giá rất rẻ hoặc giá miễn phí. Ông Phạm Thành Công, một công dân khác nói rằng, đây là một tin sét đánh đối với các thể chế phát xít, ác ôn, côn đồ, lưu manh bởi tự đây, chúng sẽ hết đường bưng bít thông tin và tuyên truyền dối trá xạo sự.


Ông Trần Đình Khiết cho biết: «Trung Quốc tuần tới cũng phóng vệ tinh, cho mọi người xài 7G thoái mái.»

Từ Đăk Lăk, nhà giáo Đặng Đăng Phước bình luận: «Các nhà mạng Vinaphone, Mobiphone, Viettel ăn cám vì dân chỉ cần đầu tư cái Smarphone 2 triệu là gọi Messeger, Zalo miễn phí toàn cầu.»

Từ nay, Bộ Thông tin truyền thông Việt Nam hay các lực lượng tuyên giáo muốn kéo đám mây điện tử về thì phải lên vũ trụ.

***

Vậy là Mỹ đã chính thức phóng vệ tinh internet vào không gian vũ trụ, mở ra 1 trang sử mới cho nhân loại - Kỷ nguyên thông tin internet lan truyền từ vũ trụ cung cấp xuống trái đất sẽ thống trị nền internet toàn cầu trong tương lai.

Thử so sánh nhé, 4 ưu điểm của internet vệ tinh mà người Mỹ sáng chế ra cống hiến cho nhân loại 4 tác dụng to lớn nhất mà ko điều gì thay thế được:

1- Tốc độ truyền dữ liệu internet vệ tinh của Mỹ lớn gấp 40 lần so với tốc độ truyền internet qua sợi cáp quang chạy ngầm dưới biển - và lớn gấp hơn 10 lần so với tốc độ Mạng 5G mà Heo Quay (Huawei) của Tầu Khựa định âm mưu phát triển bành trướng để thống trị toàn thế giới trong tương lai (Nhu vậy là với công nghệ vệ tinh này của Mỹ, thì 5G cũng đã hoàn toàn trở thành cổ vật la mã hoặc trống đồng Đông Sơn, trong giới công nghệ TG)

2- Do hoàn toàn không phải sử dụng khâu trung gian (dây cáp quang, trạm thu phát BTS mặt đất, bộ máy nhân sự các nhà mạng trung gian v.v...) mà truyền từ trên không trung xuống thẳng mặt đất dưới dạng sóng 6G- Nên chi phí mạng internet vệ tinh sẽ rẻ bằng 1/10 so với chi phí sử dụng internet hiện tại ..... Dự là cả thế giới sẽ đổ xô vào dùng dịch vụ giá rẻ chất lượng cao này của người Mỹ, còn mạng cáp quang ADSL sẽ lão hóa lui về ở ẩn, còn 5G của Huawei coi như chết yểu từ trong bào thai chưa kịp chui ra khỏi bụng mẹ...


3- Do phát trực tiếp từ hơn hàng vạn vệ tinh đan lát dầy đặc xung quanh bề mặt trái đất, nên tại bất kỳ thời điểm nào tại bất kỳ tọa độ nào trên bề mặt trái đất (Từ sa mạc mênh mông ko một bóng người cho đến rừng sâu thăm thẳm, hải đảo xa xôi, biển cả mênh mông....) cũng đều bắt được sóng internet 6G với tốc độ cao nhất và chi phí rẻ nhất......Điều đó cho phép internet lan rộng phổ cập được tri thức đến toàn nhân loại, đến cả những vùng đất xa xôi hẻo lánh nghèo đói cô lập nhất của thế giới .... Khiến cho cả nhân loại được nhờ, những người nghèo khổ nhất thê giới cũng có cơ hội được tiếp cận internet với chi phí giá cực rẻ để học hỏi và nâng cao trình độ (Thậm chí với các quốc gia nghèo khổ thuộc diện cần trợ giúp nhân đạo, Mỹ còn có thể cho không để dùng, dùng free không tính phí)

4- Cũng do phát trực tiếp đến người dùng không thông qua bất kỳ 1 Nhà mạng trung gian nào (ví dụ VNPT hoặc Viettel v.v.......)... Dẫn đến hệ quả là không một chính phủ độc tài tại bất kỳ một quốc gia nào có thể thao túng được thông tin khách quan trung thực mà internet cung cấp đến cho công dân nước mình (Chính phủ ko phải do dân bầu ra tại các quốc gia độc tài thương có xu hướng sử dụng tường lửa và an ninh mạng để block và lọc ra những thông tin có lợi cho tầng lớp cai trị, những thông tin có lợi cho dân nhưng có hại cho tầng lớp cai trị sẽ bị chặn hoặc bị xuyên tạc trc khi nó đến được cho nhân dân đọc)... Điều đó có nghĩa là nhân dân tại các quốc gia đói khổ do ách cai trị của độc tài sẽ có cơ hội được tiếp cận thông tin trung thực để tự nâng cao dân trí bản thân, ko bị nhà cầm quyền nhồi sọ tư tưởng, đầu độc tri thức và ngu dân hóa để dẽ cai trị

Ví dụ: Dân Trung Quốc sẽ bắt trực tiếp internet từ sóng vệ tinh mà không dùng mạng của Nhà cung cấp mạng từ Trung Quốc, nhờ đó sẽ ko bị chặn những thông tin sự thật hữu ích bị block bởi tường lửa của an ninh mạng Trung Quốc, sẽ hiểu rõ bản chất bản chất mị dân độc ác dơ bẩn và tội ác chồng chất của ĐCS Trung Quốc với dân tộc Trung Hoa lớn đến thế nào mà bao lâu nay họ bị ĐCS Trung Quốc tuyên truyền 1 chiều vẫn mù quáng tin theo vô điều kiện.

Hoặc dân Triêu Tiên ở bất cứ tọa độ nào trên mặt đất triều tiên đều có thể có cơ hội truy cấp mạng internet - điều mà hiện nay Triều Tiên đang thực hiện triệt để sách lược ngu dân - Kim Jong Ủn cấm đoán toàn dân ko cho tiếp cận internet của phương Tây vì sợ dân triều Tiên khôn lên sẽ hiểu ra sự thật, và đoàn kết nhau làm nên cách mạng lật đổ chế độ mọi rợ mà gia đình họ Kim đang thiết lập trên đầu trên cổ để đời đời cai trị mãi mãi dân Triều Tiên.

***

Mẹo nhỏ: Sắp tới bất cứ ai cũng có mạng để dùng với giá bèo thậm chí là được miễn phí với những quốc gia nghèo đói cần viện trợ (VN có thể đc vào danh sách này)... Do đó giao thức điện thoại liên lạc chủ yếu sẽ là video call messenger hoặc các phần mềm internet khác tương tự vì nó truyền cả hình nhanh và hoàn toàn miễn phí.

Liên lạc điện thoại di động theo giao thức truyền thống coi như khai tử - Viettel, Vinaphone, Mobilphone.... nếu ko chịu mở rộng ngành nghề kinh doanh và tạo ra giá trị sáng tạo mới cho xã hội mà chỉ trông trờ vào doanh thu từ cước di động và ADSL, sẽ đói thối mồm và sớm trở thành di vật bảo tàng lịch sử



cfff(Nguồn: Facebook Lê Trung Kiên)


Share: