Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016

TN33 - Đời sống này chóng qua, Đời sống sau vĩnh cửu


CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 33 Thường Niên
(bài 2)

(13-11-2016)


Đời sống này chóng qua,
Đời sống sau vĩnh cửu

ĐỌC LỜI CHÚA

  Ml 3,19-20a: (19) Vì này Ngày ấy đến, đốt cháy như hoả lò. Mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ. Ngày ấy đến sẽ thiêu rụi chúng - Đức Chúa các đạo binh phán - không còn chừa lại cho chúng một rễ hay cành nào.

  2 Tx 3,7-12: (8) Chúng tôi đã chẳng ăn bám ai, trái lại đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả, để khỏi nên gánh nặng cho người nào trong anh em.


  TIN MỪNG: Lc 21,5-19

Bài giảng về sự sụp đổ của thành Giêrusalem


(5) Nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: (6) «Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào». (7) Họ hỏi Người: «Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước?» 

 (8) Đức Giêsu đáp: «Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây”, và: “Thời kỳ đã đến gần”; anh em chớ có theo họ. (9) Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu». (10) Rồi Người nói tiếp: «Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. (11) Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện. 

 (12) «Nhưng trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. (13) Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. (14) Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. (15) Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được. (16) Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. (17) Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. (18) Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. (19) Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Có gì trên đời tồn tại mãi, không có ngày cùng tận không? 

2. Trong bản thân ta, trong cuộc đời ta, những gì sẽ chóng qua và những gì tồn tại lâu dài? Giữa hai thứ ấy, người khôn ngoan nên quan tâm tới thứ nào? Bản thân ta thường quan tâm đến thứ nào?

3. Thế giới này có tồn tại vĩnh viễn không? Có những dấu hiệu nào báo trước ngày cùng tận của nó không? Thời của chúng ta đã có những dấu hiệu ấy chưa? Nếu có thì chúng ta nên có thái độ nào?

Suy tư gợi ý:

1.   Mọi sự trên đời đều chóng qua, đều có ngày cùng tận

Chúng ta đang sống trong một thế giới vô thường, tạm bợ, mọi sự đều thay đổi, mọi sự đều qua đi (x. 1Cr 7,31b; 1Ga 2,17*). Không một điều gì sự gì thuộc thế giới này tồn tại mãi, cho dù hiện tại chúng có vẻ kiên cố vững chắc tới đâu đi nữa. Đức Giêsu đã nói lên chân lý ấy trong bài Tin Mừng hôm nay: Nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: «Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào» (Lc 21.6). Lúc ấy, người Do Thái không thể nào tưởng tưởng được Đền Thờ Giêrusalem đẹp và quí giá như thế, kiên cố và vĩ đại như thế, chỉ 40 năm sau (tức năm 70), lại có thể trở thành bình địa. Chẳng lẽ Thiên Chúa lại để cho công trình mà con người xây dựng để tôn vinh Ngài, và chính Ngài đã chúc phúc lại bị phá hủy sao? Thật nghịch lý, khó có thể chấp nhận được! Nhưng đây là chân lý quan trọng mà chúng ta cần phải suy gẫm để sống cho phù hợp và khôn ngoan.

«Đời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích» (Tv 103,15-16). Đời sống chóng qua như thế, nếu ta cứ tìm và thu gom cho mình những thứ vô thường tạm bợ, thì khi đời sống này qua đi, ta sẽ hoàn toàn trắng tay khi bước vào đời sống vĩnh cửu. Coi chừng kẻo ta chỉ được giàu có trong chốc lát để rồi muôn đời phải nghèo khổ! Còn gì dại dột bằng? Người khôn ngoan biết dùng những thứ chóng qua đời này để làm cho mình giàu có trong đời sống vĩnh cửu (xem dụ ngôn người quản lý bất trung, Lc 16,1-13). Đừng vội chóa mắt vì sự vinh quang hay hạnh phúc mà những cái chóng qua này đem lại. Vinh quang hay hạnh phúc ấy cũng rất chóng qua! Hãy suy nghĩ: nếu cái chóng qua mà còn được vinh quang như thế, thì cái tồn tại mãi mãi lại chẳng vinh quang hơn sao? (x. 2 Cr 3,11**).


2.   Cái gì trong ta và trong cuộc đời ta tồn tại vĩnh cửu?

Chỉ những gì thuộc về thế giới vĩnh cửu mới tồn tại. Cái vĩnh cửu ấy đã được gieo mầm trong tâm hồn chúng ta từ khi chúng ta bắt đầu hiện hữu. Đó là bản tính thần linh và thứ tình yêu phù hợp với bản tính ấy: «Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa» (2Pr 1,4). Trong thế giới vô thường này chúng ta có thể vun trồng và làm cho bản tính thần linh và tình yêu cao cả ấy lớn lên bằng những tư tưởng, lời nói và việc làm cụ thể phù hợp với bản tính và tình yêu ấy. Nói cách khác, bằng cách làm theo ý của Thiên Chúa: «Còn hễ ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo. Căn cứ vào đó, chúng ta biết được mình đang ở trong Thiên Chúa» (1Ga 2,5). Bản tính hay tình yêu thần linh ấy sẽ mất đi nếu ta cứ hành động ngược lại những gì mà bản tính hay tình yêu ấy đòi hỏi: «Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?» (1Ga 3,17).

3.   Chúng ta đang hành động thế nào? kiểu khôn hay kiểu dại?

Người khôn thì nhắm lợi ích lâu dài, còn kẻ dại chỉ nhắm lợi ích trước mắt. Nguyên tắc ấy ai cũng biết, nhưng trong thực tế người ta vẫn sống ngược lại nguyên tắc khôn ngoan ấy do bị lóa mắt vì những lợi ích trước mắt. Chẳng hạn, ai cũng biết câu: «Quan nhất thời, dân vạn đại». Nhưng trong xã hội, biết bao kẻ sẵn sàng luồn cúi, nịnh bợ những ông tham quan, những thủ trưởng bất tài thất đức vốn chỉ tại chức một thời gian nào đó, chỉ để họ ban phát cho mình chút ân huệ mà sẵn sàng làm hại anh em, bạn bè mình, bất chấp mình phải sống cả đời giữa những người thân yêu ấy. Biết bao kẻ sẵn sàng ca tụng, nịnh hót những ông vua, những chế độ bạo tàn, chỉ vì chút quyền lợi nay còn mai mất của mình, bất chấp sự nịnh hót đó bất lợi cho toàn dân, trong đó có biết bao người thân mình đang phải sống với, phải gặp mặt hằng ngày, và sẽ có lúc trong đời mình phải cần tới họ, phải nhờ họ cưu mang! Những kẻ dại dột ấy sợ bị thất sủng trong hiện tại trước mặt kẻ quyền thế hơn sợ bị miệng đời nguyền rủa mãi mãi! Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy những kẻ sẵn sàng bán đứng anh em mình, những kẻ sống không có hậu ấy thường kết thúc cuộc đời trong đau khổ, cô đơn, và nhục nhã!

Cũng vậy, thật dại dột những người chỉ biết có lợi ích chóng qua đời này, không nghĩ gì đến hạnh phúc lâu dài đời sau! Của cải, quyền lực, địa vị, danh vọng. tất cả đều sẽ qua đi như lời Thánh Gioan: «Thế gian đang qua đi cùng với những dục vọng của nó. Chỉ những ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa mới tồn tại mãi mãi» (1 Ga 2,17). Chỉ những gì vĩnh cửu mới tồn tại lâu dài!


4.   Ngày cùng tận của thế gian

Mọi sự trong thế gian đều có ngày cùng tận, và ngay cả chính thế gian cũng có ngày cùng tận của nó. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nói về ngày cùng tận của thế gian và những điềm báo trước ngày ấy. Điềm Ngài nói tới trước hết là các ngôn sứ giả đội lốt chiên (x. Mt 7,15***) mạo danh người của Thiên Chúa (x. Lc 21,8****) để lường gạt nhiều người (Mt 21,11), nhờ thế họ được thế gian trọng vọng và ưu đãi (x. Lc 6,26*****). Điềm kế tiếp là chiến tranh giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, cùng với các thiên tai (động đất, bão lụt, dịch tễ, đói kém.). Trong thời gian ấy, những người công chính hay các ngôn sứ thật bị bắt bớ, ngược đãi, bách hại, cầm tù, hãm hại. Theo lời Đức Giêsu, thời này là một cơ hội tốt để người Kitô hữu làm chứng cho Thiên Chúa, cụ thể là làm chứng cho công lý và tình yêu của Ngài. Chính vì làm chứng như thế mà họ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp, kết án, làm mặt lạ, bị mọi người thù ghét, bỏ rơi, thậm chí bị giết. Nhưng không một sự gì xảy ra ngoài thánh ý Thiên Chúa: dù chỉ «một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu!» (Lc 21,18). Hãy tự hỏi ta có quan tâm đến việc làm chứng cho Ngài, cho công lý và tình thương không?

Cứ xem thời điềm thì biết được thời đó sắp đến hay chưa. Người khôn ngoan thì luôn tỉnh thức vì biết rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm (1Tx 5,2). Do đó, «hãy sống như giữa ban ngày» (Rm 13,13), «sống trong ánh sáng» (1 Ga 1,7), không sống trong bóng tối kẻo «ngày ấy như kẻ trộm đến bất chợt không hay biết» (1 Tx 5,4). «Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người» (Lc 21,36). «Ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát»(Mt 10,22; 24,13; Mc 13,13*).


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, biết bao điềm mà Đức Giêsu nói về ngày cùng tận của thế gian đang xảy ra trước mắt con, nhưng dường như chúng không ảnh hưởng gì đến thái độ nội tâm của con và của bao người chung quanh con. Con vẫn sống như thể con sẽ tồn tại mãi, như thể địa vị và hoàn cảnh tốt đẹp của con sẽ tồn tại mãi, như thể thế gian và mọi sự trong đó sẽ tồn tại mãi! Xin cho con ý thức được thái độ như thế thật là ngu xuẩn. Xin cho con biết tỉnh thức như Đức Giêsu đã cảnh báo, để khi ngày cùng tận ấy xảy đến, con vẫn luôn đứng vững trước mặt Cha. Amen.




___________________

Phụ Chú:

Có những câu Kinh thánh được giới thiệu trong bài nhưng chưa được trích dẫn (có đánh dấu hoa thị *), xin ghi ra đây để Quý Vị dễ dàng tham khảo:

* 1Cr 7,31b => Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi
   1Ga 2,17 => Thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi

** 2 Cr 3,11 => Nếu cái chóng qua mà còn được vinh quang, thì cái còn mãi lại chẳng vinh quang hơn sao?

*** Mt 7,15 => Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi

**** Lc 21,8 => Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây”, và: “Thời kỳ đã đến gần”; anh em chớ có theo họ.

***** Lc 6,26 => Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế

* Mt 24,13 => Kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát
   Mc 13,13 => Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát




Share:

TN33 - Nguyên nhân sự suy tàn của tôn giáo

CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 33 Thường Niên

(13-11-2016)


Nguyên nhân sự suy tàn của các tôn giáo

ĐỌC LỜI CHÚA

  Ml 3,19-20a: (19) Vì này Ngày ấy đến, đốt cháy như hoả lò. Mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ. Ngày ấy đến sẽ thiêu rụi chúng - Đức Chúa các đạo binh phán - không còn chừa lại cho chúng một rễ hay cành nào.

  2 Tx 3,7-12: (8) Chúng tôi đã chẳng ăn bám ai, trái lại đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả, để khỏi nên gánh nặng cho người nào trong anh em.


  TIN MỪNG: Lc 21,5-19

Bài giảng về sự sụp đổ của thành Giêrusalem

(5) Nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: (6) «Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào». (7) Họ hỏi Người: «Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước?» 

 (8) Đức Giêsu đáp: «Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây”, và: “Thời kỳ đã đến gần”; anh em chớ có theo họ. (9) Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu». (10) Rồi Người nói tiếp: «Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. (11) Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện. 

 (12) «Nhưng trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. (13) Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. (14) Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. (15) Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được. (16) Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. (17) Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. (18) Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. (19) Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Có vật nào trên thế gian có ngày sinh ra mà không có ngày biến mất không? Thế giới này có ra khỏi định luật đó không? Các tôn giáo thì sao? 
2. Các tôn giáo bị suy thoái, đánh mất tinh thần và sức sống ban đầu là do nguyên nhân nào? Ai chịu trách nhiệm? 
3. Quá coi trọng phương tiện mà quên đi mục đích sẽ dẫn đến hậu quả gì? Những phương tiện tối cần để đạt mục đích có thể làm hại chính mục đích ấy không? Tại sao?

Suy tư gợi ý:

1.  Định luật «thành, trụ, hoại, không» trong vũ trụ 

Mọi vật trong thế giới hiện tượng này đều phải tuân theo định luật «thành, trụ, hoại, không», nghĩa là mọi vật đều được sinh ra và tồn tại, nhưng trong khi tồn tại thì lại bị hư hoại dần, rồi tới một lúc nào đó thì biến mất khỏi vũ trụ. Mọi công trình, mọi đoàn thể, mọi quốc gia, mọi tôn giáo, mọi thiên thể, mọi thế giới, hễ đã có lúc khởi đầu sinh ra thì cũng có lúc bị thoái hóa rồi biến mất. Đó là định luật bất di bất dịch cho thế giới hiện tượng. Chỉ những gì thuộc thế giới siêu hình và vĩnh cửu mới thoát khỏi định luật ấy.

2.  Các tôn giáo cũng bị suy thoái và có ngày suy tàn

Tôn giáo cũng có lúc suy tàn theo định luật trên. Cụ thể nhất là Do Thái giáo, một tôn giáo được chính Thiên Chúa thiết lập mà người Do Thái xưa tưởng rằng sẽ tồn tại vĩnh cửu và lan tràn khắp thế giới. Tôn giáo này đã có lúc suy thoái vì chỉ còn là hình thức tôn giáo bên ngoài, bị trống rỗng nội dung tâm linh bên trong, nên đã được thay thế bằng Kitô giáo. Sự suy tàn của các tôn giáo thường được báo hiệu bằng sự suy đồi về tinh thần. Nghĩa là các tín hữu của tôn giáo không còn nắm được tinh thần hay cốt tủy của tôn giáo mình nữa, mà chỉ nắm được phần hình thức hay cái vỏ bên ngoài của tôn giáo. Thánh Phaolô đã báo trước điều đó trong thư gửi cho Timôthê: «Anh hãy biết điều này: vào những ngày sau hết sẽ có những lúc gay go. Hình thức của đạo thánh thì họ còn giữ, nhưng cái chính yếu thì đã chối bỏ» (2Tm 3,1.5). Chính Đức Giêsu cũng đã từng bi quan về thời suy tàn ấy: «Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?» (Lc 18,8b). Vì người mang danh có đức tin thì vô số, nhưng người thật sự tin – nghĩa là thể hiện đức tin thành cuộc sống – thì chẳng bao nhiêu.

3.  Một nguyên nhân suy thoái của tôn giáo: các ngôn sứ giả

Sự suy đồi hay biến chất này thường là do các ngôn sứ giả trong mọi thời đại tạo nên. Các ngôn sứ giả này không phải là ít, thánh Gioan cho biết: «Ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian» (1Ga 4,1). Các ngôn sứ giả của mọi thời đại đều có những đặc tính tương tự như các ngôn sứ giả thời của Đức Giêsu.  Ngài mô tả họ là hạng người «nói mà không làm» (Mt 23,3), là «những kẻ dẫn đường mù quáng» (Mt 23,16.24). Vì họ thường quan trọng hóa những điều phụ thuộc và bỏ qua những điều chính yếu, rồi dạy người khác như vậy: «Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình nhân ái và lòng chân thành» (Mt 23,23; x. 23,16-22*). Họ thường chú trọng những hình thức bên ngoài, mà coi thường tinh thần ở bên trong: «Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ» (Mt 23,15). Họ vinh danh ca tụng các ngôn sứ thời xa xưa, nhưng lại ra tay bách hại và giết chết những ngôn sứ đồng thời với mình (x. Mt 23,29-31**). V.v…

Những ngôn sứ giả này «lừa gạt được nhiều người» (Mt 24,11), «lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn» (Mt 24,24), bề ngoài «họ đội lốt chiên» nhưng «bên trong, họ là sói dữ tham mồi» (Mt 7,15). Để nhận diện họ, Đức Giêsu cho ta một tiêu chuẩn: «Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai» (Mt 7,16.20), nghĩa là căn cứ vào những việc họ làm, cách họ đối xử với nhau hoặc với người khác, thì biết họ là hay không là người của Thiên Chúa. Vì «cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.  Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7,17-18). Đức Giêsu còn cho ta một tiêu chuẩn chắc chắn khác để biết ai là môn đệ đích thực của Ngài, là người của Thiên Chúa: «Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau» (Ga 13,35). Như vậy, người không có tình thương, đối xử với tha nhân thiếu tình nghĩa, thì đó là một dấu hiệu chắc chắn cho thấy họ không phải là ngôn sứ hay tông đồ đích thực.

4.  Cảnh báo của Đức Giêsu: coi chừng bị lừa gạt

Đức Giêsu cảnh báo: «Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây”, và: “Thời kỳ đã đến gần”; anh em chớ có theo họ» (Lc 21,8). Vào thời cuối cùng, sẽ có nhiều kẻ lường gạt, họ tự xưng là người của Chúa, đến từ Thiên Chúa, thậm chí có thể «làm những dấu lạ và những việc phi thường» (Mt 24,24b). Mục đích của họ, vô tình hay hữu ý, là làm người ta xa Chúa, xa chân lý, xa lìa tinh thần của Thiên Chúa. 

Phương cách của họ, như đã nói ở trên, là cứ quan trọng hóa những điều phụ thuộc – vốn cũng rất tốt – để người ta quên đi hoặc không biết đến những điều chính yếu, cứ nhấn mạnh đến những phương tiện để làm người ta quên đi mục đích. Chẳng hạn, tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân là tinh thần quan trọng nhất, là cốt tủy của đạo Chúa, còn việc cầu nguyện, việc cử hành các nghi thức, v.v… là những phương tiện cần thiết để có thể sống yêu thương. Nhưng nhiều người chỉ nhấn mạnh đến những phương tiện đó, làm như đó là điều cốt tủy của đạo Chúa, khiến người ta quên mất hoặc coi nhẹ việc sống yêu thương. 

Nếu sử dụng phương tiện mà không biết hoặc không nhắm đạt đến mục đích, thì phương tiện ấy có ích lợi gì? Muốn viết một bài thì phải dùng cây viết, không có cây viết thì không viết bài được. Nhưng nếu cứ mải lo tìm cho thật nhiều cây viết, mà quên đi việc viết hay chẳng chịu viết gì cả, thì những cây viết ấy – dù nhiều hay quý giá đến đâu – nào có ích lợi gì?

Cốt tủy của đạo Chúa nằm ở chỗ yêu thương nhau, chứ không nằm ở chỗ cầu nguyện, các bí tích, các nghi thức, mặc dù những thứ này rất cần thiết để thực hiện được cái cốt tủy kia. Nhưng khi quá chú trọng đến những phương tiện đó, thì chúng sẽ trở thành nguyên nhân làm người ta quên đi mục đích chính yếu kia. Như thế, phương tiện thay vì dẫn đến mục đích thì lại làm người ta lạc hướng. Đức Giêsu không nói: «Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em cầu nguyện nhiều, cử hành hay lãnh nhận bí tích cho nhiều, v.v…» mà nói: «Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau» (Ga 13,35). 

Ngày phán xét, Thiên Chúa không xét xem ta có cầu nguyện hay lãnh nhận bí tích thế nào, mà chỉ xét xem ta yêu thương tha nhân thế nào (x. Mt 25,31tt***; xem thêm 5,23-24****: «Hãy để của lễ lại… đi làm hòa trước đã…»). Điều này cho thấy cốt tủy của Kitô giáo, của người tông đồ Chúa không phải là cầu nguyện hay thực hiện các bí tích cho bằng sống yêu thương. Coi cầu nguyện hay các bí tích quan trọng hơn cả tinh thần yêu thương là phản Kitô giáo.

Đạo Chúa bị biến chất và cuối cùng không phát triển được cũng vì có nhiều người đã hướng dẫn tâm linh không đúng với chiều hướng của Đức Giêsu, khiến cho đạo Chúa ở nhiều nơi chỉ còn là hình thức, là cái vỏ bên ngoài. Chính họ góp phần làm cho đạo Chúa bị suy tàn. Một tôn giáo nếu chỉ còn cái vỏ là tôn giáo, mà tinh thần bên trong không còn như Đấng sáng lập muốn, thì chỉ tồn tại một cách hình thức như một cái vỏ rỗng ruột mà thôi.

Tuy nhiên, Giáo Hội mà Đức Giêsu đã thiết lập, vốn luôn luôn thánh thiện và tinh tuyền − mà thường bị hiểu một cách hạn hẹp là Đạo Công giáo − sẽ tồn tại mãi qua thời gian, như lời Ngài đã nói: «Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Ðá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi» (Mt 16,18). Phêrô, hay Tảng Đá, đại diện cho tất cả những ai tin thậtsống thật niềm tin của mình, niềm tin vững chắc vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu, như Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng: «Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống» (Mt 16,17). Những người tin thậtsống thật như Phêrô, chứ không phải ai khác, mới chính là Tảng Đá, là nền móng vững chắc cho Giáo Hội mà Đức Giêsu đã thiết lập.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu đã báo trước sự suy tàn của thế giới trong bài Tin Mừng trên, và sự suy thoái nơi đạo của Ngài trong câu: «Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?» (Lc 18,8b). Thánh Phaolô cũng cho biết: «Vào những ngày sau hết sẽ có những lúc gay go. Hình thức của đạo thánh thì người ta còn giữ, nhưng cái chính yếu thì đã chối bỏ» (2Tm 3,1.5). Xin Cha giúp con và mọi Kitô hữu hiểu được cái chính yếu của đạo thánh Cha là gì, để con không chỉ giữ những hình thức bên ngoài, mà còn có được cả cái cốt yếu bên trong nữa. Xin đừng để đạo của Cha bị suy thoái nơi bản thân con.

Nguyễn Chính Kết




_____________________

Phụ Chú:

Có những câu Kinh thánh được giới thiệu trong bài nhưng chưa được trích dẫn (có đánh dấu hoa thị *), xin ghi ra đây để Quý Vị dễ dàng tham khảo:


* Mt 23,16-22 => “Khốn cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng! Các người bảo: “Ai chỉ Ðền Thờ mà thề, thì có thề cũng như không; còn ai chỉ vàng trong Ðền Thờ mà thề, thì bị ràng buộc”. Ðồ ngu si mù quáng! Thế thì vàng hay Ðền Thờ là nơi làm cho vàng nên của thánh, cái nào trọng hơn? Các người còn nói: “Ai chỉ bàn thờ mà thề, thì có thề cũng như không; nhưng ai chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề thì bị ràng buộc”. Ðồ mù quáng! Thế thì lễ vật hay bàn thờ là nơi làm cho lễ vật nên của thánh, cái nào trọng hơn? Vậy ai chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ và mọi sự trên bàn thờ mà thề. Và ai chỉ Ðền Thờ mà thề, là chỉ Ðền Thờ và Ðấng ngự ở đó mà thề. Và ai chỉ trời mà thề, là chỉ ngai Thiên Chúa và cả Thiên Chúa ngự trên đó mà thề. 

** Mt 23,29-31 => “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính. Các người nói: “Nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ”. Như vậy, các người tự làm chứng rằng các người đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ.

*** Mt 25,31tt => “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Ðức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm”. bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu?” Ðể đáp lại, Ðức Vua sẽ bảo họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Rồi Ðức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom”. Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc là trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?” Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy”. Thế là họ sẽ ra đi, bọn này để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính, để hưởng sự sống muôn đời”.

**** Mt 5,23-24 => nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. 









Share:

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

TN32 - Ảnh hưởng của cuộc sống hiện tại đối với cuộc sống mai hậu


CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên
(06-11-2016)



Ảnh hưởng của cuộc sống hiện tại đối với cuộc sống mai hậu
(Bài thứ hai)


ĐỌC LỜI CHÚA

  2Mcb 7,1-2.9-14: (9) Chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời.

  2Tx 2,16-3,5: (16) Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta, đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp.

  TIN MỪNG: Lc 20,27-38

Vấn đề kẻ chết sống lại

(27) Có mấy người thuộc nhóm Xađốc đến gặp Đức Giêsu. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. (28) Mấy người ấy hỏi Đức Giêsu: «Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. (29) Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. (30) Người thứ hai, (31) rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. (32) Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. (33) Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?»

(34) Đức Giêsu đáp: «Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, (35) chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. (36) Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. (37) Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Ixaác, và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. (38) Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống». 


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Bạn nghĩ gì về việc nhóm Xađốc dùng kinh nghiệm cuộc đời này để áp dụng cho đời sống vĩnh cửu? Cách hiện hữu và sinh hoạt trong đời sống vĩnh cửu có giống như cách hiện hữu và sinh hoạt trong đời sống hiện tại không?

2.  Một bào thai trong bụng mẹ - giả như biết suy nghĩ - có thể tưởng tượng được gì về cuộc sống sau khi ra khỏi bụng mẹ không? Tương tự, ta có thể nghĩ hay tưởng tượng được gì về đời sống vĩnh cửu mai hậu không?

3.  Đời sống mai hậu có thể là một đời sống im lìm, chỉ làm một việc duy nhất nào đó không? Hay là một đời sống hoạt động và làm việc như Thiên Chúa là Đấng luôn luôn làm việc?

Suy tư gợi ý:

1.  Mọi Kitô hữu đều tin vào sự sống lại

Nói chung, hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều tin rằng con người còn có một đời sống khác ngoài cuộc sống ở đời này. Nói cách khác, sự hiện hữu của mỗi con người thì rất lâu dài, còn đời sống tại thế này chỉ là một giai đoạn hết sức ngắn ngủi của sự hiện hữu ấy. Và cách thức con người sống trong đời sống tại thế này là một yếu tố quan trọng quyết định tình trạng của đời sống hậu thế.

Kitô giáo cũng chủ trương như thế, nhưng niềm tin vào cuộc sống mai hậu còn có những nét đặc thù riêng. Người Kitô hữu tin rằng không chỉ có linh hồn tham dự vào cuộc sống mai hậu, mà cả thân xác cũng sẽ sống lại sau khi hư nát một thời gian, để tham dự vào sự sống thần linh và vĩnh cửu đời sau. Thân xác ấy sẽ được biến đổi để phù hợp với cách hiện hữu mới ấy. Niềm tin vào sự sống lại được xây dựng trên nền tảng sự sống lại của Đức Giêsu, mà các tông đồ là những người đã thấy tận mắt, đã sẵn sàng chịu đau khổ và chết để làm chứng. «Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng» (Cv 2,32; x. Cv 10,41). Đây là một trong những niềm tin căn bản nhất của người Kitô hữu, đến nỗi có thể nói ai không tin vào sự sống lại thì không phải là người Kitô hữu.


2.  Đời sống mai hậu là một thực tại siêu nghiệm

Trong bài Tin Mừng hôm nay, nhóm Xađốc đã đưa ra một vấn nạn về cuộc sống mai hậu dựa trên ý nghĩ cho rằng cuộc sống ấy cũng có vợ có chồng, và vợ chồng cũng sống chung với nhau như ở trần gian. Nếu như thế thì vấn nạn họ đặt ra thật khó giải quyết: trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy anh em đều đã lấy nàng làm vợ?. Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu cho ta biết trật tự, cách tổ chức, sinh hoạt, cách thế hiện hữu trong cuộc sống mai hậu không giống như cuộc sống đời này. Không thể lấy kinh nghiệm hiện hữu của cuộc sống này để áp dụng vào việc suy đoán cách hiện hữu của cuộc sống mai hậu. Đối với cuộc sống mai hậu, con người không hề có một kinh nghiệm nào và cũng không có một từ ngữ nào tương xứng để diễn tả. Thánh Phaolô có nói về sự siêu nghiệm ấy như sau: «Điều mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người là điều mà mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ được» (1 Cr 2,9).

Tương tự như một anh chàng bị mù từ bẩm sinh, chưa hề có một kinh nghiệm gì về màu sắc. Đối với anh, không thể có cách giải thích nào giúp anh hiểu được màu sắc như người sáng mắt cả. Nếu anh hỏi màu sắc có phải tương tự như một cái gì đấy mà anh đã từng kinh nghiệm không, thì ta phải trả lời rằng không. Vì kinh nghiệm về màu sắc là một kinh nghiệm độc đáo của thị giác, mà những giác quan khác dù có tinh nhuệ đến đâu cũng không thể nào có được. Dùng những kinh nghiệm của các giác quan khác để diễn tả về màu sắc thì cũng giống như việc lấy giấy để làm nhà, hay lấy thước để đo độ lớn sự khôn ngoan của một người vậy.


3. Những gì xảy ra trong cuộc đời này có thể có liên hệ và ảnh hưởng đến đời sống mai hậu 

Cuộc đời này tuy ngắn ngủi, nhưng lại rất quan trọng: nó ảnh hưởng một cách quyết định đến cách thế hiện hữu của ta trong cuộc sống mai hậu. Một người sống đầy tình người, đầy yêu thương ở đời này chắc chắn tình trạng đời sau sẽ khác hẳn với người đời này sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình. Đời này là nhân, đời sau là quả: nhân nào sinh quả nấy, cây nào sinh trái nấy, «cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7,17-18). Người làm tốt sẽ được thưởng, người làm điều xấu sẽ bị phạt như thư Rôma và sách Khải huyền viết: «Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm» (Rm 2,6; Kh 2,23).

Cuộc sống ở đời này có nhiều điều xảy đến hết sức phi lý đến nỗi không thể hiểu hay cắt nghĩa được. Nhưng nếu có đời sống mai hậu, thì ta có thể an tâm chấp nhận sự không thể hiểu hay cắt nghĩa được ấy. Cuộc sống này so với cuộc sống mai hậu cũng phần nào tương tự như cuộc sống của ta trong bụng mẹ so với cuộc sống của ta ở ngoài đời. Khi ở trong bụng mẹ, nếu ta biết suy nghĩ và lý sự như hiện nay, chắc chắn ta sẽ nhận ra nhiều điều thật phi lý hoặc không thể cắt nghĩa được. Lúc đó ta sẽ không thể nào hiểu được Trời sinh ra đôi tai, cặp mắt, đôi tay, đôi chân là để làm gì, vì chúng hoàn toàn vô dụng trong cuộc sống bào thai. Chỉ khi ra khỏi bào thai, sống cuộc đời trần thế, ta mới thấy được sự hết sức hợp lý và dễ hiểu của những điều ta cho là hết sức phi lý kia. Cũng vậy, nhiều điều mà ta không thể hiểu nổi hiện nay - những đau khổ, những bất công, những phi lý trong cuộc đời hiện tại - sẽ trở thành hết sức hợp lý và dễ hiểu khi chúng ta bước vào đời sống mai hậu.


4. Đời sống mai hậu sẽ ra sao?

Đời sống mai hậu hoàn toàn vượt khỏi khả năng tưởng tượng và suy đoán của con người. Dù biết như thế, nhưng vì Thiên Chúa ban cho con người khả năng tưởng tượng và suy đoán, nên tôi vẫn thử sử dụng khả năng ấy một chút để mình có một hướng suy nghĩ hay hành động cho mình trong cuộc đời này. Những suy nghĩ sau đây là của riêng tôi, hoàn toàn mang tính cá nhân, nhưng tôi cảm thấy nó có ích ít là cho riêng tôi.

Tôi cho rằng sau khi chết, con người sẽ có một đời sống vĩnh cửu khác hẳn với đời sống hiện tại. Con người sẽ làm gì trong cái vĩnh cửu ấy? Chắc hẳn con người sẽ không ngồi một chỗ để nhìn ngắm Thiên Chúa, để ca tụng ngợi khen Ngài mãi mãi. Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa luôn luôn làm việc: «Cho đến nay, Cha tôi vẫn luôn luôn làm việc, thì tôi cũng làm việc» (Ga 5,17), nên chắc chắn là dù có ở thiên đàng thì ta cũng vẫn làm việc. Thiên Chúa sẽ mời gọi chúng ta tiếp tục cộng tác vào công việc sáng tạo mới của Ngài, với những công trình hoàn toàn mới. Từ xưa đến nay, Ngài vẫn luôn luôn mời gọi mọi người cộng tác vào công việc của Ngài. Có điều khác là sự làm việc ở trên thiên đàng không phát sinh mệt nhọc và đau khổ như ở dưới thế, mà là nguồn phát sinh cảm hứng và hạnh phúc. Và chắc chắn không phải mọi người đều cùng làm một việc như nhau, nếu thế thì thiên đàng chán ngắt, mà trái lại công việc sẽ rất đa dạng.

Nhưng làm sao ta có thể làm được những công việc ấy nếu chúng ta không được huấn luyện trước hay không có một kinh nghiệm gì? Tôi có cảm tưởng rằng cuộc đời này chính là một trường đào tạo tay nghề cho những công việc của đời sống mai hậu. Chính vì thế, ở đời này, Thiên Chúa đã để cho biết bao việc xảy đến để chúng ta tập đối phó, để luyện những đức tính cần thiết, để rút kinh nghiệm, để rèn đúc sự khôn ngoan, v.v. 

Rất có thể Thiên Chúa sẽ tạo lập những thế giới mới và cho chúng ta cai quản, như Đức Giêsu đã từng hé mở điều ấy qua dụ ngôn mười nén bạc (x. Lc 19,11-27). Nhà vua nói với người nhận một nén và đã làm lợi thành mười nén: «Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi ! Vì anh đã trung thành trong việc rất nhỏ, thì hãy cầm quyền cai trị mười thành». Ngài nói với người làm lợi được năm nén: «Anh cũng vậy, anh hãy cai trị năm thành». Còn với kẻ chôn cất nén bạc và không làm lợi gì, nhà vua nói: «Hãy lấy lại nén bạc nó giữ mà đưa cho người đã có mười nén». So với người được cai trị năm thành, chắc chắn người được cai trị mười thành trước đó phải chịu khó nhọc vất vả hơn, nhờ đó học hỏi được nhiều kinh nghiệm hơn, và vì thế xứng đáng cai trị nhiều thành hơn.

Vì tưởng tượng và suy nghĩ như thế, nên tôi tin rằng tất cả mọi phi lý bất công xảy đến cho tôi trong cuộc đời này đều có ý nghĩa của nó. Tất cả đều do Thiên Chúa đầy khôn ngoan gửi đến cho tôi để tôi tập luyện bản lĩnh của mình, hầu trở nên một người cộng tác đắc lực với Ngài trong công trình sáng tạo mới của Ngài mai sau. Viễn cảnh tưởng tượng ấy cho dẫu không đúng, thì nó cũng giúp tôi rất nhiều trong việc làm cho cuộc đời tôi có ý nghĩa và có đích hướng tới, đồng thời giúp tôi có hướng giải thích nhiều chuyện xảy ra trong cuộc đời mà trí khôn bình thường cho là phi lý và không thể chấp nhận được.


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con nhận thức được tầm quan trọng của cuộc sống này trong việc chuẩn bị và quyết định cho số phận vĩnh cửu đời sau. Xin cho con hiểu và nhận ra được sự khôn ngoan quan phòng rất tuyệt vời của Cha trong tất cả mọi biến cố xảy đến cho con ở đời này nhằm chuẩn bị hạnh phúc cho con ở đời sau. Amen.







Share:

TN32 - Tình trạng con người sau khi sống lại từ cõi chết


CHIA SẺ TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên

(06-11-2016)

Tình trạng con người sau khi sống lại từ cõi chết

ĐỌC LỜI CHÚA

  2Mcb 7,1-2.9-14: (9) Chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời.

  2Tx 2,16-3,5: (16) Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta, đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp.


  TIN MỪNG: Lc 20,27-38

Vấn đề kẻ chết sống lại
(27) Có mấy người thuộc nhóm Xađốc đến gặp Đức Giêsu. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. (28) Mấy người ấy hỏi Đức Giêsu: «Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. (29) Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. (30) Người thứ hai, (31) rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. (32) Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. (33) Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?»

(34) Đức Giêsu đáp: «Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, (35) chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. (36) Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. (37) Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Ixaác, và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. (38) Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống». 


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Lập luận của Đức Giêsu nhằm giải đáp vấn nạn của nhóm Xađốc có vững chắc và khôn ngoan không? Qua giải đáp ấy, Ngài mặc khải điều gì?

2.  Sau khi sống lại, thân xác sống lại của ta có phải là chính thân xác ta đang có không? Có gì khác lạ không? Có những nhu cầu như thân xác hiện tại không?

3.  Cuộc sống trần thế của ta hiện nay có ích lợi gì cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau không? Mọi sự xảy ra trong cuộc sống này có liên quan gì đến cuộc sống vĩnh cửu không? Liên quan thế nào?

Suy tư gợi ý:

1.  Bối cảnh của bài Tin Mừng

Không chỉ nhóm Pharisêu mà cả nhóm Xađốc cũng muốn gài bẫy Đức Giêsu. Nhóm Xađốc là phe bảo thủ trong giới lãnh đạo tôn giáo của Do Thái: các tư tế Do Thái thường xuất thân từ nhóm này. Nhóm này chỉ công nhận 5 cuốn sách do Môsê viết (Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật) là Thánh Kinh mà thôi. Trong những sách này, Môsê không hề đề cập đến việc sống lại, nên họ chủ trương không có sự sống lại. Việc sống lại để sống vĩnh cửu chỉ được đề cập đến trong những sách Cựu ước khác, chẳng hạn trong quyển thứ hai Macabê (như bài đọc 1 của Chúa Nhật này; xem thêm 2Mcb 12,43-44), sách ngôn sứ Isai (x. Is 26,19). Nhóm Pharisêu không chỉ công nhận giá trị mặc khải của 5 cuốn sách do Môsê viết, mà còn công nhận những sách khác nữa, nên họ chủ trương có sự sống lại. Do đó, hai nhóm luôn tranh luận và bất đồng ý kiến với nhau về vấn đề này. 

Nay nhóm Xađốc muốn thử Đức Giêsu bằng một vấn nạn đã từng làm cho nhóm Pharisêu bị đuối lý, không trả lời được. Họ hy vọng cũng sẽ làm Ngài phải câm miệng. Nhưng Đức Giêsu đã dựa vào chính lời của Môsê – mà họ công nhận có giá trị mặc khải – để chứng minh lập trường của Ngài, khiến họ phải câm miệng. Nếu họ dựa vào Môsê để xác nhận không có sự sống lại chỉ vì ông không minh nhiên đề cập đến sự sống lại, thì Ngài cũng dựa vào chính Môsê để minh chứng ngược lại. Nhóm Pharisêu vì thế cũng phải bái phục Ngài: «Mấy người thuộc nhóm kinh sư lên tiếng nói: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm!”» (Lc 20,39)).


2.  Lập luận của Đức Giêsu về sự sống lại

Giả thiết của người Xađốc về 7 anh em trai làm chồng của cùng một người phụ nữ xuất phát từ luật Môsê: «Khi có những anh em ở chung với nhau, và một trong những người đó chết mà không có con trai, thì vợ của người chết không được lấy một người xa lạ, ngoài gia đình; một người anh em chồng sẽ đến với nàng, lấy nàng làm vợ và chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với nàng. Đứa con đầu lòng nàng sinh ra sẽ duy trì tên của người anh em đã chết; như vậy tên của người chết sẽ không bị xoá khỏi Ítraen» (Đnl 25,5-6). Người Xađốc đặt vấn đề: như vậy, giả như có sự sống lại, thì người phụ nữ ấy sẽ là vợ của ai? – Trả lời câu đó không xuôi thì ai chủ trương có sự sống lại sẽ bị đuối lý. 

Để trả lời vấn nạn ấy, Đức Giêsu dùng chính lời của Môsê tường thuật về việc Thiên Chúa hiện ra với ông lần đầu trên núi Sinai. Thiên Chúa phán với ông: «Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Ixaác, Thiên Chúa của Giacóp» (Xh 3,6). Trong sách Đệ Nhị Luật, Môsê minh xác rằng Thiên Chúa phán với ông hôm đó là «Thiên Chúa hằng sống» (Đnl 5,26). Nếu Ngài hằng sống, thì Ngài không thể là Thiên Chúa của người chết, mà chỉ có thể là Thiên Chúa của người sống. Khi phán với Môsê câu trên, thì các tổ phụ Ápraham, Ixaác, Giacóp đã qua đời. Nếu Thiên Chúa hiện ra với Môsê vẫn xác nhận rằng Ngài là Thiên Chúa của các tổ phụ ấy, thì chứng tỏ các tổ phụ vẫn đang sống, vì Ngài không thể là Thiên Chúa của những người chết. Nếu các tổ phụ ấy không còn sống, thì Thiên Chúa đã không phán với Môsê như vậy! 

Còn người đàn bà có 7 người chồng kia sau khi sống lại sẽ là vợ của ai? Thật khó chấp nhận được bà ấy lại làm vợ cùng một lúc của tất cả 7 người đàn ông kia (hiểu ngầm có những sinh hoạt vợ chồng như ở trần gian)! – Đức Giêsu trả lời: «Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng» (Lc 20,34-35). Ý Ngài muốn nói: sau khi sống lại, thân xác con người không còn những nhu cầu như khi còn tại thế nữa. Vì thân xác con người sẽ được biến đổi, tuy vẫn là chính là thân xác cũ, nhưng lại rất khác với thân xác cũ. 

Thánh Phaolô minh họa tương quan giữa thân xác cũ và thân xác sống lại như hạt lúa và cây lúa do hạt ấy mọc lên (x.1Cr 15,35-38). Cây lúa là chính hạt lúa ấy biến đổi mà thành, nhưng lại rất khác với hạt lúa. Cũng vậy, thân xác sau khi sống lại rất khác với thân xác hiện nay, dù cũng chính là thân xác đó. Phần nào tương tự như thân xác của tôi hiện nay cũng chính là thân xác của tôi hồi còn con nít, nhưng rất khác với thân xác hồi ấy. Về sự khác biệt nhưng vẫn chính là một giữa thân xác sống lại và thân xác hiện nay, thánh Phaolô viết tiếp: «Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí» (1Cr 15,42-44).

Vì thế, sau khi sống lại, con người không còn nhu cầu sống theo vợ chồng như ở trần gian, nên không còn vấn đề người nào là chồng hay là vợ của ai. Lúc đó, họ đều «là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại» (Lc 20,36), và đều là anh em với nhau, có cùng một người cha chung là Thiên Chúa.

3.  Suy tư về sự sống lại

Sự sống ở trần gian này chỉ là tạm bợ so với sự sống vĩnh cửu đời sau. Tương tự như sự sống dài 9 tháng của ta trong bụng mẹ so với sự sống «ba vạn sáu ngàn ngày» tại thế của ta sau khi ta sinh ra. Nếu trong bụng mẹ mà ta biết suy nghĩ, hẳn sẽ có rất nhiều điều ta không sao hiểu nổi và ta cho là vô cùng phi lý. Tại sao Thiên Chúa, Đấng tạo dựng ta, lại để ta sống tối om và chật chội thế này? Đôi mắt dùng để nhìn có ích gì trong cảnh tối om này? Đôi tay để cầm nắm, để làm việc, đôi chân để đi lại có ích gì trong cái không gian chật chội ấy? Rất nhiều điều phi lý mà với kinh nghiệm của một bào thai ta không thể hiểu nổi! Khi ấy, ta có cảm tưởng rằng Đấng dựng nên ta thật là phi lý đến độ ngu xuẩn vì đã dựng nên những thứ thật là vô ích, chỉ làm chật chội thêm cái không gian vốn đã quá chật chội! Nhưng khi ra chào đời và lớn lên, ta mới biết đời sống trong bụng mẹ chỉ là tạm bợ hầu chuẩn bị cho cuộc sống kéo dài sau đó. Lúc đó ta mới thấy sự hiện hữu của đôi mắt và đôi tay không phải dùng cho cuộc sống bào thai, mà cho cuộc sống sau khi chào đời.

Cũng vậy, ta không chỉ sống có cuộc sống trần thế hiện tại. Đức Giêsu cho ta biết thân xác ta sẽ sống lại để sống một cuộc sống khác lâu dài vô cùng: cuộc sống vĩnh cửu. Cách thế hiện hữu sau khi sống lại rất khác với cách thế hiện hữu hiện nay. Và cuộc sống hiện nay chỉ là để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu ấy. Nếu Thiên Chúa đã chuẩn bị cuộc sống tại thế này cho ta từ cuộc sống trong bào thai một cách rất hoàn hảo, thì chắc chắn Ngài cũng đang chuẩn bị cuộc sống vĩnh cửu cho ta từ trong cuộc sống hiện tại này một cách thật hoàn hảo. 

Rất nhiều điều ta hiện nay không thể hiểu nổi và cho là vô cùng phi lý (chẳng hạn những nghịch cảnh, những đau khổ, những oan trái, v.v…) thì rồi ta sẽ thấy chúng vô cùng hữu lý khi ta bước vào đời sống vĩnh cửu. Rất có thể đời sống vĩnh cửu của chúng ta sẽ mỗi người mỗi khác, nên Thiên Chúa đang chuẩn bị cuộc sống ấy cho chúng ta mỗi người mỗi cách. Nhất cử nhất động xảy ra trong cuộc sống này của ta đều không vượt ra ngoài sự quan phòng của Ngài. Nếu «tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi» (Mt 10,30), thì chắc hẳn không một sợi nào rơi xuống, không một biến cố nhỏ nào xảy ra mà ra ngoài được ý muốn của Ngài. Vì thế, người có đức tin đích thật luôn nhận ra thánh ý Thiên Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống và vui vẻ chấp nhận cho dù mình không sao hiểu được. Vì họ tin rằng: «Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28).


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, thân xác này sẽ sống lại để sống vĩnh cửu là một trong những niềm tin căn bản nhất của Kitô giáo. Con tin chắc rằng những gì đang xảy ra với con trong cuộc sống ngắn ngủi này đều nằm trong ý muốn quan phòng của Cha, đều do Cha cho phép xảy ra để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu của con sau này. Vì thế, con sẵn sàng chấp nhận tất cả với lòng tin tưởng vào tình yêu vô biên của Cha dành cho con. Xin Cha hãy củng cố niềm tin nơi con.








Share: