Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

TN16b - Khía cạnh tích cực của sự ác và đau khổ



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 16 Thường Niên

(23-7-2017)


Bài đào sâu

Khía cạnh tích cực của sự ác và đau khổ



  TIN MỪNG: Mt 13,24-30.36-43

Dụ ngôn cỏ lùng


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Bạn nhận thấy sự ác có mặt ở những nơi nào? trong bản thân bạn? trong xã hội? trong Giáo Hội? Có nơi nào hoàn toàn vắng bóng sự ác không?
2. Sự xấu ác và hậu quả của nó là đau khổ có vai trò tích cực nào trong đời sống của ta, hay trong xã hội con người không?

Suy tư gợi ý:

1. Trên thế gian, thiện và ác đấu tranh với nhau

Bài Tin Mừng hôm nay nói đến một thực tại hết sức khó hiểu nhưng cũng hết sức phổ biến trên thế gian. Đó là sự hiện hữu của sự ác. Theo quan niệm Công giáo, trước khi con người xuất hiện, sự xấu ác đã có mặt trong vũ trụ. Thành quả đầu tiên của sự ác trên con người là làm cho ông bà nguyên tổ của con người phạm tội, và vì thế làm cho cả loài người mất đi phần nào hạnh phúc, phải đau khổ ít nhiều từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Từ đó, thế gian luôn luôn có tình trạng tốt và xấu, thiện và ác trộn lẫn nhau, xen vào nhau, trong tất cả mọi thực tại của thế gian: trong mọi người, mọi vật, mọi sự, và trong cả từng người, từng vật, từng sự. Không một sự nào, vật nào hay người nào tốt hoàn toàn hay xấu hoàn toàn, mà xấu tốt luôn luôn lẫn lộn: hay mặt này thì dở mặt kia, được cái này thì mất cái nọ. «Nhân vô thập toàn», chẳng ai được «mười phân vẹn mười» cả.

Trong một con người đã có những mặt xấu mặt tốt lẫn lộn, nên trong xã hội cũng như Giáo Hội hay trong bất kỳ tập thể con người nào, luôn luôn có kẻ tốt người xấu. Gọi là người tốt không có nghĩa người ấy tốt hoàn toàn, mà là tốt nhiều hơn xấu. Cũng vậy, gọi là kẻ xấu không có nghĩa kẻ ấy xấu hoàn toàn, mà là xấu nhiều hơn tốt.

Hai nguyên lý thiện và ác, tốt và xấu đấu tranh với nhau trong nội tâm của từng con người, và trong mỗi xã hội hay mỗi tập thể của con người. Sự ác còn gây nên đau khổ. Có thể nói sự xấu, sự ác chính là nguyên nhân của mọi đau khổ trên trần gian. Bất kỳ hành động xấu nào cũng gây nên đau khổ trước hết cho đối tượng bị nhắm tới, và cuối cùng cho chính người làm sự ác ấy. Vì có sự hiện diện của sự ác, nên thế gian không bao giờ vắng bóng đau khổ.



2. Ý nghĩa tích cực của sự ác và đau khổ

Thông thường, người ta cho sự ác và hậu quả của nó – tức đau khổ – là những thứ hoàn toàn bất lợi cho con người. Nghĩ như thế có thể chưa đạt lý và làm cho ta không thể rút ra được điều gì ích lợi từ sự ác hay đau khổ.

Thiên Chúa cho phép sự ác xuất hiện để thử thách và thanh luyện con người. Thật vậy, ngay từ nguyên thủy, Thiên Chúa đã dựng nên trong vườn địa đàng một cây «biết lành biết dữ» (St 2,17), còn gọi là cây «thiện ác», đồng thời cho phép con rắn – tức ma quỉ, hiện thân của sự ác – xuất hiện để cám dỗ con người hầu thử thách lòng trung thành và vâng phục của họ đối với Ngài. Và con người đã sa ngã (St 3,1-7). 

Sự thử thách ấy chắc chắn nằm trong ý định của Ngài, vì sự xuất hiện của con rắn sẽ không bao giờ có được nếu không được Ngài cho phép. Trong Thánh Kinh, trường hợp của ông Gióp cho thấy Thiên Chúa đồng ý cho ma quỉ thử thách, cám dỗ ông (x. G 1,12; 2,6). Sự cho phép ấy chắc chắn xuất phát từ tình thương quan phòng của Thiên Chúa, nên chắc chắn cuối cùng nó sẽ đem lại lợi ích cho con người. Điều quan trọng là chúng ta phải khám phá ra những ích lợi của sự ác hay đau khổ.


a) Sự ác và đau khổ giúp ta nhận ra sự cần thiết và ích lợi của sự thiện: 

Khi làm điều ác để thỏa mãn một thú vui nào đó, ta gây ra đau khổ cho người khác, người khác thù hận ta, trả thù ta, nên cuối cùng hậu quả của sự ác là đau khổ lại trở về với ta. Nhiều lần rút kinh nghiệm, ta dần dần nhận ra làm điều ác chẳng ích lợi gì cho ta và tha nhân, mà chỉ gây đau khổ cho chính mình. Trái lại, khi làm điều thiện, làm cho tha nhân được hạnh phúc, thì kết quả của sự thiện ấy cuối cùng rồi cũng trở về với ta, làm ta nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Càng ngày những kinh nghiệm về hậu quả của thiện và ác càng khiến ta cảm thấy cần phải xa tránh điều ác và gắn bó với điều thiện hơn.


b) Đau khổ làm ta nên hoàn hảo hơn: 

Đau khổ thường được gây ra do một sự thiếu hoàn hảo nào đó. Nếu không có đau khổ, ta dễ chấp nhận tình trạng thiếu hoàn hảo đó. Nhưng vì đau khổ làm ta không chịu được, ta bắt buộc phải ra khỏi tình trạng thiếu hoàn hảo để trở nên hoàn hảo hơn. Một minh họa cụ thể và dễ hiểu: khi ta còn nhỏ, những lần đầu tiên sử dụng dao, sự vụng về (hay thiếu hoàn hảo) làm ta bị đứt tay. Bị đứt tay đau điếng một vài lần, ta rút được kinh nghiệm để sử dụng dao khéo léo (hay hoàn hảo) hơn.


c) Sự sa ngã hay đau khổ làm ta khiêm nhượng và thông cảm với tha nhân hơn: 

Nhờ sa ngã một vài lần mà ta thông cảm nhiều hơn với những người tội lỗi hay với những sa ngã của tha nhân. Nhờ ngu một vài lần mà ta thông cảm được với những hành động ngu xuẩn của người khác. Như vậy nhờ đã từng sa ngã và ngu xuẩn mà ta trở nên khiêm nhượng và thông cảm với tha nhân hơn. Tương tự, nhờ đau khổ vì một số tình huống cụ thể (đau dạ dày, đau tim, bị giải phẫu, bị phản bội, con cái hư…) mà ta thông cảm nhiều hơn với những người cùng lâm vào tình huống như ta. Cổ nhân nói: «đồng bệnh tương lân». Nếu không lâm vào những cảnh ấy, ta không thể hiểu được những nỗi đau ấy lớn thế nào. Nhờ sự thông cảm ấy mà tình yêu của ta đối với họ tăng lên. Tình yêu và đức khiêm nhượng tăng có nghĩa là đạo đức thánh thiện tăng.


d) Tội lỗi của người khác làm ta đau khổ nhưng cũng thánh hóa ta: 

Thiên Chúa luôn luôn dùng đau khổ để thánh hóa những người Ngài yêu thương và tuyển chọn. Để tạo đau khổ cho những người Ngài muốn thánh hóa, Ngài thường dùng tay người khác, có thể là người ác mà cũng có thể là người hiền. Kẻ ác gây đau khổ cho ta vì ác tâm hay vì  ích kỷ. Người tốt gây đau khổ cho ta vì hiểu lầm hay vì vô tình. «Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt» (Dt 12,6). Do đó, người hiểu biết nên cám ơn những người gây ra đau khổ cho ta.


e) Điều dữ có thể trở thành điều tốt, và ngược lại: 

Về điều này, ngụ ngôn Trung Hoa có câu chuyện: Một ông già ở gần biên giới có con ngựa rất quí một hôm biến đi đâu mất. Tuần lễ sau, con ngựa ấy trở về đem theo một con ngựa khác cũng đẹp và quí như nó.  Từ khi có hai con ngựa, con trai ông ngày nào cũng cùng với chúng bạn đua ngựa với nhau, nên một hôm bị té ngựa gẫy chân.  Năm sau, giặc tấn công vào các làng mạc ở biên giới, các trai tráng trong làng đều phải nhập ngũ ra trận, cứ 10 người thì chết 9.  Riêng con ông lão vì bị què chân nên không phải nhập ngũ nên vẫn còn sống. Câu chuyện cho thấy điều dữ có thể là khởi đầu cho một điều xấu, và ngược lại. Nếu người ta có thể biến một điều xấu thành một điều tốt, thì Thiên Chúa quyền năng và nhân hậu có thể biến điều xấu nhất trở thành điều tốt nhất. Thánh Phaolô đã khẳng định: «Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28). Bài hát «Mừng vui lên» (Exultet) đêm Phục Sinh gọi tội nguyên tổ (một điều xấu) là «tội hồng phúc», vì nhờ có tội đó mà Thiên Chúa ban Đức Giêsu cho nhân loại (điều tốt).


f) Chấp nhận đau khổ để được hạnh phúc: 

Thiên Chúa đã dùng chính đau khổ (là hậu quả của sự ác) để tiêu diệt sự ác và đem lại hạnh phúc đích thật cho con người: «dĩ độc trị độc». Và những đau khổ ta chấp nhận trong hiện tại sẽ đem lại hạnh phúc cho chúng ta trong tương lai. Một em học sinh nhờ chịu khó học hành mà có được đời sống tươi đẹp mai hậu. Cũng vậy, «những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (Rm 8,18). «Nếu anh em chịu khổ vì sống công chính, thì anh em thật có phúc!» (1Pr 3,14).


g) Chấp nhận đau khổ là một bằng chứng của tình yêu thương: 

Trong đời sống thực tế, đau khổ của ta có thể biến thành hạnh phúc cho người khác. Sự cực khổ của cha mẹ đem lại hạnh phúc cho con cái. Nên chấp nhận đau khổ cho người khác là dấu chứng biểu lộ tình yêu của mình đối với họ. Thiên Chúa đã dùng đau khổ của Đức Giêsu để bày tỏ tình yêu vô biên của Ngài đối với nhân loại.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy chúng ta phải chấp nhận chịu đựng sự lẫn lộn giữa tốt xấu, thiện ác ở trần gian này, ngay trong bản thân ta cũng như trong xã hội và Giáo Hội. Sự xấu hay điều ác cũng có vai trò tích cực của nó. Chúng ta cần phải nhận ra sự tích cực đó để chịu đựng điều xấu ác một cách thanh thản, với tâm hồn bình an. Sự chịu đựng tự nguyện ấy sẽ làm tâm hồn ta thêm cao thượng và vững mạnh. Bài Tin Mừng cũng cho thấy viễn cảnh cuối cùng là sự xấu ác sẽ không còn nữa. Do đó sự chịu đựng điều xấu ác hay đau khổ hiện nay chỉ là tạm thời mà thôi!



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con biết nhận ra khía cạnh tích cực hay lợi ích của sự ác cũng như của đau khổ trong đời sống của con, để con chấp nhận một cách vui tươi và ích lợi hơn. Xin cho con biết tự nguyện chấp nhận đau khổ như một phương cách biểu lộ tình yêu đối với những người chung quanh con, vì nhờ con chấp nhận đau khổ, mà người chung quanh con hạnh phúc hơn. Amen.   


Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây . 

Share:

TN16a - Thiên Chúa để kẻ thiện và kẻ ác sống chung cho đến ngày chung cuộc



CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 16 Thường Niên

(23-7-2017)


Thiên Chúa để kẻ thiện và kẻ ác sống chung cho đến ngày chung cuộc



ĐỌC LỜI CHÚA

  Kn 12,13.16-19: (17) Khi không có ai tin rằng Chúa nắm trọn quyền năng, thì Ngài tỏ sức mạnh; còn ai đã biết mà vẫn to gan, thì Ngài trị tội. (18) Nhưng Chúa xử khoan hồng vì Ngài làm chủ được sức mạnh. Ngài lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản chúng con, nhưng có thể sử dụng quyền năng bất cứ khi nào Ngài muốn.

  Rm 8,26-27: (26) Chúng ta là những kẻ yếu hèn, không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả.


  TIN MỪNG: Mt 13,24-30.36-43


Dụ ngôn cỏ lùng

(24) Khi ấy, Đức Giêsu trình bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn khác: «Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. (25) Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. (26) Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. (27) Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: «Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?» (28) Ông đáp: «Kẻ thù đã làm đó!» Đầy tớ nói: «Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?» (29) Ông đáp: «Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. (30) Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi».


Giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng

(36) Bấy giờ, Đức Giêsu bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng: «Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe». (37) Người đáp: «Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. (38) Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. (39) Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. (40) Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. (41) Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, (42) rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. (43) Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Tại trần gian, người tốt kẻ xấu, người thiện kẻ ác phải chung sống với nhau. Điều đó có nằm trong kế hoạch hay ý muốn của Thiên Chúa không? Chúng ta có dễ dàng phân biệt kẻ tốt người xấu không? 
2.   Kẻ xấu người tốt tương đối dễ phân biệt. Nhưng người tốt thật và người tốt giả thì sao? Có dễ phân biệt không? Có nên xét đoán ai tốt thật ai tốt giả không? Tại sao? 
3.   Tình trạng chung sống giữa kẻ tốt người xấu có kéo dài mãi không? Người tốt giả có lừa dối mọi người mãi được chăng? Kết cục sẽ ra sao?

Suy tư gợi ý:

1. Trần gian, nơi người thiện người ác cùng chung sống

Trên đời, ta thấy người thiện và người ác đều sống chung với nhau trong cùng một xã hội. Môi trường nào cũng có đủ hai hạng người ấy. Trong triều đình luôn luôn có trung thần và nịnh thần. Cai trị xã hội bao giờ cũng có những thanh quan, sống liêm khiết, yêu thương dân, lo cho dân, lẫn những cẩu quan, luôn tham ô, coi dân như đối tượng đàn áp, ức hiếp, bóc lột. Trong một tôn giáo, luôn luôn có những mục tử nhân lành, sẵn sàng sống chết cho đàn chiên, và cũng không bao giờ thiếu các mục tử giả, coi tín đồ mình như một bầy chiên có nhiệm vụ cung cấp «thịt và sữa» (x. Ed 34,2) cho mình, khi nguy hiểm thì sẵn sàng phó mặc đàn chiên cho sói dữ (x. Ga 10,12). 

Hai hạng người tốt và xấu ấy luôn luôn sống cạnh nhau, lẫn lộn nhau, ảnh hưởng nhau, làm lợi mà cũng làm hại lẫn nhau. Người tốt thường phải đau khổ vì bị người xấu hãm hại, ức hiếp để họ được giàu có, uy quyền… Nhưng không thiếu những trường hợp người tốt cảm hóa được kẻ xấu, biến kẻ xấu thành người tốt.

Do ảnh hưởng lẫn nhau, người xấu có thể trở thành người tốt, và ngược lại. Chính vì thế, nếu người tốt biết tích cực hoạt động cho điều thiện, biết làm gương sáng, họ có thể trở thành «men tốt» (Mt 13,33), biến những người xấu chung quanh mình thành người tốt. Gương sáng của họ giống như những «hạt cải» mà Đức Giêsu nói đến (Mt 13,31-32), tuy nhỏ bé, nhưng sẽ lớn lên, ảnh hưởng đến toàn xã hội và thế giới. Trường hợp của Mẹ Têrêxa Calcutta là một điển hình. Giáo Hội mà có được thật nhiều «hạt cải» hay «men tốt» như vậy thì thế giới mới trở thành Nước Trời.

Thiên Chúa vẫn muốn trần gian này người tốt và người xấu sống chung với nhau, để cả hai được lợi. Người xấu có thể nhờ gương sáng của người tốt mà bớt xấu hơn, nhưng cũng có những trường hợp vì hại người tốt mà trở nên xấu hơn. Còn người tốt thì được thánh hóa nhờ những đau khổ do người xấu gây nên. Thiên Chúa vẫn thường thánh hóa những người Ngài chọn, những người Ngài yêu bằng đau khổ. Chính «Đức Giêsu cũng phải trải qua gian khổ để trở thành vị lãnh đạo thập toàn» (Dt 2,10) và Ngài cũng «đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục» (Dt 5,8). 

Hãy xem cục đá mài và con dao: sau khi mài, con dao tuy bị mòn nhưng trở nên sắc bén và tăng giá trị lên; còn cục đá mài khi làm cho dao bị mòn thì chính nó cũng bị mòn đi, nhưng nó càng bị mòn thì càng bị giảm giá trị. Cũng vậy, người tốt khi chịu đau khổ vì người ác thì được thánh hóa và tăng giá trị lên. Còn người ác khi làm cho người thiện đau khổ cũng sẽ bị đau khổ vì hậu quả của việc ác, nhưng lại trở nên xấu hơn, kém giá trị đi.



2. Trần gian, nơi người thật người giả không phân biệt

Giữa người xấu và người tốt, người tinh tường có thể phân biệt được. Nhưng giữa những người được coi là tốt, vẫn luôn luôn có những người tốt thật và những người tốt giả. Trong số những người được tiếng là đạo đức, luôn luôn có những người đạo đức thật và những người đạo đức giả. Họ cùng làm những hành động tốt y như nhau, nhưng được thúc đẩy bởi những động lực khác nhau. Người tốt thật thì làm điều tốt vì thật sự yêu Chúa và thương tha nhân; còn kẻ tốt giả thì làm điều tốt là để được khen, để lấy lòng người, để được thăng tiến trong xã hội hay tôn giáo mình, v.v… Toàn là vì những động lực vị kỷ, chứ không vì yêu thương. 

Thánh Phaolô nói về cách đánh giá của Thiên Chúa đối với những người tốt giả này: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,3). Chính Đức Giêsu cũng nói: «Khi bố thí, đừng như bọn đạo đức giả thích biểu diễn để người ta khen. Thầy bảo thật: họ đã được phần thưởng rồi» (Mt 6,2; x. 6,5; 6,16).

Con mắt hay trí tuệ người trần khó có thể phân biệt được tốt thật và tốt giả, vì tiêu chuẩn để phân biệt thật hay giả nằm sâu trong đáy lòng người: «Sông sâu biển rộng dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người?» Các nhà tu đức diễn tả thực trạng khó phân biệt này bằng câu: «Sanctus est sed non videtur, videtur sed non est»: người thánh thiện thực thì lại không có vẻ thánh thiện (vì không cố ý ra vẻ thánh thiện), còn người thánh thiện giả thì cố làm ra vẻ thánh thiện để mọi người nể phục, ca tụng.

Cứ so sánh Đức Giêsu, người thật sự thánh thiện, với những người Pharisêu, những kẻ cũng được tiếng là đạo đức thì thấy rõ điều ấy. Đức Giêsu chẳng làm ra vẻ thánh thiện bao giờ: Ngài thật “bụi đời”, hay giao thiệp với hạng tội lỗi, lại ăn uống nhậu nhẹt với họ, và hay vi phạm luật sabát. Ngài cũng chẳng có vẻ gì là gắn bó với đền thờ cho lắm, lại còn nói một câu thật khó lọt tai người Pharisêu: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải tại (đền thờ) trên núi này hay ở Giêrusalem» (Ga 4,21). Còn mấy ông Pharisêu thì lúc nào cũng làm ra vẻ đạo mạo, đáng kính, thích cầu nguyện, bố thí ở những nơi công cộng, có ăn chay thì cũng làm ra vẻ âu sầu cho mọi người biết mình đang ăn chay. Họ có vẻ thánh thiện hơn Đức Giêsu nhiều! Nhưng Ngài nói về họ: «bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác» (Mt 23,28).

Để dễ hiểu hơn, ta hãy so sánh hai chàng nọ theo đuổi một cô nhà giàu kia: một anh yêu cô chân thực, còn anh kia có ý “đào mỏ”. Anh “đào mỏ” có vẻ yêu cô hơn: những dịp sinh nhật, bổn mạng, ngày phụ nữ 8-3 hay ngày Valentine, anh mau mắn tặng cô những bông hoa thật tươi, những tặng phẩm đắt giá… Còn anh kia nếu không xảy ra những chuyện hệ trọng thì xem ra chẳng sốt sắng mặn mà với cô được như vậy. Nhưng cô gái tinh ý sẽ nhận ra ai thật sự yêu mình. Nếu khờ khạo thì cô sẽ phải lòng anh “đào mỏ”!



3. Chung cuộc: thiện ác, thật giả phân minh

Người đời thật khó mà phân biệt được người tốt thật và người tốt giả, vì họ chỉ có thể nhìn thấy những gì bề ngoài, chứ không thấy những gì xảy ra trong đáy lòng con người. Vì thế, việc xét đoán người tốt người xấu, người tốt thật người tốt giả không phải là chuyện của con người, mà là của Thiên Chúa. Chỉ mình Ngài mới có khả năng «dò thấu lòng dạ con người» (Tv 7,10; Kh 2,23). Chúng ta không nên làm công việc mà chỉ Thiên Chúa mới làm được và chỉ dành cho Ngài: «Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán» (Mt 7,1). «Chỉ Thiên Chúa mới có quyền xét đoán, chúng ta là ai mà dám xét đoán người khác?» (Gc 4,12).

Dụ ngôn cỏ lùng cho thấy Thiên Chúa muốn ở trần gian này người tốt và người xấu sống chung với nhau, người tốt thật và tốt giả lẫn lộn nhau khó mà phân biệt. Nhưng đến ngày chung cuộc, kẻ tốt người xấu sẽ tách biệt nhau, kẻ tốt thật người tốt giả đều ra trước ánh sáng. Ngày ấy không ai che giấu ai được điều gì, vì «không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ» (Mt 10,26). «Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ» (Mt 13,43); còn «mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ bị tống ra khỏi Nước của Người, bị quăng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 13,41-42).



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con đủ kiên nhẫn để chịu đựng những đau khổ mà người ác tâm gây ra cho con. Xin cho con biết yêu thương họ, dù họ làm hại con. Xin giúp con năng cầu nguyện cho họ, mong những điều tốt đẹp đến với họ, nhất là tìm cách làm họ nên tốt hơn. Xin cho con mặc lấy tâm tình yêu thương và cứu độ của Đức Giêsu: «Tôi đến không phải để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi» (Mt 9,13). Có yêu thương họ thì mới cứu họ được. Xin cho con yêu cả những người ác với con. Amen.

Nguyễn Chính Kết


Bấm vào đây . 

Share:

Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2017

TN15b - Để tiếp nhận chân lý, phải «từ bỏ mình» và sẵn sàng đón nhận những hiểu biết mới




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 15 Thường Niên

(16-7-2017)

Để tiếp nhận chân lý, phải «từ bỏ mình»
và sẵn sàng đón nhận những hiểu biết mới



  TIN MỪNG: Mt 13,1-9

Dụ ngôn người gieo giống


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Dụ ngôn là gì? Tại sao Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn?
2.   Tại sao Lời Chúa sinh hoa kết trái khác nhau giữa người này với người khác? Tại sao cùng nghe Đức Giêsu, nhưng có kẻ theo Ngài, có kẻ lại chống đối?
3.   Những kẻ theo Ngài và những kẻ chống Ngài, trình độ hiểu biết của họ thế nào? Tại sao những kẻ hiểu biết rất nhiều về Kinh Thánh như các kinh sư, luật sĩ lại không nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế và đi đến chỗ giết Ngài?

Suy tư gợi ý:

1.   Dụ ngôn là gì?

Dụ ngôn là những minh họa bằng hình ảnh quen thuộc để giúp người ta hiểu được một thực tế khác cao siêu, trừu tượng, đồng thời nắm được chân lý bao hàm trong ấy. Các dụ ngôn thường có tính cách vừa tỏ lộ mà cũng vừa che dấu chân lý về Thiên Chúa, về Nước Trời. Che dấu đối với «những bậc khôn ngoan thông thái» (Mt 11,25a), những kẻ tự mãn với những gì mình đã biết về Thiên Chúa, cho rằng sự hiểu biết của mình về Ngài đã viên mãn, trọn vẹn rồi, không cần phải tìm kiếm hay học hỏi thêm. Còn tỏ lộ cho «những người bé mọn» (Mt 11,25b), tự cho mình chưa biết nhiều về Thiên Chúa, cho rằng những hiểu biết của mình còn rất thiếu sót, phiến diện, hời hợt, cần phải tìm hiểu sâu xa hơn để áp dụng vào đời sống.

Các dụ ngôn có thể hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo trình độ tâm linh của người hiểu. Người mới bước vào đời sống tâm linh sẽ hiểu và áp dụng chúng vào đời sống theo cách đơn sơ của mình. Nhờ đó họ tiến bộ được một quãng đường. Khi đời sống tâm linh của họ tiến bộ hơn, họ lại khám phá ra dụ ngôn còn có ý nghĩa cao xa và thâm sâu hơn. Sau khi kể một dụ ngôn, Đức Giêsu thường nói: «Ai có tai thì nghe» (Mt 11,15; 13,9; 13,43). Câu này có nghĩa: ai hiểu được thì hiểu, hiểu cách nào thì tùy tình trạng hay trình độ tâm linh mỗi người; hoặc ai biết cách nghe thì sẽ hiểu, ai thật lòng tìm hiểu thì sẽ hiểu (x. Mt 7,7-8).



2.   Tại sao Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn?

Chắc chắn chúng ta cũng thắc mắc như các tông đồ xưa: «Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?» (Mt 13,10). Sao không nói cho rõ sự thật ra mà lại úp mở bằng dụ ngôn? Câu trả lời của Ngài chẳng làm ta hết thắc mắc mà còn làm ta thắc mắc hơn: «Bởi vì anh em được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất» (Mt 13,11-12).

a) Dụ ngôn dấu ẩn chân lý đối với người tự mãn

Như vậy, những người không được «ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời» mà họ không hiểu, thì phải chăng họ không có lỗi? – Thật ra họ có được ơn hiểu biết hay không, điều đó tùy thuộc vào việc họ có khiêm cung hay không trong những hiểu biết của họ. Những ai tự hào mình biết tất cả, không cần phải nghe hay học hỏi ai nữa – chẳng hạn các kinh sư, luật sĩ, biệt phái thời của Ngài – thì Ngài càng nói rõ, họ càng không chấp nhận, và càng muốn mưu toan hại Ngài hơn. 

Họ không chấp nhận vì những giáo huấn của Ngài có nhiều điều vượt khỏi những gì họ đã học hỏi từ Kinh Thánh. Và họ đã dựa vào những sự thật Ngài nói ra để kết án tử hình Ngài. Vì thế, chính Đức Giêsu cũng khuyên các môn đệ đừng nói chân lý với những kẻ không xứng đáng: «Của thánh, đừng quăng cho chó; ngọc trai, chớ liệng cho heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi còn quay lại cắn xé anh em» (Mt 7,6).

b) Để hiểu được chân lý phải từ bỏ mình và dấn thân

Những chân lý tôn giáo đều là những chân lý «cho không biếu không», người dạy chân lý thường không đòi hỏi một khoản thù lao nào. Nhưng để hiểu và lãnh hội được, người muốn hiểu phải dám hy sinh tất cả, không tiếc một điều gì: từ của cải, sức khỏe cho đến mạng sống, nhất là phải «từ bỏ mình», nghĩa là không đặt nặng «cái tôi» và cố chấp vào những hiểu biết đang có của mình (x. Mt 13,44-46). Trong lịch sử Thiền tông Trung Hoa, Đạt-Ma tổ sư chỉ bắt đầu truyền đạo cho Huệ Khả – về sau trở thành Nhị Tổ – khi ông này dám tự chặt tay mình để chứng tỏ sự quyết tâm từ bỏ tất cả cho việc tìm chân lý. 

Ngoài ra, kẻ tìm đạo còn phải sẵn sàng dẹp bỏ cả những kiến thức cũ của mình (x. Mt 11,25). Cố chấp vào những hiểu biết cũ còn thấp kém, thì không thể tiếp nhận những chân lý cao xa, vượt khỏi trình độ của những hiểu biết cũ. Cũng trong Thiền tông, Thần Tú tuy kiến thức uyên bác, nhưng vì cố chấp vào những kiến thức cũ của mình, nên không thể lãnh hội được chân lý của Ngũ Tổ; trái lại, Huệ Năng, ít học hơn Thần Tú rất nhiều, lại hiểu được và trở thành Lục Tổ Thiền tông.

Như vậy, để lãnh hội được chân lý về Thiên Chúa, về Nước Trời, phải có tâm cầu đạo. Ai đã có tâm cầu đạo, thì đã ít nhiều có đạo tâm rồi, đã hiểu được lẽ đạo là phải «từ bỏ mình», coi nhẹ «cái tôi» của mình, không tự mãn hay cậy vào những hiểu biết cũ của mình, và thật sự sống những gì họ biết về Thiên Chúa, cho dù còn ít ỏi. Nhờ dấn thân sống những hiểu biết dù ít ỏi đó, họ bắt đầu có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Càng kinh nghiệm về Thiên Chúa, họ càng có đạo tâm nhiều hơn. Còn kẻ không có tâm cầu đạo, là kẻ chưa có đạo tâm, nên luôn tự hào về «cái tôi» của mình, về những điều mình đã học biết về Thiên Chúa, không thể sống đạo thật sự vì chưa từ bỏ mình, do đó không thể có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Và nếu cứ cậy vào những hiểu biết mà họ tự mãn, họ sẽ ngày càng hiểu sai về đạo, và xa cách Thiên Chúa, cho dù bên ngoài họ có vẻ như rất gần Ngài. 

Đó chính là ý nghĩa của câu «Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất» (Mt 13,12). Nghĩa là: ai đã có đạo tâm thì sẽ có kinh nghiệm về Thiên Chúa; ai không có, thì sẽ chẳng kinh nghiệm được gì về Thiên Chúa, về những chân lý cao siêu, và có thể bị sai lạc, xa rời chân lý.

c) Biết về Thiên Chúa khác với kinh nghiệm về Ngài

Người học biết nhiều về Thiên Chúa khác với người có kinh nghiệm về Ngài. Biết nhiều về Thiên Chúa giống như người có một bản đồ thành phố trong tay và thuộc kỹ tấm bản đồ đó, nhưng vì tự mãn lấy thế làm đủ, nên chưa hề dấn thân ra đi đến thành phố ấy. Còn người có kinh nghiệm về Ngài giống như người đã thật sự đi trên những con đường của thành phố, được ngắm tận mắt những cảnh trí trong thành phố.

Hai cách tiếp cận ấy rất khác nhau và đi đến những hệ quả khác nhau. Người hiểu biết nhiều thì hay tự mãn, tự đặt mình trên người khác, từ đó thích củng cố quyền uy, ham được ca tụng, và Lời Chúa bị chết ngạt trong họ. Còn người có kinh nghiệm về Thiên Chúa thì ngày càng giống Thiên Chúa, sống quên mình, phục vụ, khiêm nhu, và Lời Chúa sinh hoa kết trái trong họ. 

Nhìn lại lịch sử, ta thấy các kinh sư Do Thái đều là những bậc thầy về tôn giáo, rất thông thạo những lời tiên tri về Đấng Cứu Thế. Nhưng mỉa mai thay khi Đấng Cứu Thế đến, họ không nhận ra Ngài, thậm chí còn giết Ngài nữa. Lý thuyết về Đấng Cứu Thế mà họ rất tinh thông, trong thực tế, chẳng ích lợi gì cho họ mà còn cản trở họ nhận ra Ngài. Chính vì họ quá tự mãn, cố chấp vào lý thuyết ấy, dùng nó như một phương tiện để thăng tiến bản thân trong tôn giáo hơn là để dấn thân sống theo nó. Còn các môn đệ và một số dân chúng, chẳng biết nhiều về Đấng Cứu Thế, nhưng lạ thay, khi Ngài đến, họ nhận ra Ngài, theo Ngài, và được cứu rỗi, chính vì họ khiêm tốn, đơn sơ và chân thành. Họ là người được Thiên Chúa chúc phúc.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Lời Đức Giêsu gieo vào lòng mọi người nhưng lại sinh hoa kết trái khác nhau. Nơi người khiêm nhường, dám từ bỏ mình, dám dấn thân sống theo Lời Ngài, thì Lời Ngài sinh hoa kết quả bội phần. Còn kẻ tự hào tự mãn vì những hiểu biết của mình về Lời Ngài, thường không chịu sống theo Lời ấy. Lời Chúa trong họ bị ngạt bởi chính «cái tôi» của họ, bởi lòng ham uy danh và quyền lợi của họ, bởi chính những hiểu biết mà họ tự cho là đã quá đủ. Xin Cha cho con biết khiêm nhường, biết từ bỏ mình, để lòng con trở thành một thửa đất tốt thuận lợi cho Lời Chúa sinh hoa kết trái như Cha mong ước.     


Share:

TN15a - «Nhân» và «duyên» phát sinh sự sống đời đời




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 15 Thường Niên

(16-7-2017)

«Nhân» và «duyên» phát sinh sự sống đời đời



ĐỌC LỜI CHÚA

  Is 55,10-11: (11) Một khi xuất phát từ miệng Ta, Lời Ta sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.

  Rm 8,18-23(18) Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.

  TIN MỪNG: Mt 13,1-9

Dụ ngôn người gieo giống

(1) Hôm ấy, Đức Giêsu từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ. (2) Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. (3) Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều.

Người nói: «Người gieo giống đi ra gieo giống. (4) Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. (5) Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; (6) nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. (7) Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. (8) Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. (9) Ai có tai thì nghe».



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1.   Muốn có cây lúa hay những bông lúa tốt, ta phải gieo hạt gì? Tương tự, muốn có sự sống đời đời, ta phải gieo «nhân» gì? «Nhân» phát sinh sự sống đời đời là gì?
2.   Có «nhân» tốt thì đã đủ để có «quả» tốt chưa? Có hạt giống tốt nhưng không chịu cày bừa, tưới nước, bón phân, làm cỏ thì có kết quả không? Có «nhân» phát sinh sự sống đời đời đã đủ để có sự sống ấy chưa? Cần gì nữa?

Suy tư gợi ý:

1.   Lý thuyết «nhân» và «duyên»

Dụ ngôn gieo giống của Đức Giêsu khiến người ta nghĩ đến thuyết nhân duyên của Phật giáo. Muốn có được cây lúa, điều tối quan trọng là phải có hạt giống lúa, đó chính là «nhân» để có «quả» là cây lúa. Nhưng hạt lúa không thể nảy mầm và phát triển nếu không có những điều kiện thuận lợi như: đất tốt, nước, nhiệt độ, ánh sáng, hoặc phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, v.v… Những điều kiện ấy gọi là «duyên». Nếu những điều kiện để phát triển ấy hết sức thuận lợi mà không có hạt giống lúa thì cũng không bao giờ có được cây lúa. Như vậy, phải hội đủ «nhân» và «duyên» thì mới có thể sinh ra «quả» mong muốn.



2.   Nhân nào quả nấy

Điều quan trọng nhất để có «quả» mà ta mong muốn, là ta phải có «nhân» tương ứng với «quả». Muốn có quả sầu riêng, ta phải dùng hạt sầu riêng để trồng, không thể trồng hạt mít mà ra cây hay trái sầu riêng được. Muốn có trái sầu riêng thơm, ngon, to, ta không chỉ cần trồng hạt sầu riêng, mà còn phải trồng loại hạt sầu riêng thật tốt. Hạt tốt mới sinh ra trái tốt được. Đức Giêsu cũng đã từng nói về luật nhân quả này: «Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?  Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7,16-18).

Vậy muốn đạt được mục đích, ta phải xác định mục đích của ta – tức «quả» mà ta muốn vun trồng – là gì? Sau đó phải tìm «nhân» hay hạt giống thích hợp, và cuối cùng là phải tạo «duyên» hay điều kiện thuận lợi. Đối với người Kitô hữu, mục đích cuối cùng của con người chính là Thiên Chúa, cũng là sự sống đời đời, là hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu. Muốn đạt được, ta cần phải xác định thật rõ mục đích ấy cho suốt cả đời mình. Nếu «quả» là sự sống đời đời hay hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu, thì «nhân» hay hạt giống phát sinh ra «quả» ấy là gì?



3. «Nhân» hay hạt giống sinh ra «quả» sự sống đời đời

Muốn biết «nhân» sinh ra «quả» sự sống đời đời là gì, ta hãy nghe Đức Giêsu nói.

Một trong những «nhân» quan trọng dẫn đến sự sống đời đời là mến Chúa yêu người: «Có người thông luật kia đứng lên hỏi Ðức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và người thân cận như chính mình”. Ðức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”» (Lc 10,25-28). Có người đã làm được những điều ấy, thì Đức Giêsu đòi hỏi hỏi họ theo Ngài: «Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời ? – (Người đáp:) Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi» (Mt 19,16.21; x. Mc 10,17.21).

Ngoài ra còn phải tin vào Đức Giêsu: «Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời» (Ga 3,16), và vâng nghe lời Ngài: «Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời» (Ga 5,24), vì lời của Ngài là lời hằng sống: «Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời» (Ga 6,68). Nhờ tin và vâng nghe lời Ngài mà ta nhận biết Chúa Cha, nguồn gốc của sự sống đời đời: «Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô» (Ga 17,3).

Sau khi tin Đức Giêsu và nhận biết Chúa Cha, sự sống đời đời đòi hỏi ta sống hết mình cho niềm tin ấy, nghĩa là sống yêu thương và xả thân: «Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25).

Ngoài ra, để có sự sống đời đời, chúng ta cần được nuôi dưỡng bằng chính máu thịt của Đức Giêsu: «Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời» (Ga 6,54). Nghĩa là càng ngày ta càng phải tiêm nhiễm tính chất yêu thương của Đức Giêsu vào người, dần dần thay thế chất «tôi» bằng chất «Ngài», nói khác đi là được Giêsu hóa, hay biến thành Giêsu để cuối cùng nên giống Ngài hoàn toàn.

Làm như thế, Đức Giêsu sẽ trở thành một nguồn nước trường sinh đem sự sống đời đời cho ta, đồng thời cũng biến chính ta thành nơi mang mạch nước đem lại sự sống cho những người chung quanh: «Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14).

Theo Đức Giêsu, đó là «nhân» sẽ sinh ra «quả» là sự sống đời đời. Vì thế, muốn được sống đời đời, tức sống hạnh phúc đích thực, chúng ta phải gieo «nhân» ấy chứ không phải những «nhân» khác. Muốn có sự sống đời đời mà lại gieo những hạt nhân khác với những «nhân» ấy, thì chẳng khác gì muốn trồng lúa mà lại dùng hạt bắp hay hạt cỏ. Hiện nay, biết bao người muốn có sự sống đời đời nhưng lại đang gieo những hạt giống khác với những hạt giống mà Đức Giêsu đã chỉ bảo: chẳng hạn cố gắng giữ cho thật kỹ những thói quen hay tập tục tôn giáo nào đấy, những nghi thức, những buổi cầu kinh… Thế thì thật là «công dã tràng»! Bạn có phải là hạng người đó không?



4. «Duyên» hay những điều kiện để «nhân» thành «quả»

Những «nhân» vừa kể là tối cần thiết để phát triển thành «quả» sự sống đời đời. Nhưng để phát triển thành quả, cần phải có những điều kiện hay hoàn cảnh thuận lợi.

Đức Giêsu đã đưa ra một số những hoàn cảnh khác nhau:

–    «Có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất» (Mt 13,4): Có những người đã trồng đúng hạt giống của sự sống đời đời, nghĩa là đã nhất quyết sống yêu thương, sống tinh thần của Đức Giêsu. Nhưng rất tiếc lòng ham danh, lợi, quyền và những vui thú trần gian, hoặc có những lý thuyết trần tục hấp dẫn họ quá mạnh, lôi cuốn họ vào con đường hưởng thụ cá nhân, ích kỷ, khiến họ từ bỏ việc sống theo tinh thần Đức Giêsu.

–    «Có những hạt rơi vào nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô» (Mt 13,5-6): Đây là những người đã khởi sự sống tinh thần yêu thương của Đức Giêsu một thời gian, nhưng vì chưa quyết tâm dứt khoát và sâu xa, chưa xác tín vào con đường theo Chúa, nên khi bị thử thách bởi nghịch cảnh, đã không bền đỗ, đã từ bỏ con đường mình đang theo.

–    «Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt» (Mt 13,7): Đây là những người quyết tâm theo Chúa đến cùng, nhưng đồng thời cũng theo đuổi một số đam mê trần tục. Tới một lúc nào đó có sự xung đột giữa hai con đường khiến họ phải dứt khoát chọn một. Lúc đó họ bị con đường trần tục hấp dẫn hơn khiến họ từ bỏ con đường theo Chúa.

–    «Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục» Mt 13,8: Đây là những người quyết tâm theo Chúa đến cùng, lại biết củng cố quyết tâm đó mỗi ngày bằng suy tư lời Chúa, cầu nguyện, từ bỏ mình, hy sinh cho tha nhân. Nhờ đó họ luôn trung thành với tinh thần của Đức Giêsu, bất chấp những khó khăn nghịch cảnh, những cám dỗ của trần thế. Nếu có sa ngã, họ vẫn chỗi dậy được để tiếp tục con đường. Tùy theo cao độ quyết tâm và mức độ củng cố quyết tâm ấy mà họ đạt tới những mức độ thánh thiện và bản lãnh nội tâm khác nhau. 

Tuy họ đều đạt được sự sống đời đời hay hạnh phúc đích thực một cách tràn đầy, nhưng dung lượng hạnh phúc ấy khác nhau. Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng minh họa sự khác nhau này bằng những bình chứa có dung lượng khác nhau, cái 1 lít, cái 10, cái 100, cái 1000 lít… Cái nào cũng đầy tràn chất lỏng đến nỗi không thể chứa thêm được nữa. Nghĩa là số lượng hạnh phúc đích thực có thể khác nhau rất xa, nhưng ai cũng đều ở mức độ tràn đầy tối đa (100%).

Như vậy, đọc bài Tin Mừng này, ta hãy xác định cho thật rõ mình phải gieo «nhân» nào vào tâm hồn ta để có sự sống đời đời, và sau đó phải tạo «duyên» tức biến tâm hồn ta thành thửa đất tốt bằng cách nào để «nhân» đó phát triển thành «quả». Điều tối quan trọng là đừng gieo lầm «nhân» kẻo uổng công tu tập hay giữ đạo cả đời một cách sai lạc.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha chính là «nhân», là nguồn gốc phát sinh sự sống đời đời ở trong con. Xin Cha hãy càng ngày càng lớn lên và tác động hữu hiệu trong tâm hồn con. Muốn thế, con phải làm cho «cái tôi» của con ngày càng nhỏ đi. Xin cho con biết sống tinh thần tự hủy để Cha hay Tình Yêu có điều kiện thuận lợi lớn lên trong con. Đó cũng chính là sự sống đời đời hay hạnh phúc đích thực của con. Amen.



Share:

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

TN14b - Tránh tự mãn để hiểu biết và kinh nghiệm sâu sắc hơn về Thiên Chúa




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 14 Thường Niên

(09-7-2017)

Bài đào sâu

Tránh tự mãn để hiểu biết
và kinh nghiệm sâu sắc hơn về Thiên Chúa



  TIN MỪNG: Mt 11,25-30



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
1. Người tự mãn với những gì mình đang có, đang biết, thì có thể có thêm, biết thêm nhiều hơn không? Tại sao?
2. Trong đời sống tâm linh, nếu ta tự mãn với những hiểu biết hay trình độ tâm linh mình đang có, thì có thể tiến bộ về tâm linh hơn không? Tại sao?
3. Mang lấy ách của Đức Giêsu nghĩa là gì? Tại sao ách Ngài lại nhẹ nhàng?


Suy tư gợi ý:

1.   Muốn đạt chân lý, phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý

Một nhà thông thái nọ đến xin một đạo sư truyền đạo cho mình. Đạo sư bèn lấy trà ra để tiếp khách. Nhưng ông làm một điều rất kỳ lạ: nước đã đầy và tràn ra mà ông vẫn cứ rót tiếp. Người khách ngạc nhiên hỏi ông tại sao lại làm như vậy. Đạo sư đáp: «Tâm hồn và lòng trí ông cũng đầy ắp như tách trà này rồi, làm sao chứa thêm những chân lý về đạo được nữa?»

Kinh nghiệm cho tôi thấy: một khi lòng trí tôi mải miết lo chuyện gì, thì tôi không thể mải miết với chuyện khác được, nhất là những chuyện có tính chất trái ngược với chuyện tôi đang mải miết say mê. Đó là một định luật tâm lý rất phổ quát. Cũng vậy, một người đang say mê những chuyện trần tục, những chuyện tầm thường, người ấy khó có thể nhập tâm và hiểu được những chân lý siêu việt của tôn giáo. Vì muốn hiểu và cảm nghiệm được những chân lý này, con người phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý. Chân lý tôn giáo giống như viên ngọc quý hay kho báu dấu trong ruộng, phải bán hết tất cả những gì mình có mới mua được (x. Mt 13,44-46). 

Đối với những ai trong lòng đang đầy ắp «cái tôi» vị kỷ của mình cũng vậy, lòng trí họ không còn chỗ nào cho Thiên Chúa hay cho Đức Giêsu sống và hoạt động trong họ nữa.


2. Phá chấp, phá «sở tri chướng»

Học sinh cấp một được cô giáo dạy: không được lấy số nhỏ trừ số lớn, vì không thể có 3 trái cam mà lại ăn hết 5 trái được. Với trí óc của em, điều đó hoàn toàn hợp lý, không thể khác được. Nhưng nếu em cứ cố chấp với kiến thức hạn hẹp ấy, em sẽ không thể chấp nhận khái niệm về số âm khi em bắt đầu học cấp 2. Ở cấp 2 này, việc lấy số nhỏ trừ số lớn được coi là chuyện bình thường, không có gì phi lý cả..

Cũng vậy với các học sinh cấp hai. Các em được dạy rằng trong căn hiệu bậc hai không thể có số âm, vì số trong căn hiệu được giả thiết là bình phương của một số, mà đã là bình phương thì không thể là số âm được. Đối với trình độ cấp 2 của các em, điều đó thật hợp lý, và không thể khác hơn được. Nhưng nếu các em cứ cố chấp với kiến thức cố hữu này, các em sẽ không thể chấp nhận được khái niệm về số ảo, được dạy trong chương trình giải tích ở đại học, cho phép có số âm trong căn hiệu bậc chẵn.

Còn nhiều thí dụ khác tương tự trong lãnh vực toán học, vật lý, hóa học, sinh học… 

Tương tự như vậy, nếu cứ chấp vào những kinh nghiệm và kiến thức trần gian, người ta sẽ không thể hiểu được những chân lý cao sâu về tâm linh trong tôn giáo. Và nếu cứ chấp cứng vào những quan niệm hay lề lối suy tư của tôn giáo này, ta sẽ vô phương hiểu được quan niệm hay lề lối suy tư của các tôn giáo khác. Hoặc cứ cố chấp vào những điều mà ta cho là chân lý bất biến ở trình độ này, ta không thể tiếp thu được những chân lý ở trình độ cao hơn.


3.   Ai tự mãn với những gì mình đã biết sẽ không thể biết thêm

Cái lý tất yếu ấy, Đức Giêsu đã nói đến: «Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn» (Mt 11,25). «Các bậc khôn ngoan thông thái» ở đây không có nghĩa là những người khôn ngoan thông thái hiểu theo nghĩa bình thường, mà cần hiểu là những kẻ tự mãn với sự thông thái của mình, cho rằng sự hiểu biết của mình đã viên mãn, tràn đầy, không cần phải học hay tìm hiểu thêm gì nữa. 

Một người tuy dốt nát hiểu biết không hơn ai, nhưng lại tự mãn về sự hiểu biết của mình, cũng được liệt vào hạng này. Họ giống như tách trà đã đầy ắp tới miệng, không thể chứa thêm giọt nước nào nữa. 

Còn «những người bé mọn» ở đây không nên hiểu là những người nhỏ bé, địa vị thấp kém, ít học hành, ít kiến thức, mà cần hiểu là những người tự cho mình là còn biết rất ít, hoặc chưa biết gì cả. Những người này bao gồm cả những người hết sức thông thái nhưng không cho rằng mình biết tất cả, vẫn sẵn sàng lắng nghe và học hỏi nơi người khác. Tâm hồn họ như một ly chưa đầy, sẵn sàng đón nhận những gì từ ngoài vào.

Hai hạng người trên, với thời gian, hạng thứ nhất – tự mãn với những hiểu biết của mình – sẽ không tiếp nhận thêm được gì nữa, nên dần dần sẽ bị lạc hậu khi sống trong một thế giới hay xã hội ngày càng tân tiến. Họ cho rằng những điều họ từng tiếp thu được đã viên mãn, trọn vẹn, là những chân lý bất biến rồi, nên không thể chấp nhận điều gì khác hay điều gì ngược với những kiến thức ấy. Họ cố chấp với những hiểu biết ấy, nên không thể tiến xa và lên cao hơn được nữa. Họ như một học sinh cấp một, cứ nhất định rằng không thể lấy số nhỏ trừ số lớn được, nên từ chối không học cấp hai, vì không chấp nhận được khái niệm về số âm. Phật giáo gọi sự cố chấp này là «sở tri chướng», nghĩa là chính sự hiểu biết của mình là chướng ngại cản trở mình hiểu biết thêm. 

Còn hạng thứ hai, cho dù hiểu biết nhiều tới đâu, vẫn cảm thấy mình còn rất nhiều điều chưa biết, và những gì mình đã biết còn rất phiến diện, thiếu sót, nên không tự mãn, mà trái lại, khao khát và sẵn sàng học hỏi thêm. Vì thế, họ vẫn còn khả năng tiếp thu thêm những điều mới lạ. Socrate, một triết gia lỗi lạc thời thượng cổ, nói: «Điều tôi biết chắc chắn là: tôi không biết gì cả». Những người có thái độ như ông, cho dù có thông thái tới đâu, cũng là «những kẻ bé mọn» mà như Đức Giêsu nói, sẽ được Chúa Cha mặc khải cho những chân lý quan trọng.


4. Bé mọn trong đời sống tâm linh

Để hiểu biết về thế giới vật chất hữu hạn này mà người ta đã phải phá chấp không biết bao nhiêu lần mới có thể tiến bộ và lên cao hơn cấp độ mình đang có. Để hiểu được một giả thuyết khoa học mới, phải chấp nhận giả thuyết cũ là còn thiếu sót. Khoa học tiến bộ được là nhờ có những giả thuyết mới, là giả thuyết do khám phá thêm mà phủ nhận sự hoàn hảo hay tuyệt đối của giả thuyết cũ vốn đã được coi là chân lý. Vật chất hữu hạn mà còn vậy, huống hồ Thiên Chúa vô hạn, siêu việt, siêu nghiệm, không bao giờ hiểu cho hết được! 

Vì thế, để hiểu biết về Thiên Chúa, nếu ta cứ tự mãn hay cố chấp vào những hiểu biết cũ thì ta sẽ ở mãi trong trình độ thấp kém của mình, không thể tiến xa hơn được. Đúng ra càng sống đạo lâu, sự hiểu biết, khám phá và kinh nghiệm về Thiên Chúa của ta càng phải mới lạ, sâu xa và phong phú hơn. 

Thánh Phaolô viết: «Với thời gian, lẽ ra anh em phải là những bậc thầy, thế mà anh em lại cần phải để cho người ta dạy anh em những điều sơ đẳng về các sấm ngôn của Thiên Chúa: thay vì thức ăn đặc, anh em vẫn còn phải dùng sữa. Thật vậy, phàm ai còn phải dùng sữa, thì không hiểu gì về đạo lý liên quan đến sự công chính, vì người ấy vẫn là trẻ con. Thức ăn đặc thì dành cho những người đã trưởng thành, những người nhờ thực hành mà rèn luyện được khả năng phân biệt điều lành điều dữ» (Dt 5,12-14). 

Khi còn nhỏ, ta chỉ có thể ăn sữa, và ăn sữa là đủ để ta sống. Nhưng khi lớn lên, thức ăn lỏng như sữa không cung cấp đủ năng lượng cần thiết để ta sống và sinh hoạt.

Cũng vậy đối với đời sống tâm linh. Khi mới bước vào đời sống tâm linh, ta cần dùng một thức ăn tâm linh sơ đẳng: chẳng hạn ta cầu nguyện bằng những lời kinh đã dọn sẵn, nhờ đó ta tập nói chuyện với Chúa. Và lúc đó thức ăn tâm linh đó đủ cho sự sống tâm linh còn non nớt của ta. Nhưng nếu ta không nâng cấp cách cầu nguyện ấy lên, tâm linh ta không thể lớn lên được. Cách cầu nguyện đơn giản ấy không đem lại đủ sức mạnh để ta chu toàn những phận sự ngày càng khó khăn và nặng nề hơn của ta, không giúp ta vượt qua được những trở ngại lớn lao mà ta gặp trên đường đời, và thắng được những cơn cám dỗ mạnh mẽ. Ta cần thực tập những cách cầu nguyện cao hơn: cầu nguyện tự phát bằng chính những tâm tình có thật, những nhu cầu có thật của ta. Hoặc cao hơn nữa, cầu nguyện bằng cách ý thức sâu xa sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn ta, bằng cách lắng nghe Chúa nói trong đáy lòng ta, bằng sự kết hiệp thân mật với Thiên Chúa… Những cách cầu nguyện cao cấp đem lại cho ta nhiều sức mạnh, nhiều niềm vui hơn, nhờ đó ta có nhiều kinh nghiệm về Thiên Chúa hơn…

Nếu ta tự mãn với tình trạng tâm linh hiện tại của ta, đời sống tâm linh của ta không thể lớn lên và mạnh mẽ được. Trái lại, nếu ta nhìn nhận rằng ta cần phải tiến bộ nhiều hơn, sẵn sàng đón nhận những hiểu biết và kinh nghiệm mới mẻ về Thiên Chúa, những cách thức sống đạo mới hơn, cao hơn, thực tế hơn, bớt hình thức mà đi vào chiều sâu hơn, thì ta sẽ thấy mình dần dần tiến cao hơn, và dễ dàng sống thánh thiện, vị tha, hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân hơn. Nếu cá nhân cần phải loại trừ tính tự mãn mới tiến bộ được, thì các tập thể, kể cả quốc gia, tôn giáo, cũng phải như vậy.



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, tâm hồn con nặng trĩu những âu lo, phiền muộn, chỉ vì con đã đặt nặng «cái tôi» của mình nhiều quá. «Cái tôi» của con đã chiếm hết không gian tâm thức của con, và gây ra biết bao xáo trộn, xung đột với tha nhân, với lương tâm, với bổn phận, tạo nên bao phiền muộn, lo lắng, sợ hãi… Cái ách của «cái tôi» thật nặng nề. Xin cho con biết mang lấy ách nhẹ nhàng của Đức Giêsu, bằng cách «từ bỏ mình», là điều kiện đầu tiên mà Ngài đòi buộc những ai theo Ngài phải thực hiện. Từ xưa đến nay, con chỉ mang danh theo Chúa thôi, chứ thực tế con chưa hề theo Ngài bao giờ, vì con chưa hề «từ bỏ mình». Con vẫn coi «cái tôi» của mình quan trọng quá mức! Ai nói động đến con là con nổi tam bành lên. Xin cho con hiểu rằng điều kiện tiên quyết để theo Chúa là từ bỏ chính «cái tôi» của mình. Nhờ thế, những ai theo Chúa đích thực luôn luôn được bình an, hạnh phúc và tràn đầy sức mạnh.



Share:

TN14a - Tại sao «những người bé mọn» được Thiên Chúa mặc khải những chân lý cao siêu?




CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 14 Thường Niên

(9-7-2017)


Tại sao «những người bé mọn» được Thiên Chúa mặc khải những chân lý cao siêu?



ĐỌC LỜI CHÚA

  Dcr 9,9-10: (9) Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ.

  Rm 8,9.11-13: (13) Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết ; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.

  TIN MỪNG: Mt 11,25-30

Chúa Cha và người Con

(25) Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: «Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. (26) Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. (27) Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.

Hãy mang lấy ách của tôi

(28) «Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (29) Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. (30) Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng».


CHIA SẺ


Câu hỏi gợi ý:
1.       «Những bậc khôn ngoan thông thái» là những ai? «Những người bé mọn» là những ai? «Biết những điều này» là biết những gì?
2.       Tại sao «những người bé mọn» lại được Thiên Chúa mặc khải cho?
3.       «Ách» của Đức Giêsu nghĩa là gì? Tại sao «ách» ấy lại nhẹ nhàng?

Suy tư gợi ý:

1. Giải thích một vài từ ngữ khó hiểu trong bài Tin Mừng

Đức Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì Ngài «đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn». Trong câu Kinh Thánh này, có ba điều ta cần tìm hiểu: 
(a) «Những bậc khôn ngoan thông thái» là những ai?
(b) «Những người bé mọn» là những ai? 
(c) «Biết những điều này» là biết những gì?
a) «Những bậc khôn ngoan thông thái»: Không nên hiểu từ ngữ này theo nghĩa đen. Trong ngữ cảnh bài Tin Mừng này, nó có nghĩa là những người tự cho mình là khôn ngoan thông thái, là hơn người, là vĩ đại, những người thích tự đề cao mình, thích được coi là quan trọng. Nói chung nó ám chỉ những người coi «cái tôi» của mình quá lớn, muốn «cái tôi» của mình là trung tâm của vũ trụ, được mọi người coi trọng, qui phục, muốn ý kiến và ý muốn của mình được mọi người luôn tôn trọng, chấp hành. Từ khuynh hướng «qui kỷ» ấy, họ dễ trở nên coi thường và khinh chê người khác. Nhiều khi tệ hơn nữa, họ muốn đạp trên đầu trên cổ người khác để tiến lên, sẵn sàng bắt người khác phải hy sinh cho mình.

b) «Những người bé mọn»: Từ ngữ này cũng không nên hiểu theo nghĩa đen là những kẻ nghèo, còn nhỏ tuổi, thuộc hạng cùng đinh trong xã hội. Nhiều người tuy nhỏ bé trong xã hội, nhưng lại rất cao ngạo và coi «cái tôi» của mình to lớn không kém gì «những người khôn ngoan thông thái» kể trên. Trong ngữ cảnh bài Tin Mừng này, «những người bé mọn» ám chỉ những người tự coi mình là nhỏ bé, coi «cái tôi» của mình không là gì cả, không đáng kể, không khao khát được mọi người quan tâm hay chú ý tới mình, không coi ý kiến hay ý riêng mình là quan trọng. Đó là những người sống tinh thần tự hủy theo gương Đức Giêsu (x. Pl 2,6-8), biết «lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình, không tìm lợi ích cho riêng mình, mà tìm lợi ích cho người khác» (Pl 2,3-4), sẵn sàng chịu thiệt thòi mất mát vì yêu thương tha nhân.

Muốn biết ta thuộc hạng người nào, hãy xét xem phản ứng của ta thế nào khi ta bị xúc phạm, bị chạm tự ái, bị trái ý. Nếu ta tỏ ra bực bội, tức tối, có phản ứng mạnh, đồng thời cảm thấy đau khổ, muốn trả thù, muốn làm to chuyện, đó là dấu chứng ta thuộc hạng người trước, là hạng coi «cái tôi» của mình quá lớn. Trái lại, nếu ta cảm thấy đó là chuyện bình thường, chuyện nhỏ, không làm mình khó chịu, bực tức hay đau khổ, thì ta thuộc hạng người sau.

c) «Biết những điều này» là biết những gì? Chữ «biết» trong Kinh Thánh thường có nghĩa là cảm nghiệm chứ không chỉ là có kiến thức hay hiểu biết xuông. Người ăn trái táo thì có cảm nghiệm về mùi vị của trái táo, khác với người được học hỏi về trái táo một cách tỉ mỉ, khoa học, nhưng chưa hề được cầm trái táo trong tay mà ăn. «Những điều này» trong ngữ cảnh của bài Tin Mừng hôm nay là những bí nhiệm về Thiên Chúa, về Chân Lý Tối Hậu. «Biết những điều này» là cảm nghiệm về Thiên Chúa, nếm được sự ngọt ngào êm dịu của Thiên Chúa, nhờ đó cảm thấy hạnh phúc, tràn đầy sự sống và sức mạnh của Thiên Chúa.

2. «Những người bé mọn» dễ cảm nghiệm về Thiên Chúa

«Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8). Vì là tình yêu, nên Ngài sẵn sàng tự hủy, hy sinh, phục vụ, quên mình, vì thế, Ngài mới chính là «Người Bé Mọn» tuyệt hảo nhất, là gương mẫu tuyệt vời cho tất cả «những người bé mọn». Vì «những người bé mọn» của Tin Mừng giống Thiên Chúa ở điểm căn bản này là sự yêu thương, nên họ hiểu Ngài và cảm nghiệm được Ngài dễ dàng hơn ai hết theo định luật «đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu». Chính Ngài cũng dễ dàng tỏ mình ra cho hạng người này nhiều hơn ai hết. Các vị thánh được Thiên Chúa tỏ mình ra đều là những người sống tinh thần yêu thương hay tinh thần «bé mọn» hơn ai hết.



3. Tính chất kỳ diệu và nghịch lý của «cái tôi»

«Cái tôi» là một hồng ân cao cả Thiên Chúa ban cho con người. Nó chính là bản thân ta, là cái ta yêu quí nhất trên đời. Nhưng vì chúng ta được tạo dựng nên giống Thiên Chúa là tình yêu, nên «cái tôi» ấy chỉ lớn mạnh, chỉ trưởng thành, chỉ đạt được giá trị hoàn hảo khi nó thật sự yêu thương, nghĩa là trở nên tình yêu như Thiên Chúa. Mà yêu thương chính là ra khỏi bản thân để hướng đến và sống cho một đối tượng khác. Điều đó đòi hỏi ta phải quên mình, từ bỏ mình, hy sinh chính mình, để chỉ lo cho hạnh phúc và lợi ích của đối tượng ta yêu. Vì thế, càng tự coi mình là nhỏ bé, là không quan trọng để coi đối tượng mình yêu thương là quan trọng, là lớn lao, thì càng thực hiện được khả năng yêu thương. Và như thế là thực hiện được chính bản thân mình, là làm cho «cái tôi» của mình trở nên cao cả, vĩ đại.

Do đó, có một nghịch lý kỳ diệu: ta càng quên «cái tôi» của mình đi, càng làm nó nhỏ bé lại, thì nó lại càng trở nên có giá trị và cao cả. Ngược lại, càng quan trọng hóa nó, càng tự đề cao nó, càng làm cho nó phình lớn, thì càng làm cho nó kém giá trị, càng làm nó nhỏ bé đi trước mặt Thiên Chúa và mọi người. Đức Giêsu đã nói lên nghịch lý kỳ diệu này qua câu: «Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt 23,12). Sự nghịch lý này đã được thánh Phanxicô Khó Khăn cảm nghiệm: «Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời» (Kinh Hòa Bình).

Đối với việc cảm nghiệm Thiên Chúa cũng có sự nghịch lý đó. Sự nghịch lý đó được thánh Gioan Tẩy giả nói đến: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30). Nghĩa là muốn Ngài lớn lên ở trong tôi, thì tôi phải nhỏ đi; hay nếu tôi tự làm cho mình nhỏ bé lại thì Ngài sẽ tự động lớn lên trong tôi. Còn nếu tôi làm cho «cái tôi» của mình phình to ra, thì Ngài sẽ tự động nhỏ lại trong tôi. Ngài có lớn lên trong tôi, tôi mới cảm nghiệm được Ngài, mới hiểu được Ngài, mới cảm nhận được những chân lý của Ngài, mới hấp thụ được sự khôn ngoan của Ngài. Đó chính là ý nghĩa của câu: Thiên Chúa «giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn» (Mt 11,25b). Thực ra Thiên Chúa chẳng muốn giấu gì về Ngài, nhưng những kẻ coi «cái tôi» của mình quá lớn đã tự bịt mắt mình lại trước những chân lý hay sự khôn ngoan của Thiên Chúa, để chỉ nhìn thấy những «giả lý» hay sự khôn ngoan của thế gian.



4. «Hãy mang lấy ách của tôi», vì «ách tôi êm ái…»

Khi ta coi «cái tôi» của mình là không quan trọng, là thấp kém, ta sẽ cảm thấy mình có vẻ như bị thiệt thòi, bị mất mát đủ thứ, và như bị quàng vào cổ mình một cái ách. Nhưng ách ấy chính là ách của Đức Giêsu, là thứ ách mà chính Ngài đã mang lấy suốt cuộc đời Ngài. Đã là ách thì khi mang vào tất nhiên sẽ cảm thấy nặng và khó chịu. Nhưng không có ách nào nhẹ nhàng và êm ái cho bằng ách của Ngài.

Thật vậy, khi một người coi nhẹ «cái tôi» của mình, không coi nó là quan trọng, tự nhiên người ấy sẽ thấy cuộc sống trở nên rất nhẹ nhàng: vì không cảm thấy bị chạm tự ái, vì không hề tức tối hay đau khổ khi bị xúc phạm, vì sẵn sàng tha thứ, không chấp chiếm ai. Nhờ thế, cuộc sống giữa mình với tha nhân không còn vấn đề gì đáng mình phải buồn phiền đau khổ.

Thử đưa ra một trường hợp cụ thể. Giả như có ai đó làm thiệt hại hay xúc phạm đến ta, đó là một sự thiệt hại khách quan, không do ta gây ra. Nếu ta coi «cái tôi» của mình là quan trọng, ta sẽ bực tức buồn phiền và tâm ta sẽ đau khổ. Thế là ta đã tự mình làm cho mình đau khổ và thiệt hại thêm. Nếu ta cứ nghĩ đến chuyện bị xúc phạm đó, ta sẽ đau khổ hoài, và rất có thể vì thế ta tự làm cho mình mắc một chứng bệnh nan y nào đó. Như thế, sự thiệt hại do chính ta tự gây ra cho mình do sự bực tức còn lớn hơn sự thiệt hại ban đầu do người khác gây cho ta. 

Nhưng nếu ta không coi «cái tôi» của mình là quan trọng, ta sẽ tha thứ ngay cho người xúc phạm hay làm ta thiệt hại, rồi quên ngay đi. Như thế ta chỉ bị sự thiệt hại ban đầu do người khác gây ra mà thôi. Điều đó khó mà tránh được trong cuộc sống chung với mọi người. Nếu ta coi thật nhẹ «cái tôi», ta sẽ thấy sự xúc phạm hay thiệt hại chẳng đáng kể, tâm hồn ta lập tức được bình an, nhẹ nhàng, vui tươi. Như thế chẳng phải ta đã hành động một cách khôn ngoan hơn rất nhiều sao?

Cách sau chính là cách của Đức Giêsu, là «mang lấy ách» của Ngài. Ách đó là ách êm ái và nhẹ nhàng nhất mà người khôn ngoan tất nhiên sẽ chọn khi đứng trước hai thứ ách: ách của Ngài và ách của chính mình. Không có ách nào làm ta mệt mỏi và nặng nề cho bằng cái ách do chính «cái tôi phình to» của mình tạo ra, nó chính là nguồn gốc phát sinh nên muôn vàn tội lỗi và đau khổ ở trần gian này. Vì thế, Đức Giêsu khuyên ta: «Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề (vì “cái tôi” của mình), hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi (là cái ách của tình yêu, không có “cái tôi” nặng nề trong ấy), và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (nghĩa là tính coi nhẹ “cái tôi” của mình). Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng».



CẦU NGUYỆN

Lạy Cha là Tình Yêu, xin cho con trở nên tình yêu giống như Cha, để con trở nên hình ảnh trung thực của Cha. Để được như thế, xin cho con biết coi nhẹ «cái tôi» của con, nhờ đó đời sống con trở nên nhẹ nhàng, tốt đẹp và hạnh phúc hơn bội phần. Amen.         


Share: